ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại các khoản cho không, không cần phải trả lại, viện trợ có hoàn lại các khoản cho vay ưu đãi hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
Tp Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 33 Dương Thị Ánh Tuyết Tác động vốn ODA đến Việt Nam
4 Bùi Thị Thắm Lý thuyết: Tác động của vốn ODA
5 Nguyễn Thị Ngọc
Thành Lý thuyết : Khái niệm và đặc điểm vốn ODA
Trang 4TRANG: 1
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
I.1:KHÁI NIỆM VỐN ODA 2
I.2: ĐẶC ĐIỂM VỐN ODA 2
I.2.1: Vốn ODA mang tính ưu đãi 2
I.2.2: Vốn ODA mang tính bắt buộc 3
I.2.3: ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: 3
I.3: TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ODA 4
I.3.1: Tác động đối với nước đầu tư 4
I.3.1: Tác động đối với nước nhận đầu tư 7
II NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM 8
II.1: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8
II.2.1: Tình hình huy động vốn ODA hiện nay 8
II.2.2: Tình hình quản lý và sử dụng vốn ODA hiện nay 16
II.2: TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ODA ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM 18
II.2.1: Tác động tích cực 18
II.2.2: Tác động tiêu cực 23
Trang 5TRANG: 2
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.1: Khái niệm vốn ODA
ODA là tên viết tắt của Official Development Assitance có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức
(Hỗ trợ phát triển chính thức là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Gọi là phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho cho nước được đầu
tư Gọi là chính thức vì nó thường cho nhà nước vay.)
ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại (các khoản cho không, không cần phải trả lại), viện trợ có hoàn lại( các khoản cho vay ưu đãi) hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nươc đang và chậm phát triển
I.2: Đặc điểm vốn ODA
I.2.1: Vốn ODA mang tính ưu đãi
Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc) Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc
tế Nhật Bản (Japanese Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm
Thông thường trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại
Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất Lãi suất giao động từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên 7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên) Ví
dụ lãi suất của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm
Thành tố cho không được xác định dựa và thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánh tập quán thương mại quốc tế Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành cho nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện
cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Trang 6ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn
Ví dụ: Nhật Bản viện trợ ODA vào Việt Nam chủ yếu một số lĩnh vực như: Phát triển nguồn nhân lực, cải tạo và xây dựng các công trình điện giao thông, phát triển giáo dục và y tế,
I.2.2: Vốn ODA mang tính bắt buộc
ODA có thể ràng buộc nước nhận về địa điểm chỉ tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viên trợ cũng đề có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận
Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định Những điều kiện ràng buộc này có thể
là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường
là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65% Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch
vụ của các quốc gia viện trợ Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ
Viện trợ luôn có hai mục tiêu cùng tồn tại song song Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng cường bề vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển.Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ
I.2.3: ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Trang 7TRANG: 4
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ
I.3: Tác động của vốn ODA
I.3.1: Tác động đối với nước đầu tư
O A n uồn v n sun qu n trọn ho ầu tƣ ph t tri n
Tất cả các quốc gia khi thực hiện CNH- HĐH đều cần đến một lượng vốn đầu tư rất lớn và đây là thách thức đối với các nước đang phát triển Với nội lực còn hạn chế thì vốn trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu về vốn đầu tư, do
đó việc huy động vốn từ nước ngoài trở nên tất yếu
Cụ thể sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước châu thiếu vốn để khôi phục và phát triển nền kinh tế Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn lớn, lãi suất thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro Vì vậy các nước gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút vốn vốn FDI vào lĩnh vực này Nhiều nước đã tranh thủ được nguồn vốn ODA từ các nước giàu Ví dụ như,trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Đài Loan đã nhận được viện trợ của Hoa kỳ lên tới 1,482 tỷ USD Vốn viện trợ đã góp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế của Đài Loan, từ một nước nhận viện trợ Đài Loan đã trở thành nước cung cấp viện trợ Hiện nay Nhật Bản là nhà tài trợ hàng đầu thế giới, nhưng trước đây Nhật Bản cũng từng là nước nhận viện trợ, với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, các nước trên thế giới, các tổ chức tài chính quốc tế như WB,Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc và các tổ chức Liên hiệp quốc khác
Do tính chất ưu đãi, vốn ODA thường dành cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như đầu tư vào đường xá, cầu cảng, công trình điện, công trình cấp thoát nước và các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển nguồn nhân lực
Nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường cao tốc, trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc gia ở Thái Lan, Singapore, Indonexia và cả Việt Nam… đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản, Hoa kỳ, WB, ADB và một số nhà tài trợ khác Phần này đưa xuống được không Thắm, vì Tr sợ trùng
Trang 8Có điều là những lợi ích này khó có thể mà lượng hóa được
Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp các nước nhận tài trợ nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: hợp tác kỹ thuật, cử chuyên gia, cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập…(được thể hiển rõ trong ODA của Nhật Bản)
Hợp tác kỹ thuật là bộ phận quan trọng trong ODA (đặc biệt của Nhật Bản), bao gồm hàng loạt hoạt động rộng rãi từ việc xuất bản và cung cấp sách, tài liệu kỹ thuật bằng nhiều thứ tiếng, các chương trình huấn luyện, đào tạo cán bộ chuyên môn…
Việc cử chuyên gia là một hình thức hợp tác kỹ thuật đã có lịch sử lâu dài Việc này được tiến hành ký kết giữa hai bên và theo nhiều cách khác nhau Trong mỗi trường hợp, mục đích chính là chuyển giao hiểu biết, công nghệ chỗ các nước đang phát triển thông qua định hướng, điều tra và nghiên cứu, góp ý… việc cải tiến trình độ công nghệ kỹ thuật của các nước đang phát triển cuối cùng sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của họ
Cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập cũng là một bộ phận của chương trình hợp tác kỹ thuật Ở đây, cung cấp thiết bị kỹ thuật có nghĩa là cung cấp các thiết bị
và vật liệu với tư cách là một bộ phận của chương trình hợp tác kỹ thuật Nhưng để phân biệt sự cung cấp đó với sự cung cấp thiết bị trong khuôn khổ viện trợ chung không hoàn lại ta gọi chung đó là cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập
O A óp phần tăn hả năn thu h t F I v t o iều
i n mở rộn ầu tư ph t tri n tron nướ
Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó Họ cảnh giác trước những nguy cơ làm tăng phí tổn đầu tư
Một số cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng (điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì rằng những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng những tiện nghi hạ
Trang 9TRANG: 6
tầng sẽ lên cao, chưa kể đến thiệt hại như hoạt động của nhà máy, xí nghiệp phải dừng vì mất điện, công trình đang xây dựng phải bỏ dở vì không có nước Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng
hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng, dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút
Như vậy, đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết, nhằm làm cho môi trường đâu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp, các nước đang phát triển phải dựa vào nguồn vốn ODA để bổ sung cho vốn đâu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI
Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các nước đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước, góp phần thực hiện thành công chiến lược hướng ngoại
O A i p ho vi iều hỉnh ơ ấu inh t
Do dân số tăng quá nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh tế, tài chính kém hiệu quả, các nước đang phát triển đặc biệt là các nước Châu Phi đang vấp phải nhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân kinh tế ngày càng tăng Để giải quyết các vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phôi hợp với Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ cấu Chính sách này dự định chuyển chính sách kinh tế Nhà Nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nước đang phát triển và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này Nhật Bản tích cực tham gia hỗ trợ cho các cuộc cải cách này Đặc biệt từ năm 1988 đến 1990, Nhật đã dành khoảng 52 tỷ Yên để cấp viện trợ không hoàn lại dưới dạng tổng tài trợ với các tổ chức quốc tế Nhật Bản cũng đã cấp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗ trợ cho việc điểu chỉnh cơ cấu kinh tế ở Châu Phi và các nước đang phát triển khác
Trang 10TRANG: 7
T ộn ti u
Tuy nhiên, nguồn vốn ODA cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi đối với các nước tiếp nhận Nếu không được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn ODA có thể làm tăng gánh nặng nợ quốc gia bởi phần lớn nguồn vốn này là dưới dạng tiền cho vay Trừ những khoản ODA dành cho giáo dục, y tế, văn hóa (chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ)
là không hoàn lại, còn ODA dùng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế là tiền vay và sẽ phải hoàn lại trong tương lai
Một khả năng khác cũng cần tính đến là tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái
có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên
Bên cạnh đó, các nước giàu khi viện trợ ODA cũng tính toán tới những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác theo hướng có lợi cho
họ Ngoài ra, nước được viện trợ tuy có toàn quyền quản lý sử dụng nguồn vốn này nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng nước viện trợ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ của chuyên gia
I.3.1: Tác động đối với nước nhận đầu tư
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương
Trang 11II NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM
II.1: Thực trạng nguồn vốn ODA tại Việt Nam hiện nay
II.2.1: Tình hình huy động vốn ODA hiện nay
Thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm 1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã không những thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài mà còn tạo ra những bước tiến vượt bậc với việc cải thiện tình hình chính trị đối ngoại, xử lý các khoản nợ nước ngoài thông qua Câu lạc bộ chủ nợ Pa-ri, kinh tế trong nước đạt mức tăng trưởng cao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Đây là bối cảnh dẫn đến cơ hội để Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế nối lại quan hệ hợp tác phát triển Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam được tổ chức tại Pa-ri dưới sự chủ trì của Ngân hàng Thế giới (WB) vào tháng 11 năm 1993 là điểm khởi đầu cho quá trình thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa nhận rộng rãi, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được bầu là
Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác, Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng của viện trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát triển của Việt Nam
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị viện trợ quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển Đối với Việt Nam, sau Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu tiên vào năm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt Nam từ vị
Trang 12TRANG: 9
thế là khách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân hàng Thế giới Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước tài trợ như tại Pháp, Nhật Bản, sang về tổ chức tại Việt Nam
Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việc cung cấp, sử dụng viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo
là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời Ngoài Hội nghị CG thường niên, còn tổ chức Hội nghị CG giữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài trợ gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ trợ của họ
T n v n O A ý t, m t v iải n n:
Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 1993 đến 2012 đạt trên 58,4 tỷ USD, chiếm 71,69% tổng vốn ODA cam kết, trong đó vốn vay ưu đãi đạt 51,6 tỷ USD và chiếm khoảng 88,4%, vốn ODA không hoàn lại đạt 6,76 tỷ USD và chiếm khoảng 11,6% Trong số 51,607 tỷ USD các khoản ODA vay ưu đãi đã ký kết, phần lớn có lãi suất rất ưu đãi, thời gian vay và ân hạn dài Khoảng 45% khoản vay có lãi suất dưới 1%/năm, thời hạn vay từ 30-40 năm, trong đó có
10 năm ân hạn; khoảng 40% khoản vay có lãi suất từ 1-3%/năm, thời hạn vay từ 12-30 năm, trong đó có 5-10 năm ân hạn; còn lại là các khoản vay có điều kiện ưu đãi kém hơn
Trang 13TRANG: 10
Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn ODA giải ngân đạt 37,59 tỷ USD, chiếm trên 66,92% tổng vốn ODA ký kết
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều
và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, o, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Lúc-xem-bua, Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po
C nh t i trợ phươn ồm:
Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB),
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu (ADB), Ngân hàng Đầu
tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;
Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao uỷ Liên
hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc
về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Trang 14TRANG: 11
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng ODA vốn vay trong tổng vốn ODA tăng dần
từ 80% trong thời kỳ 1993-2000 lên 93% thời kỳ 2006-2010 và gần đây đã ở mức 95,7% trong hai năm 2011-2012
Có thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song chưa tương xứng với mức cam kết Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thực hiện các chương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ