Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản quy định chỉ các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên mới được điều chỉnh dự án trong một số trường hợp.Quy định này chưa bảo đảm tính hợp lý và công bằng giữa các doanh nghiệp có vốn nhà nước và doanh nghịêp không có vốn nhà nước. Trong khi các dự án không phải vốn nhà nước do chủ đầu tư quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật thì bắt buộc phải thực hiện theo dự án đã được duyệt còn dự án có vốn nhà nước lại được.
Trang 11 Tính minh bạch 3 Tính hợp lý
STT Vấn đề Điều khoản trong
luật/văn bản dưới luật điều chỉnh vấn đề
Tiêu chí chưa đạt
Phân tích vấn đề (dựa trên các tiêu chí, nêu rõ khó khăn doanh nghiệp gặp
phải do quy định này, v.v…)
1 Quy định về
điều chỉnh Dự
án đầu tư xây
dựng công trình
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu
tư xây dựng cơ bản (Luật số 38) sửa đổi Điều 40 Luật Xây dựng
Tính thống nhất, tính hợp lý
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản quy định chỉ các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng 30%
vốn nhà nước trở lên mới được điều chỉnh dự án trong một số trường hợp
Quy định này chưa bảo đảm tính hợp lý và công bằng giữa các doanh nghiệp có vốn nhà nước và doanh nghịêp không có vốn nhà nước Trong khi các dự án không phải vốn nhà nước do chủ đầu tư quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật thì bắt buộc phải thực hiện theo dự án đã được duyệt còn dự án có vốn nhà nước lại được
Quy định này chưa thống nhất với quy định tại Điều 51 Luật Đầu tư về điều chỉnh
dự án đầu tư Theo đó, chủ đầu tư có quyền điều chỉnh dự án khi có nhu cầu và phải
Trang 2thực hiện một số thủ tục để cơ quan quản lý biết về sự điều chỉnh dự án.
Cần quy định các trường hợp dự án đầu tư xây dựng công trình được điều chỉnh đối với các dự án không phải vốn nhà nước Việc chỉ cho phép dự án có vốn nhà nước trên 30% được điều chỉnh là chưa bảo đảm tính công bằng và hợp lý giữa các loại hình doanh nghiệp
3 Quy định về
quản lý chi phí
dự án đầu tư
xây dựng công
trình
Khoản 4 Điều 1 Luật số 38 sửa đổi Điều 43 Luật Xây dựng
Tính khả thi, tính hợp lý
Khoản 4 Điều 1 Luật số 38 quy định: “Nhà nước thực hiện quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình, hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình”.
Quy định này chưa bảo đảm tính khả thi và hợp lý vì can thiệp quá sâu vào quyền
tự quyết định công việc kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước chỉ nên quy định các khung định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cần thiết để chủ đầu tư tham khảo khi xác định chi phí đầu tư
Cần bỏ quy định nêu trên trong khoản 4 Điều 1 Luật số 38, chỉ cần quy định cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng quy định khung định mức và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thụât để chủ đầu tư tham khảo khi xác định chi phí đầu tư Việc hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình đương nhiên thuộc thẩm quyền của cơ quan quản
Trang 3lý, nhưng chỉ nên áp dụng đối với dự án có vốn nhà nước trên 30%, còn các dự án khác thì có thể áp khảo áp dụng, chứ không nên bắt buộc, để tự chủ đầu tư quản lý và chịu trách nhiệm
5 Quy định về
khái niệm chủ
đầu tư xây dựng
công trình
Khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng
Tính thống nhất
Kho n 21 i u 3 Lu t Xây d ng ả Đ ề ậ ự quy nh: Ch đị ủ đầ ưu t xây d ng công trìnhự
l ngà ườ ở ữi s h u v n ho c l ngố ặ à ườ đượi c giao qu n lý v s d ng v n ả à ử ụ ố để đầ u
t xây d ng công trình.ư ự
Khái niệm này khác với khái niệm chủ đầu tư được quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Đầu tư: Chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chủ sở hữu hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư
Hai khái niệm này thực chất để xác định một chủ thể là chủ đầu tư nên cần phải thống nhất lại
Cần bỏ khái niệm chủ đầu tư xây dựng công trình trong Luật xây dựng và thực hiện thống nhất theo khái niệm chủ đầu
tư của Luật Đầu tư
7 Quy định về
quy hoạch xây
dựng đô thị
Chương II Luật Xây dựng
Tính thống nhất
Các quy định về quy hoạch xây dựng đô thị trong Luật Xây dựng đã có Luật Quy hoạch đô thị Vì vậy, pháp luật về xây dựng không cần quy định cụ thể về vấn đề này, gây trùng lặp trong hệ thống pháp lụât Các cơ quan quản lý chỉ cần hướng dẫn
Trang 4cơ chế phối hợp, lồng ghép nhất, kết nối, liên bảo đảm thống thông, tương thích giữa các loại quy hoạch, trong đó có quy hoạch xây dựng (quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành) và hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện quy hoạch công trình xây dựng
Cần thống nhất hiểu và áp dụng các quy định về quy hoạch ở một văn bản, Luật Quy hoạch đô thị đã có thì bỏ các quy định về quy hoạch đô thị trong Luật Xây dựng
9 Quy định về sự
cố công trình
xây dựng
Khoản 29 Điều 3 Luật Xây dựng Điều 5, 15 Nghị định
180/2007/NĐ-CP Điểm b khoản 5 Điều 4 Thông tư 24/2009/TT-BXD
Tính minh bạch, tính hợp lý
Khái niệm sự cố công trình xây dựng
Theo định nghĩa ở Điều 3 Luật Xây dựng: “sự cố công trình xây dựng là những
hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép, làm công trình có nguy cơ sụp đổ, đã sụp đổ một phần hay toàn bộ, hoặc công trình không thể sử dụng được theo thiết kế” Cụm từ “không thể sử dụng được theo thiết kế” chưa được giải thích chi tiết
nên đã có cách hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trên thực tế, đã có những công trình tuy gây ảnh hưởng rất nhẹ đến công trình lân cận, như nứt nhẹ tường, lún nhẹ nền (điều rất hay xảy ra ở các công trình xây dựng trong các đô thị của cả nước) nhưng được hiểu là không sử dụng được theo thiết kế, là sự cố và Thanh tra xây dựng địa phương tiến hành đình chỉ thi công
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 180/2007/NĐ-CP, công trình vi phạm trật tự
Trang 5xây dựng đô thị phải bị xử lý bao gồm “công trình có tác động đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư” Tuy nhiên, quy định này cũng
không được định lượng rõ ràng, gây khó khăn thêm cho việc áp dụng thực tế Đối với hành vi vi phạm trên thì chủ đầu tư bị buộc bồi thường thiệt hại mà hệ quả là mọi công trình phải bị đình chỉ thi công
Các quy định về xử phạt đối với các sự cố công trình
Điều 15 Nghị định 180/2007/NĐ-CP quy định về việc xử lý công trình xây dựng
ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận như sau: “Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:
a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; trường hợp các bên không thỏa thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại Tòa án;
b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại”.
Với những quy định về nội dung bồi thường thiệt hại không rõ ràng như trên thì việc áp dụng luật trên thực tế là rất khó khăn khi bên bị thiệt hại không có thiện chí trong việc thỏa thuận với chủ đầu tư hoặc yêu cầu mức bồi thường cao hơn thiệt hại
Trang 6thực tế.
(i) Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể về định lượng và định tính thế nào là sự cố công trình xây dựng; các mức độ cụ thể của từng sự cố Đối với mỗi sự cố khác nhau cần quy định các biện pháp xử lý
và chế tài khác nhau
(ii) Cần quy định cụ thể thời hạn tạm đình chỉ thi công tối đa (chẳng hạn 7 ngày) trong những trường hợp vi phạm trật
tự xây dựng, ảnh hưởng nhẹ đến công trình lân cận, để xác định mức độ hư hại thật sự về vật chất và để chủ đầu tư công trình gây ảnh hưởng tự sửa chữa, khắc phục triệt để Sau thời hạn 7 ngày, nếu kết quả kiểm tra cho thấy hư hỏng không đáng kể, phương án thi công sẽ không gây ảnh hưởng tiếp và chủ đầu tư đã khắc phục sửa chữa, bồi thường các thiệt hại thì công trình sẽ được phép tiếp tục thi công Nếu sau đó tiếp tục gây ảnh hưởng công trình lân cận thì mới buộc đình chỉ thi công để có giải pháp khắc phục triệt để Biện pháp đình chỉ thi công không xác định rõ thời gian chỉ áp dụng đối với công trình gây sự cố lớn cho công trình lân cận
11 Quy định về
điều chỉnh dự
toán, giá gói
Khoản 3.3, mục 3, Thông tư
09/2008/TT-BXD
Tính khả thi Theo quy định tại khoản 3.3, mục 3, Thông tư 09/2008/TT-BXD:
“Dự toán chi phí xây dựng bổ sung lập một lần trên cơ sở những khối lượng xây lắp chịu ảnh hưởng tăng (giảm) giá vật liệu xây dựng từ năm 2007”
Trang 7thầu, tổng mức
đầu tư
Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm duyệt giá vật tư và lúc thực hiện dự án cách nhau rất xa, trong khi tốc độ tăng giá của vật liệu trong một số thời điểm diễn ra quá nhanh và liên tục Điều này đã đẩy dự án xây dựng vào tình thế bị trượt giá đến 2, 3 lần, nhưng chỉ được lập Dự toán chi phí xây dựng bổ sung 1 lần Do vậy, doanh nghiệp có thể gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các dự án xây dựng dẫn đến thời gian thực hiện dự án bị kéo dài
Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về việc điều chỉnh dự toán, giá gói thầu, tổng mức đầu tư cho phù hợp với sự biến động về giá của xăng, dầu, sắt thép các loại, nhựa đường, xi măng, cát, đá, sỏi, gạch các loại, dây điện, cáp điện các loại, gỗ các loại, kính các loại để đảm bảo tính khả thi của các dự án xây dựng và sự chủ động của doanh nghiệp khi tham gia thực hiện dự án
13 Các quy định
về xử phạt vi
phạm trong lĩnh
vực xây dựng
Điều 11 Nghị định 23/2009/NĐ-CP
Tính minh bạch
Mức xử phạt:
Điều 11 Nghị định 23/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt các vi phạm hành
chính trong lĩnh vực xây dựng quy định công trình vi phạm xây dựng gồm nhà ở
riêng lẻ và “công trình khác” Trong đó mức phạt cho “công trình khác” từ 30 đến
40 triệu đồng, cao gấp nhiều lần so với nhà ở riêng lẻ Song thực tế tại địa phương,
Trang 8“công trình khác” bao gồm cả công trình xây dựng tường rào, ki ốt bán hàng hóa
nhỏ lẻ,… nên việc áp dụng mức phạt như trên là không phù hợp
Nghị định 23/2009/NĐ-CP Điều 28, 29, 30 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
Tính hợp lý Về thẩm quyền xử phạt:
Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 23/2009/NĐ-CP và Điều 28 Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã hiện nay là không quá 2 triệu đồng Cho nên Chủ tịch UBND cấp xã chỉ phạt được mỗi hành vi xây dựng sai phép ở nông thôn, còn lại phải chuyển lên
cho cấp trên trong khi lẽ ra cần phải xử phạt nhanh Theo quy định tại Điều 57, 60 Nghị định 23/2009/NĐ-CP thì Chủ tịch UBND cấp huyện và Chánh thanh tra xây
dựng của Sở Xây dựng cũng chỉ được phạt tối đa 30 triệu đồng, do đó với công trình không phải là nhà ở có mức phạt trên 30 triệu đồng đều phải chuyển cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quyết định xử phạt Trong nhiều trường hợp, Chủ tịch UBND cấp tỉnh lại chuyển hồ sơ cho Sở Xây dựng xem xét Quy trình này làm doanh nghiệp mất nhiều thời gian
Khuyến nghị:
(i) Cần quy định cụ thể khái niệm “công trình khác” với các mức độ vi phạm và mức phạt tương ứng cho phù hợp (ii) Cần sửa đổi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính để nâng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện và xã
Trang 916 Quy định về
quy trình thẩm
định dự án và
xin cấp phép
xây dựng
Điều 65 Luật Xây dựng
Điều 17 Nghị định
số 12/2009/NĐ-CP
Tính thống nhất
Hồ sơ xin cấp phép xây dựng:
Theo quy định tại Điều 65 Luật Xây dựng, tùy theo tính chất, địa điểm xây dựng,
công trình xây dựng phải đáp ứng các điều kiện về an toàn công trình, an toàn cho các công trình lân cận; đảm bảo yêu cầu về phòng chống cháy nổ, môi trường; đảm bảo các khoảng cách về an toàn lưới điện, giao thông, đê điều; đảm bảo độ tĩnh không; có các tài liệu chứng minh điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn thiết kế, chứng chỉ hành nghề xây dựng của cá nhân tham gia thiết kế công trình,… Trong
khi đó, hồ sơ xin cấp phép xây dựng được quy định tại Điều 17 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình chỉ bao gồm một số tài liệu nên chưa đủ thông tin và căn cứ để xem xét việc đáp ứng các điền kiện theo quy định của Luật Xây dựng Điều này đã dẫn đến thời gian cấp phép bị kéo dài
Luật Xây dựng
Tính hợp lý Thủ tục xin cấp phép:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xây dựng thì thủ tục cấp phép xây dựng
cần có đủ 3 loại giấy tờ: đơn xin cấp phép xây dựng, giấy tờ về quyền sở hữu nhà
và QSD đất, hồ sơ thiết kế công trình Nhưng trong thực tế triển khai, có nhiều nơi lại yêu cầu tới 7 loại giấy tờ mới tiến hành cấp phép
Trong thủ tục cấp phép xây dựng tạm nhà ở cho những nơi đã có quy hoạch nhưng
Trang 10chưa có quyết định thu hồi đất cũng không quy định rõ thời gian cấp phép Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong việc lựa chọn loại công trình xây dựng
Điều 66, 67 Luật Xây dựng
Tính khả thi Cơ quan cấp phép xây dựng:
Mặc dù Điều 66, 67 Luật Xây dựng đã quy định cơ quan cấp phép là đầu mối lấy ý
kiến của cơ quan liên quan và cơ quan liên quan phải có trách nhiệm trả lời đúng hạn về lĩnh vực quản lý của mình theo cơ chế “một cửa liên thông” nhưng vẫn còn tình trạng cơ quan cấp phép yêu cầu chủ đầu tư phải lấy ý kiến thỏa thuận của các
cơ quan về kiến trúc - quy hoạch, về chiều cao công trình, thẩm duyệt thiết kế phòng cháy chữa cháy,… Ngoài ra, khi cơ quan cấp phép đề nghị các cơ quan liên quan có ý kiến về lĩnh vực quản lý của mình thì các cơ quan này có ý kiến chậm hoặc nội dung tham gia rất sơ sài, nên thời gian để có được giấy phép bị kéo dài Trách nhiệm, chế tài đối với các cơ quan, cá nhân liên quan không cụ thể, chưa đủ sức răn đe dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu trong công tác cấp phép, gây bức xúc trong các doanh nghiệp
Trang 1119 Điều 66 Luật Xây
dựng Điều 23 Nghị định 12/2009/NĐ-CP
Tính hợp lý Về phân cấp cấp phép:
Hiện nay, việc phân cấp cấp phép xây dựng được quy định tại Điều 23 Nghị định 12/2009/NĐ-CP, theo hướng thực hiện cải cách thủ tục hành chính và phân cấp mạnh cho cơ sở (cấp huyện, xã) Việc phân cấp này phù hợp với các tỉnh, thành phố lớn vì bộ máy và năng lực quản lý của cấp huyện, xã ở các địa phương này đáp ứng được nhiệm vụ theo phân cấp Tuy nhiên, chưa phù hợp với các địa phương, nơi mà
bộ máy và năng lực quản lý của cấp huyện, xã còn yếu, dẫn đến nhiều khó khăn phát sinh cho doanh nghiệp khi hoàn thành các thủ tục liên quan đến xây dựng
Khuyến nghị:
(i) Sửa đổi và quy định cụ thể về hồ sơ xin cấp phép xây dựng trong Nghị định 12/2009/NĐ-CP cho phù hợp với Luật Xây dựng
(ii) Cần cải cách hành chính mạnh mẽ trong lĩnh vực cấp phép xây dựng Luật quy định rõ ràng, nhưng việc áp dụng luật vào thực tế lại nảy sinh rất nhiều vấn đề Vì vậy, cần thay đổi tư duy của những người thực thi pháp luật, nhằm thực hiện đúng quy trình cải cách hành chính, một cửa liên thông
21 Quy định về
xây dựng công
trình trong hành
lang an toàn
Điều 10 Luật Xây dựng
Tính thống nhất
Điều 10 Luật Xây dựng quy định c m m t sầ ộ ố h nh vi ho t à ạ động xây
d ngự , trong đó có xây dựng công trình nằm trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình giao thông, thuỷ lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hoá và khu vực bảo vệ các công trình khác theo quy
Trang 12lưới điện định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực có nguy cơ lở đất, lũ quét, trừ
những công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này
Quy định này không bao gồm việc cấm xây dựng trong hành lang an toàn lưới điện Điều đó không phù hợp với quy định t i Chạ ương VII Lu t i n l c.ậ Đ ệ ự
C n th ng nh t các quy ầ ố ấ định c a Lu t Xây d ng v L ât i n l c v trủ ậ ự à ụ Đ ệ ự ề ường h p n o thìợ à
c xây d ng trong h nh lang an to n l i i n
23 Quy định về
đấu thầu xây
dựng
Khoản 1 Điều 96 Luật Xây dựng Khoản 4 Điều 38 Luật Đấu thầu
Tính minh bạch
Về quy định lựa chọn nhà thầu:
Điểm b khoản 1 Điều 96 Luật Xây dựng yêu cầu trong hoạt động xây dựng phải
chọn được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành
nghề xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý Tuy nhiên, khoản 4 Điều 38 Luật
Đấu thầu lại quy định nhà thầu được chọn phải có “có chi phí thấp nhất trên cùng
một mặt bằng” Việc thống nhất giữa các tiêu chí “giá dự thầu hợp lý” và “có chi
phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng” là cần thiết Đặc biệt phải có tiêu chí cụ thể đánh giá thế nào là “giá dự thầu hợp lý” hay “chi phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng”
24 Khoản 24, Điều 3 Tính thống Khoản 24, Điều 3 Luật Xây dựng quy định nhà thầu chính là nhà thầu thực hiện