Những phương tiện thiết bị dạy học này được sử dụng rất rộng rãi trong dạy học sinh học DHSH, chúng đáp ứng được việc diễn tả các loại kiến thức khác nhau: cấu tạo, hình thái, cơ chế quá
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI
TỔ BỘ MÔN SINH HỌC - KHOA TỰ NHIÊN
- -
Chuyên đề:
SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỰC HÀNH
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG
THCS
3
I PHÂN BIỆT CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN SINH HỌC 3
II CÁCH BẢO QUẢN VÀ XÂY DỰNG THIẾT BỊ DẠY HỌC 4
III ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC 5
IV CÁC PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC (PTDH) VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC TÍCH CỰC
I VAI TRÒ CỦA DẠY HỌC THỰC HÀNH ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG THCS 11
II THỰC TRẠNG DẠY HỌC THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM MÔN SINH HỌC Ở THCS
VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN THỰC TRẠNG
11
III NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT ĐỂ DẠY THỰC HÀNH SINH HỌC CÓ HIỆU
QUẢ
13
B MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH MÔN SINH Ở TRƯỜNG THCS 15
BÀI 1 KÍNH HIỂN VI KHẢO SÁT TẾ BÀO THỰC VẬT 15
BÀI 2 SỰ QUANG HỢP 22
BÀI 5: QUAN SÁT CẤU TẠO TRONG CỦA ẾCH ĐỒNG TRÊN MẪU MỔ 34
BÀI 6 QUAN SÁT BỘ XƯƠNG, MẪU MỔ CHIM BỒ CÂU 39
BÀI 7 TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA ENZIM TRONG NƯỚC BỌT 43
BÀI 8 QUAN SÁT HÌNH THÁI NHIỄM SẮC THỂ, SỰ PHÂN BÀO NGUYÊN NHIỄM 48
BÀI 9 THỰC HÀNH: TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3PHẦN I SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tổng số tiết: 10 ( Lý thuyết: 5 tiết, Thực hành: 5 tiết)
A LÝ THUYẾT:
I PHÂN BIỆT CÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN SINH HỌC
1 Các mẫu vật tự nhiên
a Các loại mẫu vật sống
- Các mẫu vật sống: Là những cây lấy từ vườn trường, ngoài đồng ruộng, ngoài
tự nhiên (cây dại, cây hoa, cây ăn quả) Các động vật nuôi trong bể, trong chuồng (cá,
gà, thỏ, sâu bọ…)
b Các loại mẫu vật đã được gia công
- Thực vật: Mẫu cây và cơ quan của thực vật dùng cho học sinh quan sát (mẫu ép)
- Động vật: Có các bộ sưu tập sâu bọ, các đại diện tiêu biểu cho động vật không xương sống, các mẫu ngâm, các mẫu nhồi và bộ xương của các động vật có xương sống thuộc các nhóm khác nhau
- Cơ thể người và vệ sinh: Bộ xương người bằng thạch cao và từng bộ phận, cũng như các mẫu ngâm các cơ quan (Tim, não, mắt…… )
2 Các phương tiện dạy học tượng hình
a Tranh vẽ, sơ đồ, đồ thị, biểu bảng
Đây là những phương tiện, thiết bị dạy học dễ sử dụng, dễ bảo quản, rẻ tiền và phù hợp với tất cả các trường trong nước Những phương tiện thiết bị dạy học này được
sử dụng rất rộng rãi trong dạy học sinh học (DHSH), chúng đáp ứng được việc diễn tả các loại kiến thức khác nhau: cấu tạo, hình thái, cơ chế quá trình Sinh học….Trong đó, tranh vẽ, sơ đồ cho phép mô tả sinh vật, hiện tượng sống ở những mức độ phức tạp khác nhau phù hợp với học sinh từng cấp, từng lớp học
Các loại phương tiện thiết bị dạy học được trang bị từ 2 nguồn:
- Do cơ quan chuyên trách của Bộ GD – ĐT sản xuất và phát hành
- Do giáo viên và học sinh tự làm
b Mô hình
Đó là những mô hình không gian về cấu trúc, hình thái, giải phẫu các cơ quan bộ phận cơ thể, các quá trình Sinh học (Nguyên phân, giảm phân, thụ tinh, sinh tổng hợp protêin …)
Trang 4Đặc biệt là những mô hình động rất có ý nghĩa trong việc giảng dạy các quá trình Sinh học: Như mô hình phân tử ADN, phân bào, phiên mã, dịch mã
c Phim, đĩa mềm, bản trong
- Phim giáo khoa là một loại phương tiện thiết bị dạy học khá phổ biến trong dạy học Sinh học ở các trường phổ thông cơ sở
- Phim đèn chiếu, phim video cũng đã được sử dụng khá phổ biến trong các trường phổ thông ở các thành phố, thị xã
- Việc sử dụng máy vi tính trong dạy học Sinh học cũng đã được sử dụng ở một
số trường phổ thông Trên máy vi tính giáo viên có thể biểu diễn các cơ chế, quá trình sinh lí, sinh hoá, mô tả các chi tiết, bộ phận cấu tạo của cơ thể sinh vật Đặc biệt sử dụng máy vi tính rất có hiệu quả đối với việc tổ chức cho học sinh tự học, tự kiểm tra kiến thức của mình
- Máy chiếu overhead và hình vẽ trên bản trong cũng đang được sử dụng khá rông rãi ở các trường phổ thông Việt Nam Loại này dễ sử dụng, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều thông tin trong cùng một thời gian Sử dụng máy chiếu overhead, giáo viên có thể linh hoạt trong việc bổ sung, cải tiến sơ đồ, hình vẽ Nếu biết kết hợp sử dụng hình vẽ trên bản trong với trang in sẵn hoặc với mô hình, giáo viên sẽ thực hiện được giờ dạy có chất lượng
d Dụng cụ quang học
- Kính hiển vi, kính lúp là dụng cụ quang học có tác dụng giúp học sinh nhận xét các đối tượng sống có kích thước nhỏ và cực nhỏ Trong trường hợp không có đủ kính hiển vi, có thể cải tiến kính hiển vi thành máy chiếu phóng to hình ảnh tiêu bản trên trên màn hình để cả lớp có thể quan sát được
e Ngoài các phương tiện thiết bị dạy học nêu trên
Các trường cần phải có các dụng cụ như đồ mổ, đồ thuỷ tinh, đồ điện, các dụng
cụ phục vụ tham quan: vợt, cuốc, xẻng, cặp giấy, ống nhòm …
II CÁCH BẢO QUẢN VÀ XÂY DỰNG THIẾT BỊ DẠY HỌC:
1 Các phương tiện trực quan khô, giòn (cả các mẫu sưu tập sâu bọ, cây hiếm……) cần phải bỏ vào hộp kính hay túi nilon
2 Các dụng cụ quang học không được để nơi ẩm hoặc gần các chai lọ đựng axít, nhất là các vật kính, thị kính, dùng xong phải lau khô, để nơi khô ráo và luôn luôn chống
ẩm, chống mốc
3 Các tranh cần được chống ẩm, mốc và sâu bọ, có nẹp treo trong tủ
4 Giáo viên và học sinh tự vẽ tranh, làm các dụng cụ rẻ tiền như: mô hình lồng ngực, các mẫu cây, sưu tập động vật, các mẫu ngâm cơ quan động vật… để sử dụng trong học tập Các phương tiện dạy học do thầy và trò tự làm cần được bảo quản tốt để
sử dụng lâu dài
Trang 5III ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC
1.Lựa chọn TBDH:
Căn cứ vào mục tiêu dạy học, nội dung kiến thức trong SGK, căn cứ vào điều kiện thời gian cho phép, căn cứ vào điều kiện địa phương (cơ sở vật chất của nhà trường) và đặc biệt phải căn cứ vào chính loại thiết bị định chọn:
- Tranh vẽ: ưu điểm là dễ sử dụng thuận tiên; nhược điểm là không mô tả được quá trình Sinh học…
- Mô hình: ưu điểm là giúp học sinh hình dung cụ thể các đối tượng nghiên cứu; nhược điểm là không thể hiện được tính chất sống của sinh vật, đôi khi không phản ánh đúng kích thước vật thật …
- Thí nghiệm: ưu điểm là giúp học sinh tư duy của nhà nghiên cứu, củng cố và khắc sâu kiến thức; nhược điểm là đòi hỏi phải chuẩn bị công phu, đôi khi mất nhiều thời gian mới có kết quả…
- Vật thật: ưu điểm là cung cấp thông tin chính xác về đối tượng nghiên cứu; nhược điểm là đòi hỏi phải chuẩn bị công phu, có khi không để lâu được …
- TBDH tự làm: ưu điểm là phù hợp với bài lên lớp của giáo viên; nhược điểm là đòi hỏi phải chuẩn bị công phu mà giáo viên không được trả thù lao vật chất…
- Cách sử dụng:
* Bước 1:
GV giới thiệu tên tranh, nêu rõ mục tiêu của việc quan sát tranh, nêu yêu cầu đối với học sinh (ra câu hỏi cho học sinh làm việc; làm sao để học sinh biết rõ họ phải làm gì? Họ phải làm như thế nào? …)
Trang 6* Bước 2:
Khai thác nội dung bức tranh Đầu tiên nên yêu cầu HS mô tả bức tranh (nên có câu hỏi định hướng cho HS mô tả, hoặc cho trước một số từ hay tập hợp từ để HS mô tả theo đúng ý đồ của GV) Sau đó nhấn mạnh vào nội dung nào trên bức tranh thì có câu hỏi tập trung chú ý của học sinh vào đó
* Bước 3:
Rút ra kết luận từ việc quan sát tranh
Chú ý: Các loại tranh vẽ dùng trong dạy học Sinh học khác nhau thì cách sử dụng khác nhau tranh phân tích, tranh câm, tranh sơ đồ…
2 Sử dụng mô hình
- Nguyên tắc: Đảm bảo các nguyên tắc dạy học, phù hợp với nội dung kiến thức,
mô hình được dưa ra đúng lúc, đúng cách; mô hình được đặt ở vị trí thuận lợi cho cả lớp quan sát
- Cách sử dụng:
* Bước 1: GV giới thiệu tên mô hình, nêu rõ mục tiêu của việc quan sát hay thao tác
với mô hình
* Bước 2: Khai thác nội dung mô hình Đầu tiên nên yêu cầu học sinh quan sát kĩ mô
hình (ra câu hỏi cho học sinh làm việc; làm sao để học sinh biết rõ họ phải làm gì? Họ phải làm như thế nào …) nên có câu hỏi định hướng cho HS mô tả, hoặc thao tác với
mô hình) Sau đó nhấn mạnh vào nội dung nào trên mô hình cần quan tâm để có câu hỏi tập trung chú ý của học sinh vào đó Nếu học sinh gặp khó khăn thì có thể gợi ý hay giải thích cấu trúc mô hình; có thể yêu cầu học sinh tháo lắp từng bộ phận của mô hình để quan sát
* Bước 3: Rút ra kết luận từ việc quan sát hay thao tác với mô hình
Chú ý: Các loại mô hình dùng trong dạy học Sinh học chỉ là mô phỏng lại các cấu trúc sinh học nên không hoàn toàn tuyệt đối đúng với kích thước thật, khi dạy học GV cần chỉ rõ để HS không hiểu sai kiến thức sinh học
Chú ý : Không để ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào gương
* Bước 2: Đưa tiêu bản lên mâm kính
Trang 7Có thể quan sát tiêu bản cố định hay tiêu bản tạm thời Kẹp tiêu bản sao cho vật cần quan sát nằm chính giữa vật kính
* Bước 3: Quan sát tiêu bản
Mắt nhìn vật kính từ một phía của kính hiển vi, tay phải từ từ vặn ốc chỉnh thô theo kim đồng hồ (chỉnh xuống) cho tới khi gần sát tiêu bản (không được chạm tiêu bản) Mắt nhìn thị kính, tay phải từ từ vặn ốc theo chiều ngược lại (chỉnh lên) cho tới khi nhìn rõ vật thì dừng lại Để quan sát rõ hơn, có thể dùng núm tinh chỉnh khi nào thấy vật
rõ nhất thì dừng lại Nếu muốn phóng to vật cần quan sát thì vặn ốc chỉnh thô theo chiều ngược kim đồng hồ (chỉnh lên) cách mẫu vật khoảng 4 cm, xoay đĩa quay các vật kính đến độ phóng đại lớn và vào khớp là được Sau đó tiến hành chỉnh thô và tinh chỉnh như trên để quan sát mẫu
* Bước 4: Vệ sinh kính
Sau khi quan sát xong, không dùng kính nữa thì phải bỏ mẫu vật ra, lau kính bằng vải mềm, xoay ốc chỉnh thô về vị trí ban đầu Kính hiển vi nên được để trong hộp
gỗ hoặc bao bằng túi ni lông và bao quản ở nơi khô mát, tránh nơi có hơi axit hay kiềm
+ Kỹ năng quan sát, nhận biết, gọi tên các thông tin trên tiêu bản
+ Kỹ năng vẽ hình, mô tả trên cơ sở những thông tin quan sát được
+ Kỹ năng sử dụng các dụng cụ thuỷ tinh và hoá chất: phải chú ý an toàn, không
để đổ vỡ, cháy nổ….(phải có phương án xử lý kịp thời khi xảy ra sự cố)
- Sử dụng hoá chất
+ Khi làm việc với axit:
Phải làm việc trong tủ hút bất cứ khi nào đun nóng axit hoặc thực hiện phản ứng với các hơi axit tự do
Khi pha loãng, luôn phải cho axit vào nước trừ phi được dùng trực tiếp
Giữ để axit không bắn vào da hoặc mắt bằng cách đeo khẩu trang, găng tay và kính bảo vệ mắt Nếu làm văng lên da, lập tức rửa ngay bằng một lượng nước lớn Luôn phải đọc kỹ nhãn của chai đựng và tính chất của chúng
H2SO4 : Luôn cho axit vào nước khi pha loãng, sử dụng khẩu trang và găng tay
để tránh phòng khi văng axit
Các axit dạng hơi (HCl) thao tác trong tủ hút và mang găng tay, kính bảo hộ
+ Khi làm việc với kiềm
Kiềm có thể làm cháy da, mắt gây hại nghiêm trọng cho hệ hô hấp
Mang găng tay cao su, khẩu trang khi làm việc với dung dịch kiềm đậm đặc Thao tác trong tủ hút, mang mặt nạ chống độc để phòng ngừa bụi và hơi kiềm Amoniac: là một chất lỏng và khí rất ăn da, mang găng tay cao su, khẩu trang, thiết bị bảo vệ hệ thống hô hấp Hơi amoniac dễ cháy, phản ứng mạnh với chất oxy hoá, halogen, axit mạnh
Amoni hydroxyt: chất lỏng ăn da, tạo hỗn hợp nỏ với nhiều kim loại nặng: Ag,
Pb, Zn và muối của chúng
Trang 8Kim loại Na, K, Li, Ca: phản ứng cực mạnh với nước, ẩm, CO2, halogen, axit mạnh, dẫn xuất clo của hydrocacbon Tạo hơi ăn mòn khi cháy Cần mang dụng cụ bảo
vệ da mắt Chỉ sử dụng cồn khô khi tạo dung dịch natri alcoholate, cho vào từ từ
Oxit canxi rất ăn da, phản ứng cực mạnh với nước, cần bảo vệ da mắt, đường hô hấp do dễ nhiểm bụi oxit
Natri và kali hydroxyt: rất ăn da, phản ứng cực mạnh với nước Các biện pháp an toàn như trên, cho từng viên hoặc ít bột vào nước chứ không được làm ngược lại
+ Hoá chất thí nghiệm
Các hoá chất dùng để phân tích, làm tiêu bản, tiến hành phản ứng, trong phòng thí nghiệm được gọi là hóa chất thí nghiệm Hoá chất có thể ở dạng rắn (Na, MgO, NaOH, KCl, (CH COO) ; lỏng (H2SO4, aceton, ethanon, chloroform, ) hoặc khí (Cl2 , NH3 , N2 , C2H2 )
* Bước 2: GV hướng dẫn HS cách tiến hành TN, phải đảm bảo mỗi HS nhận thức rõ
làm TN như thế nào ? Bằng cách nào ?
* Bước 3: Mô tả kết quả TN HS viết ra (hoặc nói ra) các kết quả mà họ quan sát thấy
quá trình làm TN
+ Giải thích các hiện tượng quan sát được: đây là giai đoạn có nhiều thuận lợi để
tổ chức học sinh học theo phương pháp tích cực GV có thể dùng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo kiểu nêu vấn đề giúp HS tự giải thích các kết quả
+ Rút ra kết luận cần thiết: GV yêu cầu HS căn cứ vào mục tiêu ban đầu trước
khi làm TN để đánh giá công việc đã làm
- Kiểm tra đánh giá, viết bài thu hoạch:
Chú ý : Các thí nghiệm sinh học có thể là thí nghiệm định tính hay định lượng Các thí nghiệm định tính thì không nên quá tiết kiệm nguyên liệu, sẽ khó quan sát kết quả Các thí nghiệm định lượng thì cần chính xác hàm lượng các chất làm thí nghiệm mới có kết quả Để có kết quả thí nghiệm rõ, trong qúa trình tiến hành thí nghiệm cần chú trọng từng thao tác, nhiều khi chỉ sai sót trong một khâu là kết quả thí nghiệm đã không như mong muốn
Trang 9B THỰC HÀNH
BẠN HÃY ĐỌC DANH MỤC THIẾT BỊ DẠY HỌC SINH HỌC LỚP 6, 7, 8, 9 VÀ
THỰC HIỆN CÁC CÔNG VIỆC SAU:
1 Liệt kê các tranh vẽ: Tên tranh, dùng cho bài nào? Cách sử dụng
2 Các mô hình: Tên mô hình, dùng cho bài nào? Cách sử dụng
3 Các mẫu vật : Các loại mẫu vật dùng cho từng bài ở chương trình Sinh học THCS
3 Các thí nghiệm thực hành: Tên thí nghiệm, dụng cụ - hoá chất cần dùng, tiến trình
- Nhận biết được các loại thí nghiệm Sinh học
- Trình bày được nguyên tác cơ bản và quy trình chung trong việc tiến hành thí nghiệm Sinh học
- Hiểu được các thiết bị theo danh mục
- Phân loại thí nghiệm
2.Mô hình Trình bày được:
- Cấu tạo các mô hình của môn Sinh họcTHCS
- Cách tháo, lắp mô hình
- Những chú ý khi sử dụng, sắp xếp bảo quản
mô hình
- Chú ý cách tháo lắp, bảo quản mô hình
3 Mẫu vật Trình bày được:
- Các loại mẫu vật của môn Sinh học THCS
- Sử dụng mẫu vật khi sử dụng với kính hiển
4.Dụng cụ Trình bày được:
- Các loại dụng cụ thí nghiệm của môn Sinh
- Chú ý cách bảo quản kính hiển vi, dụng cụ kim loại,
Trang 105.Hoá chất Trình bày được:
- Các loại hoá chất phục vụ thí nghiệm môn Sinh học THCS
- Sử dụng, tháo lắp các loại dụng cụ theo bài thí nghiệm
- Sử dụng các loại hoá chất khác
- Chú ý khi sử dụng, sắp xếp, bảo quản các loại hoá chất
- Chú ý cách bảo quản hoá chất dễ bay hơi, dễ phân huỷ, hoá chất độc hại
bộ môn
Trang 11PHẦN II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM
SINH HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tổng số tiết: 20 ( Lý thuyết: 5 tiết, Thực hành: 15 tiết)
A GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM MÔN SINH HỌC
I VAI TRÒ CỦA DẠY HỌC THỰC HÀNH ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG THCS
Quan sát và thí nghiệm là các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên, của các môn khoa học thực nghiệm, trong đó có sinh học Sinh học là một khoa học đã và sẽ không thể phát triển được nếu không có quan sát, thí nghiệm
Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phương pháp làm việc của học sinh (HS), nhưng với HS những bài tập quan sát hoặc các thí nghiệm được giáo viên (GV) trình bày hay do chính các em tiến hành một cách độc lập (thực hành quan sát, thí nghiệm của HS) dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV thường để giải quyết những vấn đề đã biết trong khoa học, rút
ra những kết luận cũng đã biết tuy vậy đối với các em HS vẫn là mới
Thông qua thí nghiệm, bằng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái niệm Bằng cách đó các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho tư duy phát triển
Nâng cao chất lượng các tiết thực hành ở chương trình Sinh học THCS, giáo viên cần phải chuẩn bị chu đáo cho các tiết thực hành, kết hợp linh hoạt các phương pháp thực hành và yêu cầu học sinh có thái độ nghiêm túc trong quá trình chuẩn bị đồ dùng
và thực hành Từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về môn Sinh học, yêu thích bộ môn và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Thực hành thí nghiệm không chỉ cho phép HS lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, vững chắc mà còn tạo cho các em một động lực bên trong, thúc đẩy các em thêm hăng say học tập
Sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong tiết dạy đã tạo ra môi trường học tập sinh động, sôi nổi, mỗi học sinh cùng xây dựng nhận thức qua quan sát thực tế
Nó thúc đẩy học sinh linh hoạt, sáng tạo trong việc khám phá cái mới, biểu lộ khả năng tích cực của trí tuệ và sự hiểu biết của học sinh
Những phân tích trên đây không chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của thí nghiệm thực hành mà còn nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành đó để có thể đạt được hiệu quả cao đáp ứng mục tiêu dạy học hiện nay của sự nghiệp giáo dục
II THỰC TRẠNG DẠY HỌC THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM MÔN SINH HỌC Ở THCS VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI TIẾN THỰC TRẠNG
Hiện nay số lượng và chất lượng thí nghiệm thực hành sinh học chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học nói chung và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học
Trang 12nói riêng Tình trạng đó có thể có nhiều nguyên nhân, phần vì kinh phí cho khu vực này còn hạn hẹp tuy đã có nhiều cố gắng, phần vì trách nhiệm của nhà sản xuất (còn mà không dùng được, dùng được thì cũng chóng hỏng), phần vì thiếu một sự quản lí chỉ đạo, động viên những người tốt, việc tốt trong sử dụng và cải tiến sáng tạo thí nghiệm thực hành sinh học hiện có, phần còn do giáo viên không nhiệt tình trong công tác giảng dạy Như đã phân tích, hiệu quả dạy học còn tùy thuộc vào phương pháp sử dụng các thí nghiệm thực hành Nếu một bức tranh, một thí nghiệm chỉ được sử dụng để minh họa và củng cố những điều GV đã trình bày đầy đủ về phương diện lý thuyết sẽ hạn chế tư duy sáng tạo của HS, HS hầu như không thu lượm được thêm gì về kiến thức, nếu không phải chỉ để rèn luyện kĩ năng quan sát, thí nghiệm
Nhưng nếu được sử dụng theo con đường tìm tòi nghiên cứu (khám phá) để đi đến kiến thức cần lĩnh hội (kiến thức mới) sẽ có ý nghĩa khác biệt cơ bản so với loại hình thí nghiệm nêu trên, nó giúp HS có điều kiện, cơ hội phát triển tư duy sáng tạo – một phẩm chất và năng lực cần có ở con người mới mà nhà trường có trách nhiệm đào tạo
Đi theo con đường này, sau khi đã hiểu được nhiệm vụ cần làm sáng tỏ (mục đích của thí nghiệm) bằng tư duy tích cực, HS sẽ hình thành được các giả định (trong nghiên cứu khoa học đây chính là bước xây dựng giả thuyết về vấn đề nghiên cứu từ sự nảy sinh câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu…?”) Câu hỏi được hình thành từ những liên tưởng dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có của HS
Khi giả định được hình thành, trong đó hàm chứa con đường phải giải quyết, HS xây dựng kế hoạch giải quyết để chứng minh cho giả định đã nêu Hai bước nêu giả định
và xây dựng kế hoạch giải quyết chứng minh cho giả định là hai bước đòi hỏi tư duy tích cực và sáng tạo Đây là những cơ hội rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS rất tốt, là giai đoạn tiến hành thí nghiệm tưởng tượng (“thí nghiệm trong tư duy”) định hướng cho hành động thí nghiệm tiếp theo dựa trên kế hoạch đã được HS thiết kế (kế hoạch dự kiến) Cuối cùng, căn cứ vào kết quả của thí nghiệm, HS rút ra kết luận, nghĩa là HS lĩnh hội được kiến thức từ thí nghiệm một cách chủ động (mà không phải do thầy truyền đạt
và HS tiếp thu một cách thụ động)
Hiện nay hầu hết các bài thực hành thí nghiệm sinh học ở THCS trong chương trình và SGK được bố trí ở cuối mỗi chương chỉ mang tính chất củng cố minh họa cho các kiến thức lý thuyết đã được trình bày trong các bài học của chương trình dưới hình thức phần lớn là “bày sẵn” từng bước cho HS Hơn nữa số tiết thực hành quy định trong chương trình và SGK cũng còn rất hạn chế Rồi đây, chắc chắn số tiết này có thể sẽ được nâng lên cho phù hợp với xu thế chung của giáo dục thế giới và tương ứng với tính chất của các môn khoa học thực nghiệm
Trước mắt trong khi chờ đợi, đòi hỏi lòng nhiệt tâm vì sự nghiệp giáo dục của các thầy cô đang tiến hành các bài thực hành hiện có theo phương thức mới ở những nội dung phù hợp và cũng có thể bổ sung thêm các thí nghiệm thực hành sinh học vào các tiết dạy khi có thể và có điều kiện thích hợp
Trang 13III NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT ĐỂ DẠY THỰC HÀNH SINH HỌC CÓ HIỆU QUẢ
Dạy thực hành, mục đích chính là rèn các kỹ năng thao tác chân tay, các đức tính kiên nhẫn, biết chấp nhận thử thách và tự tìm cách vượt qua các thách thức để đạt được mục tiêu của mình Vì vậy học sinh phải tự mình làm thí nghiệm cho dù các thao tác ban đầu còn vụng về và có thể thất bại Như vậy, nếu quan niệm thực hành chỉ là minh họa, trình diễn để học sinh xem thì việc tổ chức cho cả lớp học sinh vào một phòng thí nghiệm làm cùng lúc là được nhưng học sinh không thể hình thành được kỹ năng cũng như rèn luyện được những đức tính cần thiết của người làm khoa học Còn nếu để học sinh tự làm thì lại phải chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (tối đa khoảng 10 em) thì các em mới có thể tự làm thí nghiệm được và học sinh chỉ hình thành được kỹ năng khi được làm đi làm lại nhiều lần một kỹ năng nhất định
Một quan niệm không đúng về dạy thực hành là giáo viên thường không đưa ra
các tình huống khác thường để dạy học sinh cách phân tích rút ra các kết luận phù hợp
cũng như không biết cách tìm ra nguyên nhân khi thí nghiệm không ủng hộ giả thiết ban
đầu Có thể lấy ví dụ cụ thể: Khi làm bài thực hành chứng minh ảnh hưởng của ánh sáng lên quá trình quang hợp ở cây thủy sinh là rong đuôi chó Trong bài học này ngoài thí nghiệm trên, giáo viên có thể tạo ra tình huống trong đó cùng một cây rong đuôi chó ở thí nghiệm trước tạo ra rất nhiều O2 thì trong thí nghiệm khác lại không nhả ra một bọt khí O2 nào cho dù có cho đèn vào gần hơn hoặc công suất bóng đèn tăng lên nhiều lần Học sinh được yêu cầu phải tìm ra nguyên nhân (đưa ra giả thuyết) và làm thí nghiệm
ủng hộ giả thuyết của mình là đúng Như vậy mục đích cốt lõi của dạy thực hành là rèn
các kỹ năng khéo léo trong các thao tác tay chân, các kỹ năng bố trí thí nghiệm, thu thập kết quả, giải thích kết quả thực nghiệm, lý giải đưa ra các giả thuyết và tự tiến hành các thí nghiệm ủng hộ hay bác bỏ giả thuyết của mình chứ không đơn thuần là minh họa cho các bài lý thuyết
Như vậy dạy thực hành phát triển các kỹ năng tổng hợp và do vậy tất cả các học sinh cần được dạy thực hành
Qui trình cho một bài thí nghiệm có thể gồm các bước như sau:
- Chuẩn bị thí nghiệm: GV phải có kế hoạch đảm bảo chuẩn bị đầy đủ dụng cụ,
hóa chất, mẫu vật và các điều kiện cần thiết khác để thí nghiệm thành công Có thể giao cho HS chuẩn bị nhưng phải kiểm tra
- Phổ biến nội qui an toàn phòng thí nghiệm: Ngay khi bắt đầu một bài thực hành,
giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh về qui tắc an toàn trong phòng thí nghiệm Điều này là hết sức cần thiết và phải làm ngay mỗi lần học sinh vào phòng thí nghiệm Bên cạnh đó cũng cần phổ biến cách cấp cứu trong những trường hợp cần thiết như bỏng hóa chất, băng bó khi bị thương vv…
- Bước 1: GV nêu mục tiêu thí nghiệm (hoặc hướng dẫn học sinh phát biểu mục tiêu thực hành), phải đảm bảo mỗi HS nhận thức rõ mục tiêu làm thí nghiệm để làm gì?
- Bước 2: GV hướng dẫn HS cách tiến hành thí nghiệm, phải đảm bảo mỗi HS nhận thức rõ làm thí nghiệm như thế nào? Bằng cách nào?
Giáo viên giới thiệu qui trình thí nghiệm: Học sinh có thể tự đọc qui trình thí
nghiệm (nếu có sẵn trong bài thực hành) hoặc giáo viên giới thiệu cho học sinh Sau đó
Trang 14học sinh tự kiểm tra các loại hóa chất thiết bị, mẫu vật xem có đáp ứng được với yêu cầu bài thực hành hay không
Tiến hành thí nghiệm: Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo qui trình đã cho để thu
thập số liệu
- Bước 3: Mô tả kết quả thí nghiệm HS viết ra (hoặc nói ra) các kết quả mà họ quan sát thấy trong quá trình làm thí nghiệm
Xử lý số liệu thực nghiệm: Học sinh xử lý số liệu và viết báo cáo thí nghiệm nộp
cho giáo viên Cuối buổi giáo viên có thể đưa ra các tình huống khác với thí nghiệm để học sinh suy ngẫm và tìm cách lý giải Phần này GV có thể tham khảo sách Sinh học của
Campbell & Reece ở mục “Điều gì nếu?” sau mỗi thí nghiệm mà sách đưa ra
- Giải thích các hiện tượng quan sát được: đây là giai đoạn có nhiều thuận lợi để
tổ chức HS học theo phương pháp tích cực GV có thể dùng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo kiểu nêu vấn đề giúp HS tự giải thích các kết quả
- Rút ra kết luận cần thiết: GV yêu cầu HS căn cứ vào mục tiêu ban đầu trước khi làm thí nghiệm để đánh giá công việc đã làm
* Phương pháp tổ chức
Trong giờ thực hành học sinh phải thực hiện những công việc cơ bản, giáo viên chỉ hướng dẫn và làm mẫu, học sinh có được trực tiếp làm việc thì mới đảm bảo mục tiêu là học sinh được tự mình tìm tòi, phát hiện kiến thức trên sản phẩm thực hành, trên
cơ sở đó giúp học sinh phát huy tính tích cực, tư duy, tự lực, chủ động học sinh tìm ra kiến thức, từ đó hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy tư duy tích cực cho học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh yêu thích bộ môn
* Phương pháp đánh giá
- Giáo viên có thể đánh giá dưới nhiều hình thức khác nhau: mức độ hoàn thành bài thực hành, ý thức thực hành của học sinh và kết quả bài thu hoạch Phần đánh giá cần tỉ mỉ cụ thể cho từng học sinh để từ đó các em tìm ra ưu điểm và nhược điểm, có biện pháp khắc phục các nhược điểm đó nhằm nâng cao chất lượng các bài thực hành Sinh học
- Việc tổng kết đánh giá công việc của học sinh hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng khi tự mình làm việc và học sinh cần được đánh giá nhìn nhận đầy đủ khách quan tạo hứng thú trong quá trình tiếp thu kiến thức Vậy mà hiện nay các sản phẩm hoạt động thực hành của học sinh ít được kiểm tra đánh giá, phần nhiều vì lý do thời gian Đa số các giáo viên chỉ quan tâm làm thế nào để truyền tải hết kiến thức mà không
để ý đến việc học sinh tiếp thu như thế nào, lĩnh hội được những gì và đã làm được những gì qua tiếp thu kiến thức lý thuyết
Trang 15B MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH MÔN SINH Ở TRƯỜNG THCS
BÀI 1 KÍNH HIỂN VI KHẢO SÁT TẾ BÀO THỰC VẬT
1 Mục tiêu
- Biết được các bộ phận cấu tạo của kính hiển vi Biết cách sử dụng kính hiển vi Thành thạo dần các thao tác khi lên kính và quan sát với các vật kính nhỏ, lớn
- Tập làm tiêu bản tạm thời, đơn giản
- Qua các kỹ thuật tiến hành thí nghiệm sẽ góp phần rèn luyện cho học sinh tác
phong tỉ mỉ, chính xác, gọn gàng và trung thực của người làm công tác khoa học
2 Nội dung
- Tìm hiểu các bộ phận cấu tạo của kính hiển vi, cách sử dụng kính hiển vi
- Quan sát tế bào vảy hành tây, hạt tinh bột (khoai tây, đậu xanh), dòng nguyên sinh
chất (lá rong Elodea), tế bào thịt quả cà chua chín
3 Chuẩn bị
3.1 Chuẩn bị của người học:
- Đọc kĩ phần cấu tạo và cách sử dụng kính hiển vi ở sách giáo khoa
- Xem trước nội dung bài học để biết công việc sẽ phải làm
3.2 Chuẩn bị của phòng thí nghiệm
a, Dụng cụ: Kính hiển vi quang học, kim mũi mác, lưỡi dao cạo mỏng, phiến kính,
lá kính, giấy thấm, đĩa đồng hồ
b, Hóa chất: Nước cất, glicerin, kali iođua
c, Mẫu vật: Củ hành tây, khoai tây, đậu xanh, rong Elodea, tế bào thịt quả cà chua
chín (có thể học sinh tự chuẩn bị)
4 Tiến hành
I SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN KÍNH HIỂN VI
Trang 161.1 Nguyên tắc và cấu tạo
Kính hiển vi là một dụng cụ quang học để quan sát những vật nhỏ bé
mà mắt thường không nhìn thấy được Độ phóng đại của kính hiển vi là tích
số của độ phóng đại vật và thị kính
Một kính hiển vi gồm có hai phần:
Các bộ phận quang học: Thị kính, vật kính, tụ quang, đèn (nguồn
sáng) hay gương
- Vật kính: là phần quan trọng nhất trong hệ thống quang học của
kính hiển vi, nó quyết định khả năng nhìn rõ của kính Bên ngoài mỗi vật kính có khắc độ phóng đại của vật kính và các tính chất khác của vật kính như sau:
+ Vật kính khô: 40/0,65 - 100/0,27/0,5 tương ứng các giá trị của: độ
phóng đại to/ trị số mở/chiều dài giữa thân và ống kính (mm)/độ dày của lamen (mm)/khoảng cách giữa vật kính và lamen (mm)
+ Vật kính dầu: HI 100/125 - 100/0,17 tương ứng với các giá trị của:
độ phóng to/trị số mở/chiều dài thân ống kính (mm)/độ dày của lamen (mm)
- Thị kính: Gắn ở đầu trên của ống kính Thị kính có cấu tạo đơn giản
hơn vật kính, chỉ gồm 2 thấu kính và một cái chắn sáng ở giữa Trên mỗi thị kính đều ghi độ phóng đại của nó Ví dụ: 5, 10, 15
Độ phóng đại của kính hiển vi (ký hiệu L) sẽ bằng độ phóng đại của vật kính (ký hiệu Lv) nhân với độ phóng đại của thị kính (ký hiệu Lt)
b Bao giờ cũng xem mẫu vật ở vật kính nhỏ (10) trước
c Đặt tiêu bản lên bàn kính và kẹp vào thước kẹp tiêu bản, điều chỉnh mẫu vật vào đúng tâm nguồn sáng
d Nhìn dưới kính mang vật (lamen), vặn nhẹ ốc thứ cấp xuống đến khi đầu vật kính 10 sắp sửa chạm lame (hảy ngừng lại khi kính hiển vi có cản
Trang 17ốc vi cấp để chỉnh thấy hình ảnh
Học sinh cần kiên nhẫn, tự điều chỉnh để xem, tránh làm vỡ lame Không tự ý mở tháo kính, bật tắt làm cháy bóng đèn Sau buổi học phải lau kính sạch sẽ, tắt điện, sắp xếp kính hiển vi ngay ngắn
Lưu ý:
* Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng kính hiển vi
- Khi quan sát, cần thường xuyên nhấp nháy ốc vi cấp để thấy được đầy đủ các mặt phẳng khác nhau của vi phẫu
- Ốc vi cấp chuyển động được cả hai chiều, một chiều ít nhất được hai vòng Nếu đang vặn mà thấy bị kẹt cứng thì phải dừng ngay và quay theo chiều ngược lại Tuyệt đối không dùng sức mạnh để vặn tiếp, vì sẽ làm hỏng bộ phận này Trong trường hợp đó, phải dùng ốc thứ cấp để nâng hay
hạ mâm kính cho phù hợp rồi mới điều chỉnh ốc vi cấp cho rõ nét
- Ảnh thấy trong kính hiển vi luôn ngược chiều với vật quan sát Vì vậy, để cho hình ảnh trong kính luôn thuận chiều dễ quan sát thì khi đặt tiêu bản lên mâm kính phải để tiêu bản ngược với chiều muốn quan sát, khi di chuyển tiêu bản trên mâm kính cũng phải di chuyển theo chiều ngược chiều với chiều mình mong muốn
- Nên mở cả hai mắt khi quan sát (kể cả dùng kính 1 mắt) Mắt trái nhìn vào kính, mắt phải nhìn vào giấy vẽ đặt bên phải kính (ngược lại nếu thuận tay trái) Như thế ta có thể vừa quan sát vừa vẽ mà không cần di chuyển thân mình Không nên nhắm một mắt vì nhìn lâu sẽ mỏi
- Người ta qui ước chia vị trí trên kính trường như trên mặt đồng hồ (cũng từ 1-12 giờ) để dễ dàng trao đổi ý kiến với nhau
Trang 18Dùng dao cạo rạch một ô vuông độ 1/2cm/cạnh, ở mặt trong vảy hành
củ hành còn tươi Dùng kim mũi giáo, lột nhẹ một lớp mỏng biểu bì rồi cho vào vài giọt nước sẵn trên lamen Đậy lamelle bằng cách nghiêng 450, hạ từ
để thấy rõ hơn các vân tăng trưởng và tâm
Màng TB
Tế bào chất
Hình 1.1 Tế bào vảy hành dưới kính hiển vi
Nhân TB
Trang 19chuyển động này được quan sát rõ ở lá rong đuôi chó Elodea
Thực hành
Đặt một lá rong đuôi chó Elodea đã được phơi nắng đặt trong một giọt
nước trên lame Quan sát dưới kính hiển vi, tìm các tế bào có chứa rất nhiều hạt màu xanh lục, hình bầu dục, đang tạo thành một dòng chuyển động chậm
Hình 1.3 Dòng nguyên sinh chất trong lá rong đuôi chó Elodea
Trang 20- Lấy một lame kính đã nhỏ sẵn giọt nước, đưa đầu kim mũi mác vào sao cho các tế bào cà chua tan đều trong giọt nước rồi nhẹ nhàng đậy lamen lại Tiến hành quan sát trên kính hiển vi như trên
- Chọn tế bào xem rõ nhất, vẽ hình
5 Thu hoạch:
GV hướng dẫn học sinh viết bản tường trình:
- Chú thích đầy đủ các bộ phận của kính hiển vi theo hình vẽ
- Vẽ hình một tế bào biểu bì củ hành trong Iod ở số bội giác lớn
- Vẽ hình hạt tinh bột khoai tây, đậu xanh
- Vẽ hình chuyển động của lục lạp của vài tế bào kế cận nhau
- Vẽ hình tế bào thịt quả cà chua
Hình 1.4 Tế bào thịt quả cà chua chín dưới kính hiển vi
Trang 21Hình 1.5 Kính hiển vi một mắt Hình 1.6 Kính hiển vi hai mắt
Trang 22- Giải thích được một vài hiện tượng thực tế như: vì sao phải trồng cây ở nơi có đủ ánh
sáng? Vì sao nên thả thêm rong vào bể nuôi cá cảnh?
2 Nội dụng
- Làm thí nghiệm chứng minh sự tạo thành tinh bột trong quang hợp
- Làm thí nghiệm chứng minh sự thải oxy trong quá trình quang hợp
3 Chuẩn bị:
3.1 Chuẩn bị của học sinh
- Xem kĩ phần lý thuyết những nội dung liên quan
3.2 Chuẩn bị của phòng thí nghiệm
a, Dụng cụ: Giấy thấm, đèn cồn, diêm, băng keo, kẹp, bình hút ẩm, ống nghiệm,
phễu, cốc thủy tinh, đĩa petri
b, Hóa chất: cồn 700, Lugol
c, Mẫu vật: 3 loại lá cây tươi đang trên cành, rong đuôi chó
4 Tiến hành
GV: Đặt vấn đề: Nhà bác học người Nga vỹ đại M V Lômônosôp (1711 –
1765), trong luận văn của mình về “những hiện tượng không khí” đã kết luận rằng: cây cối nhờ sự giúp đỡ của lá và cây xanh dựng nên cơ thể của mình từ không khí, khí quyển bao quanh nó…
Phải chăng cây xanh có khả năng hấp thụ, chuyển hoá năng lượng Quá trình này diễn ra như thế nào?
Thí nghiệm 1 Sự tạo thành tinh bột trong quang hợp
Trang 23- Trước khi cho HS làm thí nghiệm 1, GV có thể biểu diển cách thử tinh bột, để học sinh thấy được sự chuyển màu của tinh bột khi nhỏ dung dịch iốt vào
- GV đặt vấn đề cho HS là chúng ta tìm hiểu thí nghiệm 1 để xác định lá cây chế tạo được chất gì trong điều kiện nào?
- Mỗi HS tìm thông tin bằng cách đọc phần mô tả thí nghiệm 1 và quan sát các hình chi tiết trong H.2.1 sau để hiểu được thí nghiệm
Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm sự tạo thành tinh bột trong quang hợp
Lá cây đã được che tối một phần (trong 02 ngày) Đặt các lá này vào cốc thủy tinh nước đang sôi trong vòng 5phút Sau đó, dùng kẹp chuyển mỗi lá vào 1 ống nghiệm có chứa cồn 700, đặt ống nghiệm vào cốc thủy tinh nước đang sôi, đun cho đến khi lá mất màu xanh Rửa lá bằng nước và trải
lá trên đĩa petri Cho dung dịch Lugol (I ốt) vào đĩa petri và lắc để lá nhuộm màu đều Trãi lá trên tờ giấy thấm Ghi nhận hiện tượng và giải thích
- Sau đó HS suy nghĩ để trả lời 3 câu hỏi thảo luận sau:
+ Việc bịt lá thí nghiệm bằng băng giấy đen nhằm mục đích gì?
+ Chỉ có phần nào của lá thí nghiệm đã chế tạo được tinh bột? Vì sao? + Qua thí nghiệm này ta rút ra được kết luận gi?
- Để giúp học sinh trả lời đúng, nên cho học sinh thảo luận toàn lớp về câu trả lời của các nhóm
- GV sửa chữa, bổ sung và nêu đáp án đúng
- GV có thể cho HS xem kết quả thí nghiệm do GV tự làm, giúp HS có
cơ sở thực tế để khẳng định kết luận của thí nghiệm:
+ Bịt lá thí nghiệm bằng một băng giấy đen làm một phần lá không nhận được ánh sáng Điều này nhằm mục đích so sánh với phần lá đối chứng vẫn được chiếu sáng
Trang 24+ Chỉ có phần lá không bị bịt đã chế tạo tinh bột (chỉ có phần này bị nhuộm thành màu xanh tím với thuốc thử tinh bột).
Tiểu kết: Tinh bột được tạo thành trong lá xanh được chiếu sáng
A vào chỗ tối hoặc bọc ngoài bằng một túi giấy đen Đưa cốc B ra chỗ có nắng hoặc để dưới đèn sáng có chụp
Hình 2.2 Kết quả thí nghiệm sau 6 giờ
A Cốc thí nghiệm bịt giấy đen
B Cốc thí nghiệm để ngoài ánh sáng
C Thử chất khí tạo thành trong thí nghiệm ở cốc B
Khoảng sau 6 giờ lấy ra, cũng dùng que diêm gần tắt đưa vào miệng ống nghiệm Ghi nhận hiện tượng, giải thích
+ Khoảng sau 6 giờ, quan sát 2 cốc, ta thấy: từ cành rong trong cốc B
có những bọt khí thoát ra rồi nổi lên và chiếm một khoảng dưới đáy ống nghiệm, còn cành rong trong cốc A không có hiện tượng đó (H 2.2)
+ Lấy ống nghiệm ra khỏi cốc B, lật lại để xác định chất khí do cây rong đã thải ra bằng cách: đưa nhanh que diêm vừa tắt (chỉ còn tàn đỏ) vào miệng ống nghiệm, ta thấy que diêm bùng cháy
- Sau đó, mỗi HS suy nghĩ để trả lời câu hỏi thảo luận về thí nghiệm 2
và ghi vào vở bài tập
+ Cành rong trong cốc nào đã chế tạo được tinh bột? Vì sao?
+ Những hiện tượng nào chứng tỏ cành rong trong cốc đó đã thải ra
Trang 25chất khí? Đó là khí gì?
+ Có thể rút ra kết luận gì qua thí nghiệm?
- Câu trả lời của các nhóm cần được trao đổi trong toàn lớp để có thể tìm được câu trả lời đúng
- Sau khi lớp thảo luận, GV chốt lại đáp án:
+ Chỉ có cành trong cốc B chế tạo được tinh bột vì được chiếu sáng + Hiện tượng chứng tỏ cành rong trong cốc B đã tạo ra chất khí là có bọt khí thoát ra từ cành rong và có chất khí tạo thành ở đáy ống nghiệm trong cốc B Đó là khí ôxi vì đã làm que diêm gần tắt lại bùng cháy
Tiểu kết: Lá đã thải ra khí ôxi ở ngoài ánh sáng
* Kết luận:
Sự quang hợp:
Ngoài ánh sáng, cây xanh thực hiện sự quang hợp, quang hợp là sự tổng hợp chất hữu cơ (glucid) từ các chất vô cơ (cacbonicvà nước) theo công thức tổng quát như sau:
Cacbonic + Nước → Glucose + oxi Các thí nghiệm trên đã chứng minh sự giải phóng oxi và tạo tính bột trong quá trình quang hợp
5 Hướng dẫn học sinh viết bản thu hoạch:
- Ghi nhận hiện tượng, giải thích sự tạo thành tinh bột trong quang hợp
- Ghi nhận hiện tượng, giải thích quá trình giải phóng oxy trong quang hợp
Có thể sử dụng 2 câu hỏi cuối bài để kiểm tra, hoặc có thể hỏi thêm nhiều câu hỏi vận
dụng
Trang 26BÀI 3 HÔ HẤP Ở CÂY XANH
1 Mục tiêu
- Phân tích được thí nghiệm và tham gia thiết kế một thí nghiệm đơn giản HS phát hiện được có hiện tượng hô hấp ở cây
- Biết được khái niệm đơn giản về hiện tượng hô hấp và hiểu được ý nghĩa hô hấp đối
với đời sống của cây
- Ghi nhận hiện tượng giải phóng khí cacbonic trong hô hấp ở cây xanh và chứng minh cây đã lấy khí ôxi từ không khí
- Giải thích được vài ứng dụng trong trồng trọt liên quan đến hiện tượng hô hấp của cây
2 Nội dụng
- Làm thí nghiệm chứng minh hiện tượng hô hấp ở cây
- Làm thí nghiệm chứng minh cây đã lấy o xi của không khí
3 Chuẩn bị:
3.1 Chuẩn bị của học sinh
- Xem kĩ phần lý thuyết những nội dung liên quan
3.2 Chuẩn bị của phòng thí nghiệm
a, Dụng cụ: 2 tấm kính ướt, 2 chuông thuỷ tinh A và B, túi giấy đen, cốc thuỷ tinh
to, diêm, đóm
b, Hóa chất: 2 cốc nước vôi trong
c, Mẫu vật: 2 chậu cây,
4 Tiến hành
sống Ở động vật một trong những quá trình dị hoá là quá trình hô hấp Thực vật cũng là một cơ thể sống, vậy chúng có hô hấp không? Biểu hiện bên ngoài của hô hấp thực vật là gi?
Thí nghiệm 1 Chứng minh sự hô hấp của cây xanh
GV: Hướng dẫn học sinh đọc thí nghiệm
Trang 27Hình 3 1 Bố trí thí nghiệm chứng minh sự hô hấp của cây xanh
Chuẩn bi: Gồm chuông A và chuông B; 2 cốc nước vôi trong; 1 chậu cây, hai tấm kính ướt
+ Bước 3 Cho cả 2 chuông thí nghiệm vào chỗ tối sau 6 giờ
Kết quả: Sau khoảng 6 giờ có kết quả gì?
Ghi nhận hiện tượng, giải thích
- GV nên cho HS thảo luận toàn lớp tìm câu trả lời đúng
+ Sau 6 giờ, thấy cốc nước vôi ở chuông A bị đục và trên có một lớp váng trắng dày, cốc nước vôi ở chuông B vẫn còn trong và trên mặt chỉ có một lớp váng trắng rất mỏng
+ Giải thích: Lớp váng trong chuông A dày hơn vì cây trong chuông A
đã thải ra khí cacbonic, khí cacbonic làm nước vôi trong hoá đục
Tiểu kết: Khi không có ánh sáng, cây đã thải ra nhiều khí cacbonic
b Chứng minh cây đã lấy oxi của không khí
- Giáo viên đặt vấn đề, nêu yêu cầu thí nghiệm và hướng dẫn học sinh cách thực hiện
- Hỏi HS: Mục đích chuáng ta làm thí nghiệm này là gi?
Cốc nước vôi trong
Trang 28- Cho HS quan sát H.3.2 và tất cả các dụng cụ thật mà nhóm đó đã sử dụng
để làm thí nghiệm
Hình 3.2 Các dụng cụ mẫu vật dùng để làm thí nghiệm 2
1 Túi giấy đen; 2 Cốc thủy tinh to; 3 Cây trồng trong cốc;
Bước 3: Thử kết quả thí nghiệm
Bỏ túi đen, đốt que diêm
Mở hé miệng cốc, để que diêm đang cháy vào trong cốc thuỷ tinh xem que diêm còn cháy không?
- Yêu cầu các nhóm trao đổi tìm câu trả lời cho câu hỏi thảo luận
- Cho đại diện vài nhóm phát biểu câu trả lời của nhóm để các nhóm khác góp ý kiến
- GV chốt lại: Cây có hô hấp vì thí nghiệm 1 và 2 đã cho biết: Cây thải ra khí cacbonicvà cũng hút ôxicủa không khí
* Kết luận:
Sự hô hấp:
Cây xanh cũng lấy khí ôxi và thải khí cacbonic như người và động vật