1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luyện thi đại học Sử Thế Giới

28 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 447 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Ở châu Á: hội nghị chấp nhận những điều kiện để Liên Xô tham chiến chống Nhật: giữ nguyên hiện trạng của Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh, quốc

Trang 1

Luyện thi đại học LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ NĂM 1945-2000

+ Nhanh chóng đánh bại các nước phát xít

+ Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh

+ Phân chia thành quả giữa các nước thắng trận

- Để giải quyết các vấn đề trên, từ ngày 4 đến 11 tháng 2 năm 1945, một hội nghị quốc tế được triệu tập tại Ianta (Liên Xô) với sự tham gia của ba nguyên thủ đại diện cho ba nước Liên Xô, Mĩ, Anh

- Hội nghị diễn ra gay go, quyết liệt, vì đây là sự phân chia quyền lợi không chỉ giữa các quốc gia mà còn là giữa hai chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Cuối cùng các nước cũng đã đi đến những quyết định quan trọng

* Những quyết định của Hội nghị:

- Các nước tham dự Hội nghị thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á sau khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc

- Các nước tham dự Hội nghị quyết định thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới

- Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á

+ Tại châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Béclin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Béclin và các nước Tây Âu Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên

Xô, Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập

+ Ở châu Á: hội nghị chấp nhận những điều kiện để Liên Xô tham chiến chống Nhật: giữ nguyên hiện trạng của Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh, quốc tế hóa thương cảng Đại Liên…

+ Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Nam Triều Tiên lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới; ở Trung Quốc sẽ tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp bao gồm Quốc dân đảng và Đảng cộng sản, Mĩ có quyền lợi ở Trung Quốc

+ Các khu vực còn lại của châu Á thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây

+ Theo thỏa thuận của các nước tại Hội nghị Pôtxđam (7/1945) quân đội Anh sẽ vào phía Nam vĩ tuyến 16 của Việt Nam, quân đội Trung hoa dân quốc vào miền Bắc

để giải giáp quân đội phát xít Nhật

Trang 2

- Những quyết định của Hội nghị Ianta và những quyết định của các cường quốc sau đó đã trở thành khuôn khổ trật tự thế giới mới, thường được gọi là trật tự hai cực Ian ta.

Câu 2: Tổ chức Liên Hợp Quốc ?

* Sự thành lập:

- Thực hiện những quyết định của Hội nghị Ianta, từ ngày 25/4 đến ngày 26/6/1945, đại biểu của 50 nước đã họp tại thành phố Xan – Phranxco (Mĩ) để thông qua Hiến chương, thành lập Liên hợp quốc Ngày 24/10/1945, Hiến chương Liên hợp quốc có hiệu lực, ngày này trở thành ngày Liên hợp quốc

* Nguyên tác hoạt động:

- Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc

- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì nước nào

- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình

- Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa 5 nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp

và Trung Quốc)

* Cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc:

Gồm có 6 cơ quan chính: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế - xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế, Ban thư kí Ngoài ra Liên hợp quốc còn có nhiều tổ chức chuyên môn khác nhau (UNDP – chương trình phát triển LHQ, UNICEF – quỹ nhi đồng LHQ, UNESCO – tổ chức văn hóa, giáo dục khoa học…)

* Vai trò của Liên hợp quốc:

- Là tổ chức quốc tế lớn nhất Liên hợp quốc có vai trò to lớn trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới, thúc đẩy hợp tác hữu nghị, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế và các vấn đề toàn cầu khác

- Tuy nhiên, trên thực tế do tương quan lực lượng, cơ chế tổ chức mà nhiều vấn

đề do Liên hợp quốc quyết định trong thời gian dài (quyền phủ quyết của các thành viên Hội đồng bảo an) bị Mĩ chi phối Liên hợp quốc đã thông qua những quyết định sai trái như tham chiến ở Triều Tiên, chống Việt Nam, vấn đề Irắc…

- Việt Nam là thành viên 149 của LHQ (9/1977)

-BÀI 2: LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU 1945-1991 LIÊN BANG NGA 1991-2000

Câu 3: Trình bày thành tựu Liên Xô 1945-1970 ?

* Thành tựu trong khôi phục kinh tế:

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô phải gánh chịu nhiều khó khăn Hy sinh tổn thất nặng nề: trên 27 triệu người chết, 1710 thành phố, 70 ngàn làng mạc bị tàn phá và tiêu huỷ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Hơn 5 năm chiến tranh chống phát xít làm đất nước này bị chậm lại khoảng 10 năm trong công cuộc phát triển kinh tế

- Các nước phương Tây (do Mĩ cầm đầu) đã thực hiện chính sách thù địch với

Trang 3

Liên Xô bao vây kinh tế, phát động “chiến tranh lạnh” chạy đua vũ trang, chuẩn bị cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội.

- Trong bối cảnh đó, nhân dân Liên Xô phải thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh

tế, củng cố quốc phòng an ninh, Với tinh thần vượt qua khó khăn gian khổ nhân dân Liên Xô đã thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm (1946 – 1950) trước thời hạn 9 tháng + Về công nghiệp: nền công nghiệp Liên Xô nhanh chóng được phục hồi, năm

1947 đạt mức trước chiến tranh Năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73% so với mức trước chiến tranh, hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây dựng mới đi vào hoạt động

+ Về nông nghiệp: cũng vượt mức trước chiến tranh, thu nhập quốc dân tăng 66% so với năm 1940

+ Về khoa học – kĩ thuật: năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu bước phát triển nhanh chóng của KH – KT của Liên Xô, phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ

* Thành tựu trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH (từ 1950 – nửa đầu những năm 70):

- Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70, Liễn Xô đã thực hiệndựng bằng nhiều

kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng thành công cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH

- Thành tựu:

+ Về công nghiệp: Đến nữa đầu thập kỉ 70, Liên Xô trở thành cường quốc công

nghiệp đứng thứ hai trên thế giới, chiếm gần 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân là 9,6%; đi đầu trong công nghiệp vũ trụ, công nghiệp điện hạt nhân…

+ Về nông nghiệp: Năm 1970, Liên Xô đạt được sản lượng và năng xuất cao với

186 triệu tấn ngũ cốc và năng suất trung bình là 15,6 tạ/ha Năm 1972, sản lượng công nghiệp tăng 321 lần, thu nhập quốc dân tăng 112 lần

+ Về khoa học – kĩ thuật: Đạt được nhiều thành tựu, đỉnh cao trong các lĩnh vực

vật lý, hoá học, khoa học vũ trụ đi đầu trong các ngành công nghiệp mới bằng công nghiệp vũ trụ, điện nguyên tử, chế tạo thành công bom nguyên tử (1949), phóng vệ tinh nhân tạo (1957) du hành vũ trụ (1961) đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh Trái Đất mở đầu kĩ nguyên chinh phục vũ trụ của con người

+ Về xã hội: Liên Xô có những thay đổi rõ rệt Năm 1971, công nhân chiếm hơn

55% số người lao động cả nước Trình độ học vấn của người dân không ngừng được nâng cao

* Tình hình chính trị và chính sách đối ngoại:

- Về chính trị: từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 70, nhìn chung ổn định Đảng Cộng sản và Nhà nước hoạt động có hiệu quả, gây niềm tin trong nhân dân, trong xã hội có sự nhất trí về chính trị và tinh thần giữa các tầng lớp nhân dân

và các dân tộc

- Về đối ngoại: Liên Xô luôn thi hành chính sách đối ngoại hòa bình và tích cực ủng

hộ phong trào cách mạng thế giới:

+ Luôn đấu tranh cho hòa bình, chống chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc; + Giúp đỡ tích cực về mọi mặt cho các nước xã hội chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội;

+ Đi đầu trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội;

+ Trở thành trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa cho hòa bình và phong trào cách mạng thế giới

Câu 4: Nguyên nhân chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô tan rã ?

Trang 4

Gồm các nguyên nhân cơ bản sau:

Trong những năm 1989 – 1991 chế độ chủ nghĩa xã hội đã bị sụp đổ ở hầu hết các nước Liên Xô và Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật là: tuyên bố từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội , thực hiện đa nguyên về chính trị và chế độ đa đảng; chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường với nhiều hình thức sở hữu; hầu hết các Đảng của giai cấp công nhân ở các nước Đông Âu đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái, nhiều tổ chức với tên gọi khác nhau; tên nước quốc kì, quốc huy và ngày Quốc khánh đều thay đổi theo hướng gọi chung là các nuớc Cộng hoà

* N g u y ê n nh â n :

- Một là, mô hình chủ nghĩa xã hội đã xây dựng có nhiều khuyết tật và thiếu sót

Như không phù hợp với quy luật khách quan trên nhiều mặt phát triển kinh tế xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung - quan liêu về chính trị, bao cấp về kinh

tế, làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động và thiếu mềm dẻo trong phát triển, do đó dẫn đến tình trạng thụ động xã hội, thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế chủ nghĩa xã hội Tình trạng đó kéo dài đã làm tăng sự bất mãn trong quần chúng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Mặt khác, các nước Đông Âu áp dụng mô hình cuả Liên Xô một cách máy móc, không phù hợp với đặc điểm dân tộc làm cho quần chúng phản ứng

- Hai là, tách rời với những tiến bộ văn minh thế giới nhất là khoa học – kĩ thuật.

- Ba là, chậm thay đổi trước những biến động lớn cuả tình hình thế giới (Liên

Xô bị khủng hoảng từ lâu nhưng mãi đến năm 1985 mới bắt đầu cải tổ và các nhà lãnh đạo Đông Âu cho rằng chủ nghĩa xã hội là ưu việt không có gì sai sót mà sửa chữa) Sau khi sửa chữa lại xa rời nguyên lí đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin

- Bốn là, về văn hoá – tư tưởng, những sai lầm cùng sự tha hoá về phẩm chất

chính trị và đạo đức cách mạng của một số người lãnh đạo đảng và nhà nước ở một số nước chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó, không thường xuyên giáo dục những lí tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội khoa học cho nhân dân, đặc biệt cho thanh thiếu niên, đã làm cho nhân dân mất phương hướng và niềm tin

- Năm là, Hoạt động chống phá của các thế lực chống chủ nghĩa xã hội trong và

ngoài nước liên tục phát triển

* N h ận x é t:

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội Tuy đây là một thất bại nặng nề cuả chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, dẫn đến hậu quả là hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội thực tế không còn tồn tại nữa nhưng đây chỉ là thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, một bước lùi tạm thời Bởi vì trong lịch sử xã hội loài người việc xác lập một phương thức sản xuất tiên tiến chưa bao giờ diễn ra nhanh chóng dễ dàng theo một con đường thẳng tắp mà luôn gặp những khó khăn, trắc trở (Ví dụ: Cách mạng pháp

1789 phải trải qua 5 chế độ cộng hoà sau đó chủ nghĩa tư bản mới được xác lập) Vì

vậy Lê-nin nói: “Nếu người ta nhận xét thực chất vấn đề thì có bao giờ người ta

thấy rằng trong lịch sử có một phương thức sản xuất mới được xác lập lại đứng vững được mà không liên tiếp trải qua nhiều thất bại và những sai lầm tái phạm”.

* T ừ c ô n g c u ộc c ả i t ổ t h ất bại c ủ a L i ê n Xô, m ột s ố bài h ọc k i n h n g h i ệ m đ ượ c rú t r a

c h o c ô n g c u ộc đổi m ớ i đất n ướ c V i ệ t N a m t ừ n ă m 1986 – 19 9 1 l à :

- Cần phải xây dựng một chế độ chủ nghĩa xã hội khoa học đầy tính nhân văn phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống của mỗi quốc gia bằng cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào từng hoàn cảnh cụ thể; luôn luôn cảnh giác với mọi âm

Trang 5

mưu của các nước đế quốc; phải luôn nâng cao vai trò lãnh đạo cuả Đ ảng Cộng sản

- Nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra cho các nước chủ nghĩa xã hội đang tiến

hành công cuộc cải cách đổi mới, nhằm xây dựng chế độ một chế độ chủ nghĩa xã hội đúng với bản chất nhân văn vì sự giải phóng và hạnh phúc con người, phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá cuả mỗi dân tộc

- Ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội đã từng tung bay trên những khoảng trời rộng lớn,

từ bờ sông Enbơ đến bờ biển Nam Hải rồi vượt trùng dương rộng lớn đến tận hòn đảo Cuba nhỏ bé anh hùng Ngọn cờ ấy tuy có dừng tung bay ở bầu trời Liên Xô và một

số nước Đông Âu nhưng rồi đây lại sẽ tung bay trên nhiều khoảng trời mênh mông xa lạ: Bầu trời Đông Nam Á, bầu trời châu Phi, Mĩ Latinh và cả trên cái nôi ồn ào, náo nhiệt của chủ nghĩa tư bản phương Tây Đ ó là mơ ước của nhân loại tiến bộ và đó cũng là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người

Câu 5: Trình bày Liên Bang Nga 1991-2000 ?

Liên Bang Nga là “quốc gia kế tục Liên Xô” trong quan hệ quốc tế

* Về kinh tế:

- Từ năm 1992, Chính phủ Nga đề ra cương lĩnh tư nhân hóa nền kinh tế, cố gắng đưa đất nước đi vào nền kinh tế thị trường Nhưng việc tư nhân hóa ồ ạt càng làm cho nền kinh tế thêm rối loạn hơn Từ năm 1990 đến 1995, tốc độ tăng trưởng GDP luôn là số

âm, năm 1990 là -3,6%, năm 1995 là - 4,1%

- Từ năm 1996, nền kinh tế Nga dần phục hồi Đến năm 1997, tốc độ tăng trưởng đạt 0,5%, năm 2000 là 9%

* Về chính trị: tháng 12/1993, bản Hiến pháp của Liên Bang Nga được ban hành, theo

đó Tổng thống do dân bầu trực tiếp là người đứng đầu nhà nước, người điều hành chung mọi hoạt động các cơ quan Về đối nội, nước Nga đứng trước hai thách thức lớn: một là tình trạng không ổn định về chính trị do sự tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn tài chính – kinh tế và đòi hỏi dân chủ hóa của nhan dân; hai là những cuộc xung đột sắc tộc, nổi bật là phong trào li khai của vùng Trécxnia

* Về đối ngoại: Trong những năm 1992 - 1993, Liên bang Nga theo đuổi chính sách đối ngoại “định hướng Đại Tây Dương”, ngả về các cường quốc phương Tây với hy vọng nhận được sự ủng hộ về chính trị và viện trợ về kinh tế nhưng không đạt kết quả Từ năm

1994, Nga chuyển sang chính sách “định hướng Âu - Á”, khôi phục phát triển quan hệ với các nước trong khu vực châu Á

* Từ năm 2000, tình hình nước Nga có nhiều chuyển biến khả quan: kinh tế dần hồi phục và phát triển, chính trị và xã hội ổn định, vị thế quốc tế được nâng cao Tuy vậy, nước Nga vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức: nạn khủng bố, li khai, việc khôi phục và giữ vững vị thế cường quốc Á – Âu

* Vai trò của Liên bang Nga từ sau năm 1991 trong việc xác lập quan hệ quốc tế mới

: Liên bang Nga kế thừa những thành tựu của Liên Xô trước đây và quá trình điều

chỉnh trong đường lối đối ngoại nên từ năm 1991 đến nay, Liên bang Nga dần dần có tiếng nói tích cực trong mối quan hệ quốc tế mới

-BÀI 3: CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á

Câu 6: Tình hình Đông Bắc Á sau chiến tranh ?

- Đông Bắc Á là một khu vực rộng lớn, đông dân nhất thế giới, trước năm 1945 bị chủ nghĩa thực dân nô dịch (trừ Nhật Bản)

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Bắc Á đã diễn ra nhiều chuyển biến quan trọng:

Trang 6

+ Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời

+ Cuối những năm 90, Hồng Công, Ma Cao đã trở về thuộc chủ quyền của Trung Quốc

+ Sau năm 1945, bán đảo Triều Tiên bị chia thành hai miền theo vĩ tuyến 38 với sự thành lập Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc (8/1948) và Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (9/1948) Quan hệ giữa hai nhà nước này là đối đầu căng thẳng, từ năm

2000 đã có những cải thiện bước đầu theo chiều hướng tiếp xúc hoà hợp dân tộc

+ Trong nửa sau thế kỉ XX, khu vực Đông Bắc Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân như ở Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan, đặc biệt là những thành tựu to lớn của Nhật Bản và Trung Quốc từ cuối những năm 70

Câu 7: Sự thành lập nhà nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa và ý nghĩa của nó ?

- Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân phiệt Nhật, ở Trung Quốc

đã diễn ra cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Cuộc nội chiến kéo dài hơn 3 năm (1946 - 1949):

+ Ngày 20 - 7 - 1946, Tưởng Giới Thạch đã huy động toàn bộ lực lượng quân đội chính quy (113 lữ đoàn, khoảng 160 vạn quân) tấn công toàn diện vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Chính thức phát động cuộc nội chiến chống Đảng Cộng sản

+ Do tương quan lực lượng nên từ tháng 7 - 1946 đến tháng 6 - 1947, quân giải phóng Trung Quốc thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực, không giữa đất đai mà chủ yếu nhằm tiêu diệt sinh lực địch và xây dựng lực lượng

+ Từ tháng 6 - 1947, quân giải phóng chuyển sang phản công, tiến quân vào giải phóng các vùng do Quốc dân Đảng kiểm soát

+ Bằng ba chiến dịch lớn (Liêu - Thẩm, Hoài - Hải, Bình - Tân) từ 9 -1948 đến 1 -

1949, quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.540.000 tên địch (gần 144 sư đoàn quân chính quy, 29 sư đoàn quân địa phương) làm cho lực lượng chủ lực của địch bị tổn thất nghiêm trọng

+ Tháng 4 - 1949, quân giải phóng vượt sông Trường Giang; ngày 23 - 4 - 1949, Nam Kinh được giải phóng Cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng Tập đoàn Tưởng Giới Thạch thất bại, phải tháo chạy sang Đài Loan

- Ngày 1 - 10 - 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông

-Ý nghĩa:

+ Cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc thắng lợi, chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, xóa bỏ mọi tàn dư của chế độ phong kiến Đưa Trung Quốc bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội

+Làm tăng cường lực lượng của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, làm cho chủ nghĩa xã hội nối liền từ châu Âu sang châu Á

+ Ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, trước hết là Đông Nam Á

Câu 8: Đường lối cải cách ở Trung Quốc 1978 ?

* Bối cảnh lịch sử:

Từ năm 1959 đến 1978, Trung Quốc trải qua 20 năm không ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội:

Trang 7

- Về kinh tế: Với việc thực hiện đường lối “ba ngọn cờ hông” gồm “đường lối chung” của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, “đại nhảy vọt” và “công xã nhân dân” kinh tế của Trung Quốc lâm vào tình trạng hỗn loạn, sản xuất ngưng trệ, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn.

- Về chính trị: Những khó khăn về kinh tế đã dẫn tới những biến động về chính trị Năm 1959, Lưu Thiếu Kì được cử làm chủ tịch nước, Mao Trạch Đông giữ cương vị chủ tịch Đảng Trong nội bộ Ban lãnh đạo Trung Quốc đã bộc lộ sự bất đồng gay gắt

về đường lối và tranh chấp về quyền lực hết sức quyết liệt Đỉnh cao của cuộc tranh giành quyền lực là cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản” trong những năm 1966 –

1968 Từ năm 1968 đến 1978, trong nội bộ giới lãnh đạo tiếp tục diễn ra nhiều cuộc thanh trừng lật đổ, tình hình kinh tế, xã hội ngày càng đen tối, hỗn loạn

- Về đối ngoại: thực hiện đường lối đối ngoại không có lợi cho cách mạng Trung Quốc và thế giới như xảy ra xung đột biên giới với Ấn Độ năm 1962, Liên Xô năm

1969, bắt tay với Mĩ tháng 2/1972

* Đường lối đổi mới:

- Tháng 12 - 1978, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra đường lối mới, mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội Đường lối này được nâng lên thành đường lối chung qua Đại hội XII (9 - 1982), đặc biệt là đại hội XIII của Đảng (10 - 1987):

+ Lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm

+ Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản: Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa; Kiên trì chuyên chính dân chủ nhân dân; Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sán Trung Quốc; Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông

- Tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh

* Thành tựu:

- Sau 20 năm (1979 - 1998), nền kinh tế Trung Quốc có bước tiến nhanh chóng, đạt tốc

độ tăng trưởng cao nhất thế giới:

+ Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trung bình hàng năm trên 8 %, đạt giá trị 7.974 tỉ nhân dân tệ, đứng thứ 7 thế giới

+ Năm 2000, GDP của Trung Quốc vượt ngưỡng nghìn tỉ đôla Mĩ (USD), tức là đạt 1.072 tỉ USD (tương đương 8.900 tỉ nhân dân tệ)

+ Tổng giá trị xuất khẩu năm 1997 lên tới 325,06 tỉ USD (gấp 15 lần so với năm 1978

là 20,6 tỉ USD), riêng năm 2001 đạt 326 tỉ USD chiếm 5 % tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của thế giới

+ Cơ cấu tổng thu nhập trong nước theo khu vực có sự thay đổi lớn, từ chỗ lấy nông nghiệp làm chủ yếu, thì đến năm 1999 thu nhập nông nghiệp chỉ chiếm 15 %, trong khi

đó công nghiệp tăng lên 35 %, dịch vụ 50 %

+ Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt: từ năm 1978 đến năm 1997 thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn đã tăng từ 133,6 lên 2 090,1 nhân dân tệ, ở thành thị từ 343,4 lên 5 160,3 nhân dân tệ

- Khoa học - kĩ thuật, văn hóa và giáo dục đạt được nhiều thành tựu quan trọng:

+ Năm 1964, Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử

+ Từ năm 1992, chương trình thám hiểm không gian được thực hiện Từ tháng 11 -

1999 đến tháng 3 - 2003, Trung Quốc đã phóng với chế độ tự động 4 con tàu Thần Châu

và ngày 15 - 10 - 2003, tàu Thần Châu 5 cùng nhà du hành Dương Vĩ Lợi đã bay vào

Trang 8

không gian vũ trụ Với sự kiện này, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới (sau Nga và Mĩ) có tàu cùng với người bay vào vũ trụ.

- Đối ngoại:

+ Từ những năm 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ với Liên

Xô, Việt Nam, Mông Cổ, Lào, xi-a; khôi phục quan hệ ngoại giao với xi-a; thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nươc trên thế giới, có nhiều đóng góp trong công việc giải quyết các tranh chấp quốc tế

+ Trung Quốc đã thu hồi chủ quyền với Hồng Công (7 - 1997) và Ma Cao (12 - 1999) Những vùng đất này trở thành khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

* Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:

- Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ lâu đời và ngày càng phát triển trong nhiều lĩnh vực, trên nền tảng tình hữu nghị và ổn định lâu dào Từ năm 1999 đến nay,

hai nước phát triển quan hệ hợp tác theo phương châm“Láng giềng hữu nghị, hợp tác

toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.

- Qua thắng lợi của công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc, Việt Nam có thể

rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đó là: Cải cách đi liền giữ vững những

nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội (4 nguyên tắc) Lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm, trong tình hình mới biết kết hợp tranh thủ điều kiện quốc tế có lợi, kiên trì đẩy mạnh mở cửa, đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, củng cố khối đoàn kết dân tộc.

-BÀI 4: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ

Câu 9: Vài nét chung quá trình giành độc lập ở Đông Nam Á ?

- Trước chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu – Mĩ, sau đó là Nhật Bản

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai tình tình thế giới có nhiều biến chuyển có lợi cho phong trào cách mạng thế giới như chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt hoàn toàn, chủ nghĩa

đế quốc suy yếu, phong trào cách mạng thế giới dâng cao…điều đó có tác động mạnh

mẽ tới phong trào đấu tranh giành độc lập của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á

+ Ngày 17/8/1945, nhân dân In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a

+ Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công, nước VNDCCH ra đời (2/9/1945)

+ Tháng 8 - 1945, nhân dân các nước bộ tộc Lào nổi dậy và ngày 12 - 10 - 1945, nước Lào tuyên bố độc lập

+ Những nước giải phóng được một số vùng lãnh thổ: Miến Điện, Mã Lai, pin

Phi-lip Các nước thực dân Âu – Mĩ quay trở lại tái chiếm Đông Nam Á Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục đấu tranh chống thực dân Âu – Mĩ

+ Vào giữa những năm 50, nhân dân In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần lượt đánh đuổi thực dân ra khỏi đất nước

+ Các nước đế quốc Âu – Mĩ phải công nhận độc lập của Phi-lip-pin (4/7/1946), Miến Điện tuyên bố độc lập (1/1948), Mã Lai tuyên bố độc lập (31/8/1957), Anh trao trả quyền tự trị cho Xingapo (1959)

Trang 9

+ Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Nhân dân Đông Dương phải trải qua cuộc kháng chiến chống Mĩ, đến năm 1975 mới giành được thắng lợi hoàn toàn; còn Brunây tuyên bố độc lập (1/1984); Đông Timo sau cuộc trưng cầu dân ý (8/1999) tách In-đô-nê-xi-a và đến 5/2002 trở thành quốc gia độc lập

Câu 10: Phong trào đấu tranh giành độc lập ở Lào và Cam-pu-chia ?

* Quá trình đấu tranh giành độc lập ở Campuchia (1945 – 1993):

* Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954):

- Tháng 10 - 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và thống trị Cam-pu-chia Triều đình phong kiến nhanh chóng quy thuận Pháp, và ngày 7 - 4 - 1946, kí với Pháp hiệp ước chấp nhận sự thống trị trở lại của Pháp ở Cam-pu-chia

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1951 là Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, nhân dân Cam-pu-chia đã anh dũng đứng dậy tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

- Từ ngày 17 đến ngày 19 - 4 - 1950, những người kháng chiến Cam-pu-chia đã tiến hành đại hội quốc dân, thành lập ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất (Mặt trận Khơ - me)

và Chính phủ kháng chiến do Sơn Ngọc Minh đứng đầu

- Ngày 19 - 6 - 1951, trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang trong cả nước, quân đội cách mạng chính thức thành lập lấy tên là Quân đội It-xa-rắc

- Tháng 7 - 1951, Hội nghị đại biểu các đảng viên cộng sản toàn Cam-pu-chia đã chính thức thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia theo quyết định của Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2 - 1951)

- Bước vào những năm 1953 - 1954, phong trào kháng chiến của nhân dân chia phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi nơi và thu được những thắng lợi to lớn: vùng giải phóng được mở rộng, chiếm khoảng 1/4 lãnh thổ Cam-pu-chia với số dân ước chừng 2 triệu người

- Cuối năm 1952, tình thế quân sự, chính trị và tài chính của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương đã trở nên hết sức nguy kịch Trong bối cảnh

đó, ngày 9 - 11 - 1953, Xi-ha-núc tiến hành cuộc vận động ngoại giao (thường được gọi

là cuộc thập tự chinh của Quốc vương vì nền độc lập của Cam-pu-chia) gây sức ép buộc chính phủ Pháp phải kí hiệp ước trao trả độc lập cho Cam-pu-chia Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Cam-pu-chia và Pháp vẫn nắm mọi quyền hành ở Cam-pu-chia

- Sau thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp phải kí hiệp ước Giơ-ne-vơ

về Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam Hiệp định cũng quy định tất cả các đơn vị quân đội Pháp rút ra khỏi lãnh thổ Cam-pu-chia, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị thực dân của Pháp ở Cam-pu-chia

* Giai đoạn hòa bình trung lập (1954 - 1970):

- Từ năm 1954 đến đầu năm 1970, chính phủ Xi-ha-núc thực hiện đường lối hòa bình trung lập, không tham gia bất cứ khối liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía miễn là không có điều kiện rằng buộc Nhờ vào đường lối này, Cam-pu-chia đã trải qua một thời kì phát triển hòa bình và có điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục của đất nước

- Sau cuộc đảo chính lật đổ Xi-ha-núc ngày 18 - 3 - 1970 của thế lực tay sai Mĩ nhằm phá hoại nền hòa bình, trung lập và đưa Cam-pu-chia vào quỹ đạo của cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mĩ trên bán đảo Đông Dương

* Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ (1970 - 197 5):

Trang 10

- Ngay sau cuộc đảo chính, với sự giúp đỡ của bộ đội tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược của nhân dân Cam-pu-chia vẫn có những bước phát triển nhanh chóng, lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh và vùng giải phóng được mở rộng ở khắp mọi miền đất nước.

- Từ tháng 9 - 1973, lực lượng vũ trang Cam-pu-chia đã chuyển sang tấn công, bao vây thủ đô Phnôm Pênh và các thành phố khác

- Mùa xuân năm 1975, quân dân Cam-pu-chia mở cuộc tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch

- Ngày 17 - 4 - 1975, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống

Mĩ của nhân dân Cam-pu-chia kết thúc thắng lợi

* Giai đoạn thống trị của tập đoàn Khơ-me đỏ (1975 – 1979):

- Liền ngay sau khi Phnôm Pênh được giải phóng, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đứng đầu là Pôn Pốt đã quay lại phản bội cách mạng, chúng thi hành chính sách diệt chủng, tàn sát hàng triệu người dân vô tội:

• Chúng xua đuổi nhân dân ra khỏi các thành phố, buộc về lao động và sinh sống trong những trang trại tập trung ở nông thôn

• Chúng tán phá chùa chiền, trường học, cấm chợ búa và tàn sát dã man hàng triệu người dân Cam-pu-chia vô tội

• Về đối ngoại: chúng gây ra cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam, kích động sự thù hằn dân tộc chống Việt Nam

- Trước thảm họa diệt chủng, nhân dân Cam-pu-chia sôi sục căm thù, nổi dậy đấu tranh chống lại chế độ Khơ-me đỏ

- Tháng 12 - 1978, Mặt trận dân tộc cứu nước Cam-pu-chia thành lập Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, quân và dân Cam-pu-chia nổi dậy ở nhiều nơi

- Ngày 7 - 1 - 1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng khỏi chế độ Khơ-me đỏ diệt chủng, Cam-pu-chia bước vào thời kì hồi sinh, xây dựng lại đất nước

* Giai đoạn diễn ra cuộc nội chiến ở Cam-pu-chia (1979 - 1991):

- Từ năm 1979 ở Cam-pu-chia đã diễn ra cuộc nội chiến giữa lực lượng của Đảng Nhân dân cách mạng với phe phải đối lập, chủ yếu là lực lượng Khơ-me đỏ Cuộc nội chiến kéo dài hơn một thập kỉ, gây nhiều tổn thất cho đất nước

- Với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, các bên Cam-pu-chia đi đến thỏa thuận hòa giải và hòa hợp dân tộc Ngày 23 - 10 - 1991, Hiệp định hòa bình về Cam-pu-chia được kí kết tại Pa-ri

* Giai đoạn xây dựng đất nước (1993 - 2000):

- Sau cuộc tổng tuyển cử tháng 9 - 1993, Quốc hội mới đã thông qua Hiến pháp, tuyên bố thành lập Vương quốc Cam-pu-chia do N.Xi-ha-núc làm Quốc Vương Từ đó, Cam-pu-chia bước sang một thời kì mới

- Tháng 10 - 2004, vua Xi-ha-núc tuyên bố thoái vị Hoàng tử Xi-ha-mô-ni lên kế ngôi, trở thành quốc vương của Cam-pu-chia

* Quá trình đấu tranh giành độc lập ở Lào (1945 – 1975):

* Tuyên bố độc lập:

- Giữa tháng 8 - 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Nắm thời cơ thuận lợi, ngày

23 - 8 - 1945, nhân dân Lào nổi dậy và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi

- Ngày 12 - 10 - 1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền, chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng tuyên bố trước thế giới nền độc lập của nước Lào

* Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954):

Trang 11

- Tháng 3 - 1946, thực dân Pháp trở lại tái chiếm Lào Nhân dân Lào một lần nữa phải cầm súng kháng chiến bảo vệ nền độc lập của mình.

- Từ năm 1947, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Lào ngày càng phát triển, lực lượng cách mạng ngày càng trưởng thành:

• Các chiến khu lần lượt được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào

• Ngày 20 - 1 - 1949, quân giải phóng nhân dân Lào Lát-xa-vông được thành lập do Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn chỉ huy

• Ngày 13 - 8 - 1950, Mặt trận Lào tự do và Chính phủ kháng chiến Lào do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đứng đầu thành lập

- Trong những năm 1953 - 1954, quân dân Lào đã phối hợp cùng với quân tình nguyện Việt Nam mở các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào ( 1953 ), Thượng Lào (1954), giành thắng lợi to lớn Những cuộc tấn công này đã phối hợp chặt chẽ với chiến trường Việt Nam, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ (954), góp phần vào chiến thắng chung của nhân dân ba nước Đông Dương

- Tháng 7 - 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hiệp định đã thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào, công nhân địa vị hợp pháp của lực lượng kháng chiến Lào

* Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975):

- Ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương vừa kí kết, Mĩ đã lập tức hất cẳng Pháp, âm mưu biến Lào thành nước thuộc địa kiểu mới Từ đây, nhân dân Lào lại phải cầm súng chống kẻ thù mới là đế quốc Mĩ

- Thông qua viện trợ kinh tế và quân sự, đế quốc Mĩ đã dựng lên chính quyền, quân đội tay sai và nắm quyền chi phối mọi mặt ở Lào

- Từ 1955, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, cuộc đấu tranh của nhân dân Lào diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự - chính trị - ngoại giao, đã đánh bại các cuộc tấn công quân sự của Mĩ và tay sai, giải phóng thêm nhiều vùng rộng lớn ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào Đến đầu những năm 60 đã giải phóng 2/3 lãnh thổ, hơn 1/3 dân số cả nước

- Tháng 2 - 1973, Hiệp định Viêng Chăn về lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được kí kết giữa mặt trận Lào yêu nước và phái hữu Viêng Chăn Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng Quốc gia chính trị liên hiệp được thành lập

- Mùa xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân Việt Nam thắng lợi đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn

- Từ tháng 5 đến tháng 12 - 1975, quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng đã nổi dậy giành chính quyền trong cả nước

- Ngày 2 - 12 - 1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chính thức thành lập Từ

đó, nước Lào bước sang thời kì mới - xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội

Câu 11: Tổ chức ASEAN ? (Nghiên cứu toàn diện)

* Nhóm 5 n ư ớ c s áng l ập A S EA N:

Sau khi giành độc lập, các nước Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Philíppin, Thái Lan tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình các nước tư bản chủ nghĩa

Trang 12

- Những năm 1950 – 1960: các nước này đều tiến hành công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (chiến lược kinh tế hướng nội) nhằm xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ Nội dung chủ yếu là đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu… Chiến lược này đạt một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đời sống người dân còn khó khăn

- Từ những năm 60 – 70 trở đi, chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa lấy xuất khẩu làm chủ đạo (chiến lược kinh tế hướng ngoại), mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư

và kỹ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển ngoại thương Sau 30 năm, bộ mặt kinh tế – xã hội các nước này có sự biến đổi lớn: năm

1980, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 130 tỉ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch ngoại thương của các quốc gia và khu vực đang phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao: Thái Lan 7% (1985 – 1995), Xingapo 12% (1968 – 1973)…

* Các nước Đông Dương :

Sau khi giành độc lập, các nước Đông Dương phát triển nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa và đạt một số thành tựu nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn Cuối những năm

1980 – 1990, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường

- Lào: cuối những năm 1980, thực hiện cuộc đổi mới, kinh tế có sự khởi sắc, đời sống các bộ tộc được cải thiện GNP năm 2000 tăng 5,4%, sản xuất công nghiệp tăng 4,5%, công nghiệp tăng 9,2%

- Campuchia: năm 1995, sản xuất công nghiệp tăng 7% nhưng vẫn là nước nông nghiệp

* Các nước Đông Nam Á khác:

- Brunây: toàn bộ nguồn thu dựa vào dầu mỏ và khí tự nhiên Từ giữa những năm

1980, chính phủ tiến hành đa dạng hóa nền kinh tế

- Mianma: Trước thập niên 90, thi hành chính sách “đóng cửa” Đến 1988, chính phủ tiến hành cải cách kinh tế và “mở cửa”, kinh tế có nhiều khởi sắc

Sự ra đời và phát triển của ASEAN.

sa lầy và sự thất bại là không tránh khỏi

- Những tổ chức hợp tác mang tính khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, những thành công của khối thị trường chung Châu Âu đã cổ vũ các nước Đông Nam Á tìm cách liên kết với nhau

- Ngày 8/8/1967 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc(Thái Lan), với sự tham gia của 5 nước: Inđônêxia, Malaixia, Xingapo, Thái Lan và Philippin

* Mục tiêu của tổ chức ASEAN: được nêu rõ tại hội nghị cấp cao ASEAN ở li(Inđônêxia) tháng 2/1976 có nội dung là: Xây dựng những mối quan hệ hữu nghị, hòa bình và hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo ra một cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh trên cơ sở tự cường khu vực và thiết lập một khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở Đông Nam Á

Ba-* Nguyên tắc hoạt động: Từ giữa những năm 70, ASEAN có bước phát triển mới, được đánh dấu bằng Hội nghị cấp cao Bali (2/1976), với việc kí Hiệp ước thân thiên và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan

hệ giữa các nước:

+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Trang 13

+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

+ Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực đối với nhau

+ Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình

+ Hợp tác có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

* Quá trình phát triển:

- Trong giai đoạn đầu(1967-1975), ASEAN là một tổ chức non yếu, hợp tác lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế

- Tháng 2/1976, Hiệp ước Bali được ký kết với nội dung chính là tăng cường quan

hệ hữu nghị và hợp tác ở Đông Nam Á Từ đây, ASEAN có sự khởi sắc

- Lúc đầu, ASEAN thực hiện chính sách đối đầu với các nước Đông Dương Song từ cuối thập niên 80, khi "vấn đề Campuchia" được giải quyết, các nước này đã bắt đầu quá trình đối thoại, hòa dịu

- Các nước gia nhập ASEAN: Brunây (1984), Việt Nam (1995), Lào và Mianma (1997), Campuchia (1999)

- Từ 5 nước sáng lập ban đầu đến năm 1999, ASEAN đã phát triển thành 10 nước thành viên hợp tác ngày càng chặt chẽ về mọi mặt

*Vai trò: ASEAN ngày càng trở thành tổ chức hợp tác chặt chẽ và toàn diện của khu vực Đông Nam Á, góp phần tạo dựng một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phát triển

Câu 12: Trình bày cuộc đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ ?

* N g u y ê n n h â n :

Thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít đã cổ vũ tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Á, Phi, Mĩ Latinh trong đó có Ấn Độ Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1945), phong trào đấu tranh chống thực dân Anh, giành độc lập của Ấn Độ phát triển mạnh mẽ

* D i ễ n b i ế n :

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại do M.Ganđi và G.Nêru đứng đầu, đấu

tranh dưới các hình thức khởi nghĩa vũ trang, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị

- Tiêu biểu là ngày 19-2-1946, hai vạn thủy binh trên 20 chiến hạm ở cảng Bombay

tổ chức biểu tình tuần hành chống thực dân Anh đòi độc lập dân chủ với các khẩu hiệu:

“Đả đảo đế quốc Anh”, “Cách mạng muôn năm!”

- Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của thủy binh, hai mươi vạn công nhân, học sinh, sinh viên và đông đảo nhân dân Bombay đã bãi công, bãi thị, bãi khóa Cuộc bãi công sau đó trở thành khởi nghĩa vũ trang của nhân dân, kéo dài trong ba ngày liền (từ 21/2 đến 23/2/1946) mới bị dập tắt Công nhân nhiều thành phố bãi công hưởng ứng như Cancutta, Carasi, Mađơrat

- Nông dân đấu tranh đòi chỉ nộp 1/3 thu hoạch cho địa chủ (Phong trào

“Tephaga”) Nhiều nơi nông dân nổi dậy cướp tài sản của địa chủ

- Đầu năm 1947, cao trào bãi công của công nhân đã nổ ra ở nhiều thành phố lớn, như cuộc bãi công của hơn 40 vạn công nhân ở thành phố Cancútta (tháng 2/1947)

- Trước quy mô rộng lớn của phong trào, đế quốc Anh không thể thống trị theo hình thức thực dân kiểu cũ được nữa Ngày 15/8/1947, theo sự thỏa thuận giữa thực

dân Anh và giai cấp tư sản Ấn Độ (Kế hoạch Maobattơn) ngày 15/8/1947, Ấn Độ bị

tách ra thành hai quốc gia Ấn Độ và Pakixtan dựa trên cơ sở tôn giáo: Ấn Độ của những người theo Ấn Độ giáo và Pakixtan của những người theo Hồi giáo Hai quốc gia này được hưởng quy chế tự trị và được thành lập Chính phủ dân tộc riêng của mình

- Ngày 26/3/1971, nhân dân vùng đông Pakixtan đã nổi dậy đấu tranh vũ trang tách

Trang 14

khỏi Pakixtan và thành lập nước Cộng hòa Bănglađet.

- Không thỏa thuận với quy chế tự trị, Đảng Quốc đại đã lãnh đạo nhân dân Ấn

Độ đấu tranh đòi thực dân Anh phải trả độc lập hoàn toàn cho Ấn Độ Trước sức ép đấu tranh mạnh mẽ của phong trào quần chúng, thực dân Anh buộc phải công nhận hoàn toàn nền độc lập của Ấn Độ

- Ngày 26/1/1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập và nước Cộng hòa Ấn Độ chính thức được thành lập

- Sau khi giành độc lập về chính trị, Ấn Độ bước vào thực hiện những cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa nhằm xóa bỏ sự nghèo nàn và lạc hậu, thủ tiêu tàn tích xã hội cũ để xây dựng đất nước

Câu 13: Cho biết công cuộc xây dựng đất nước ở Ấn Độ ?

- Ấn Độ đạt được nhiều thành tựu to lớn về nông nghiệp và công nghiệp trong công cuộc xây dựng đất nước, đặc biệt là công nghiệp nặng, chế tạo máy, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

+ Nhờ tiến hành cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp mà Ấn Độ đã tự túc được lương thực và xuất khẩu gạo (1995) đứng hàng thứ 3 thế giới

+ Nền công nghiệp sản xuất được nhiều loại máy móc như máy bay, tàu thuỷ, xe hơi, đầu máy xe lửa và sử dụng năng lượng hạt nhân vào sản xuất điện Tốc độ tăng trưởng GDP 1995 là 7,4 %, năm 2000 là 3,9 %

- Khoa học – kĩ thuật: là cường quốc công nghệ phần mềm, công nghệ hạt nhân,

công nghệ vũ trụ (1974 thử thành công bom nguyên tử, 1975 phóng thành công vệ tinh nhân tạo ) Cuộc cách mạng chất xám đã đưa Ấn trở thành cường quốc phần mềm lớn nhất nhất thế giới

- Đối ngoại: theo đuổi chính sách hoà bình trung lập tích cực, là một trong những

nước đề xướng Phong trào không liên kết, luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc

- 7.1.1972, Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam

-BÀI 5: CHÂU PHI VÀ KHU VỰC MĨ LA TINH

Câu 14: Vài nét quá trình đấu tranh giành độc lập ở châu Phi sau chiến tranh thế giới thứ hai ?

* G i ai đoạn t ừ năm 1945 đ ế n năm 1954:

Phong trào nổ ra đầu tiên là ở Bắc Phi, mở đầu là cuộc chính biến cách mạng của binh lính và sĩ quan yêu nước Ai Cập (3/7/1952) đã lật đổ chế độ quân chủ và nền thống trị của thực dân Anh, thành lập nước Cộng hòa Ai Cập (18/6/1953)

* G i ai đoạn t ừ năm 1954 đ ế n năm 1960:

Chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam đã cổ vũ nhân dân , các nước Bắc Phi và Tây Phi đứng lên giành độc lập như: Angiêri (11/1954), Xuđăng, Tuynidi,

Marốc, Gana, Ghinê

* G i ai đoạn t ừ năm 1960 đ ế n năm 1975:

Năm 1960, có 17 nước châu Phi giành được độc lập được gọi là “Năm của châu Phi”, mở đầu giai đoạn phát triển của phong trào giải phóng dân tộc Tiếp đó là thắng lợi của cách mạng: Angiêri, Êtiôpia (1974), Môdămbích (1975), Ăngôla (1975) Cách mạng Ăngôla thắng lợi là mốc sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ cùng hệ thống thuộc địa bị sụp đổ sau 5 thế kỉ thống trị nước này

* G i ai đoạn t ừ năm 1975 d ế n năm nay:

Ngày đăng: 31/01/2015, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w