Dự thảo báo cáo rà soát luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 1DỰ THẢO BÁO CÁO RÀ SOÁT LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2005
Người thực hiện: 1 TS Nguyễn Văn Phương - Đại học Luật Hà nội
2 Dương Quang Long - Công ty Luật LEADCO
3 PGS TS Phạm Văn Lợi - Viện Khoa học Quản lý Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường
TIÊU CHÍ RÀ SOÁT
1 Tính minh bạch - Rõ ràng về hình thức:
+ Ngôn ngữ sử dụng có chính xác, dễ hiểu không?
+ Diễn đạt có rõ ràng không? Có thể bị hiểu theo nhiều cách khác nhau không?
- Rõ ràng trong các quy định áp dụng cho doanh nghiệp:
+ Rõ ràng về quyền và nghĩa vụ không?
+ Rõ ràng về các trình tự, thủ tục, chi phí (thời gian, phí, lệ phí) không?
- Có nguy cơ cho nhũng nhiễu, tham nhũng không?
2 Tính thống nhất - Có tuân thủ với các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn không?
- Có mâu thuẫn giữa các quy định trong bản thân văn bản đó không? Có mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác không?
- Có tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia không?
3 Tính hợp lý - Có đơn giản hóa được các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, giảm chi phí cho doanh nghiệp không?
- Có đưa ra những quy định bất hợp lý, cản trở quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp không?
- Có phù hợp với sự phát triển bền vững (về trách nhiệm của doanh nghiệp, về lợi ích của người tiêu dùng, về nguyên tắc cung-cầu và cạnh tranh bình đẳng…) không?
- Có phân biệt đối xử không?
4 Tính khả thi - Có khả năng doanh nghiệp thực hiện được trên thực tế không?
- Có khả năng cơ quan Nhà nước thực hiện trên thực tế được không? (điều kiện về tổ chức, nhân lực, vật lực)
Trang 2Các văn bản được rà soát
1 Luật Bảo vệ môi trường
2 Luật thương mại (2005)
3 Luật Hải quan (2001) được sửa đổi bổ sung năm 2006
4 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006
5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
11 Nghị định 149/2005/NĐ- CP ngày 08/12/2005 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu
12 Nghị định 21/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường
13 Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc
tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài
14 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môitrường
15 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn
16 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hoá chất
Trang 317 Nghị định 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 về phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản
18 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
19 Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP; Nghị định số
26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010 sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-26/2010/NĐ-CP
20 Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
21 Thông tư 43/2010/TT-BTNMT, ngày 29 tháng 12 năm 2010 Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
22 Quyết định 12/2006/QĐ - BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệuđược phép nhập khẩu làm nguyên liệu
23 Thông tư 02/2007/TTLT – BCT – BTNMT ngày 30/8/2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật BVMT về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanhnhập khẩu phế liệu
24 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 Về việc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm địnhbáo cáo đánh giá tác động môi trường
25 Thông tư 05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ tài nguyên và môi trường Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môitrường và cam kết bảo vệ môi trường
26 Thông tư 06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 140/2006/NĐ-CP của Chính phủ quyđịnh việc bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự ánphát triển
27 Thông tư liên tịch số 107/2010/TTLT-BTC ngày 26/07/2010 sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày18/12/2003 và Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTNMT ngày 6/9/2007 hướng dẫn về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Trang 4I Bối cảnh chung của pháp luật môi trường:
Xuất phát từ đặc thù môi trường là một khái niệm rộng, đa dạng và cấu thành từ nhiều thành phần môi trường nên quan hệ pháp luật bảo vệmôi trường đa dạng về chủ thể tham gia quan hệ xã hội, về khách thể quan hệ pháp luật và về nội dung quan hệ pháp luật Do đó, hệ thống phápluật môi trường của Việt Nam chứa đựng nhiều quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau và nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật
ở nhiều tầm hiệu lực pháp luật khác nhau từ Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh đến các văn bản do Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phươngban hành
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006) được coi là hạt nhân của hệ thống pháp luật môi trường, lànguồn cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, quy định những nguyên tắc chung, biện pháp và cách thức bảo vệ môi trường Các vănbản pháp luật chuyên ngành dựa trên các nguyên tắc pháp lý và những quy tắc chung đó để cụ thể hoá việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như: đất,nước, rừng, biển, tài nguyên rừng, khoáng sản, động vật, thực vật, bầu khí quyển
Mặc dù việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện phápluật về bảo vệ môi trường ở nước ta, đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực, chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế nhưng bản thân nó, do những nguyên nhân khác nhau, cũng còn chứa đựng những quy định bất cập, không phù hợp với thực tế đờisống xã hội, đôi khi còn chồng chéo, mâu thuẫn
Những hạn chế cơ bản của Luật bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể bao gồm:
1 Chưa có tư tưởng chỉ đạo rõ ràng trong việc kết hợp một cách có hiệu quả giữa ba mặt của sự phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và bảo vệmôi trường Biểu hiện của nó là chưa xem xét thoả đáng nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trườngtrong các quy định về bảo vệ môi trường, chưa nhìn nhận rõ, chính xác mối quan hệ giữa những quy định về bảo vệ môi trường và vấn đềbảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
2 Tính ổn định không cao: Có những nhóm quy định liên tục bị sửa đổi, ví dụ như vấn đề hướng dẫn thực hiện đánh giá tác động môi trườngđược quy định và sửa đổi trong các năm 2006, 2008, 2010 với những quy định rất khác biệt
Trang 53 Mặc dù nhiều nội dung, tinh thần mới trong chính sách bảo vệ môi trường được đưa vào trong Luật bảo vệ môi trường nhưng chỉ dừng lại ởnhững quy định chung chung và do đó để triển khai các quy định này cần có quy định hướng dẫn, cụ thể hóa Cho tới thời điểm này, cònnhiều quy định chưa được hướng dẫn thi hành nên các quy định này chưa đi vào cuộc sống.
4 Sau gần 6 năm thi hành, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã bộc lộ một số điểm chưa phù hợp với thực tế Nội dung của Luật bảo vệ môitrường có không ít những quy định không còn phù hợp, gây khó khăn, lúng túng trong việc áp dụng Bên cạnh đó, tình trạng pháp luậtchồng chéo, trùng lặp, thậm chí quy định khác nhau, không thống nhất trong cùng một vấn đề bảo vệ môi trường của các bộ, ngành, địaphương xẩy ra không ít cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế Trong khi đó, do sựphát triển nhanh và đa dạng của nền kinh tế mở cửa và hội nhập, nhiều loại hình kinh doanh với hình thức, cấp độ và công nghệ khác nhauđược triển khai tại Việt Nam, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật về môi trường phù hợp Song trên thực tế các quy định pháp luật về môitrường hiện hành đã chưa đáp ứng và chưa theo kịp thực tiễn sinh động này
Thực trạng này đòi hỏi việc Nhà nước phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường nói chung và Luật bảo vệ môi trường
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này nói riêng
II Nội dung rà soát và kiến nghị
1 Vấn đề 1: Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
STT Vấn đề Quy định liên
quan
Tiêu chí vi phạm
Tính thống nhất
Sau khi chuyển đổi “Tiêu chuẩn môi trường” thành Quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo Luật
Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thì Quy chuẩn kỹ thuật môi trường gồm hai loại quy chuẩn
kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải Điều 42 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định: máy móc, thiết bị, phương tiện,nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường Nhưvậy, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường là điều kiện để hàng hoá được phép nhập khẩu vào Việt
Trang 6- Thứ nhất, có thể hiểu đáp ứng “tiêu chuẩn môi trường” là việc tuân thủ “quy chuẩn kỹ thuật
môi trường” Theo quy định tại Điều 10 khoản 1 Luật bảo vệ môi trường 2005, Điều 1 Nghịđịnh 21/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môitrường và Điều 28 khoản 3 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 thì “Tiêu chuẩn môitrường” theo Luật bảo vệ môi trường được chuyển đổi thành “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường”,gồm hai loại quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật vềchất thải Theo cách hiểu này, ‘tiêu chuẩn môi trường” mà máy móc, thiết bị, phương tiện,nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng là quy chuẩn kỹ thuật vềchất lượng môi trường xung quanh hoặc quy chuẩn kỹ thuật về chất thải Với nội dung của quychuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải khôngthể đánh giá được các loại máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất,hàng hoá nhập khẩu có đáp ứng được các quy chuẩn này hay không
- Thứ hai, “tiêu chuẩn” mà hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ là các quy chuẩn chung theo Điều
28 khoản 1 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 bao gồm: quy chuẩn an toàn liên quanđến an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn dược phẩm, mỹ phẩm đối với sức khoẻcon người; đến vệ sinh, an toàn thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y,chế phẩm sinh học và hoá chất dùng cho động vật, thực vật; thuật quá trình quy định yêu cầu về
vệ sinh, an toàn trong quá trình sản xuất, khai thác, chế biến, bảo quản, vận hành, vận chuyển,
sử dụng, bảo trì sản phẩm, hàng hóa Nếu hiểu theo cách này, có thể đánh giá được tính hợp quycủa hàng hoá nhập khẩu so với quy chuẩn này Tuy nhiên, những quy chuẩn này không thuộcloại “tiêu chuẩn môi trường” sau khi dược chuyển đổi thành quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Trang 7Bất cứ hiểu theo cách nào thì quy định này cũng tạo ra mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật vàkhó khăn trong quá trình áp dụng
kỹ thuật môi trường đối với "phế liệu" Như vậy, chúng ta không có cơ sở pháp lý để ban hànhquy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nói chung và phế liệu nhập khẩu nói riêng
2 Mặc dù vậy, Bộ TNMT đã ban hành Thông tư 43/2010/TT-BTNMT, ngày 29 tháng 12 năm
2010 Quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với 03 loại phế liệu đượcphép nhập khẩu: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhậpkhẩu, mã số QCVN 31:2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phếliệu nhựa nhập khẩu, mã số QCVN 32:2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môitrường đối với phế liệu giấy nhập khẩu, mã số QCVN 33:2010/BTNMT Cho tới thời điểm này,trong 20 loại phế liệu được phép nhập khẩu theo QĐ 12/2006/QĐ – BTNMT ngày 8/9/2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệu được phépnhập khẩu làm nguyên liệu, Bộ TNMT mới chỉ ban hành 03 quy chuẩn kỹ thuật môi trường đốivới phế liệu được phép nhập khẩu nêu trên
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu giúp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầunhập khẩu biết được phạm vi, giới hạn tối đa cho phép các tạp chất được phép lẫn trong phế liệunhập khẩu và các vấn đề có liên quan đến chất lượng phế liệu nhập khẩu Quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường đối với phế liệu nhập khẩu cũng là căn cứ quan trọng cho quá trình kiểm soát của cơquan quản lý nhà nước
Thực trạng thiếu vắng những Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, là căn cứ pháp lý để phân biệt phếliệu được phép nhập khẩu và chất thải không được phép nhập khẩu, là nguyên nhân gây ranhững khó khăn cho cả chủ thể nhập khẩu phế liệu và cho cả cơ quan quản lý kiểm soát hoạt
Trang 8động nhập khẩu phế liệu trong quá trình thực thi pháp luậtVấn đề tương tự cũng phát sinh với việc thiếu vắng Quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối vớihàng hoá nhập khẩu
Khuyến nghị 1: sửa đổi Điều 10 Luật bảo vệ môi trường theo hướng liệt kê thêm các loại quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối
với hàng hoá nhập khẩu, quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu
Khuyến nghị 2 Sủa đổi việc sử dụng thuật ngữ “Tiêu chuẩn môi trường” trong tất cả các Điều khoản có sử dụng thuật ngữ
này của Luật bảo vệ môi trường thành thuật ngữ Quy chuẩn kỹ thuật môi trường và phải chỉ rõ trong đó phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật nào trong các quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Khuyến nghị 3 Sưả đổi điều 43 Luật BVMT theo hướng quy định thêm điều kiện của “phế liệu nhập khẩu phải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu”
Khuyến nghị 4 Nhanh chóng xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu và những
quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu còn thiếu
Vấn đề 2: Bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Thiếu quy định
Luật bảo vệ môi trường không đưa ra khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu Do đó, phải áp dụngkhái niệm xuất khẩu, nhập khẩu trong các lĩnh vực pháp luật khác
Điều 28 khoản 2 Luật thương mại (2005) xác định: "Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoáđược đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật" Các quy định củaLuật Hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy đinh “khu vực hải quan riêng bao
Trang 9Khi các doanh nghiệp trong khu vực này không có nhu cầu sử dụng phế liệu hoặc các doanhnghiệp trong các khu vực này phát sinh chất thải mà không có hệ thống xử lý chất thải thì chấtthải và phế liệu có thể được đưa ra ngoài khu vực này để tái chế, tái sử dụng và xử lý Dướigiác độ của luật thương mại, hoạt động này là hoạt động nhập khẩu chất thải, phế liệu vàoViệt Nam Hoạt động nhập khẩu này có đặc thù là chất thải, phế liệu được sản sinh ra trênlãnh thổ Việt Nam nhưng trong một khu vực có quy chế riêng về kinh tế Trong trường hợpkhông có quy định riêng, hành vi vận chuyển chất thải không có trong danh mục phế liệuđược phép nhập khẩu từ các khu vực kinh tế đặc biệt ra ngoài khu vực này là hành vi vi phạmpháp luật Điều 7 khoản 9 Luật BVMT cấm nhập khẩu chất thải dưới mọi hình thức
Nhưng nếu không vận chuyển ra ngoài khu vực này để tái chế hoặc xử lý thì các chất thải, cácphế liệu này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Việt Nam, không bảo đảm phát triển bềnvững
Khuyến nghị 1: Luật bảo vệ môi trường cần quy định khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu theo cách hiểu của pháp luật môi
trường theo hướng: hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chỉ bao hàm hoạt động đưa hàng hoá vào lãnh thổ Việt Nam từ nướcngoài hoặc đưa hàng hoá ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
Khuyến nghị 2 Cần xây dựng những quy định riêng đối với hoạt động nhập khẩu chất thải và phế liệu từ các khu vực có
Trang 10quy chế kinh tế đặc biệt nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường và bảo đảm tính phù hợp với đặcthù của hoạt động động này Nên quy định theo hướng áp dụng các quy định vận chuyển chất thải và phế liệu sản sinh ởtrong nước đối với các hoạt động đưa chất thải và phế liệu từ các khu vực có quy chế đặc biệt về kinh tế ra ngoài khu vựcnày
- BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyênliệu, Thông tư 02/2007/TTLT – BCT – BTNMT ngày 30/8/2007 hướng dẫn thực hiện Điều 43 Luật BVMT về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế
Tính minh bạch
Điều 43 khoản 1 điểm a Luật BVMT quy định phế liệu nhập khẩu phải đã được phân loại, làm sạch Tiêu chí đã được làm sạch là tiêu chí định tính và do đó không rõ ràng trong quy
định Đây là nguy cơ xảy xung đột giữa cơ quan quản lý nhà nước và người nhập khẩu; là nguy cơ tạo ra tham nhũng, nhũng nhiều
Tính thống nhất
Trong khi Điều 43 khoản 1 mục a Luật BVMT (2005) đã xác định điều kiện phế liệu đượcphép nhập khẩu là đã được phân loại, làm sạch thì tại Điều 43 khoản 1 mục b lại cho phép phếliệu có chứa những tạp chất không nguy hại Điều 43 khoản 1 mục b quy định: "không chứachất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp,vận chuyển" Như vậy, có thể hiểu rằng, trước khi "bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vậnchuyển" thì các tạp chất này lẫn trong phế liệu và như vậy các phế liệu nhập khẩu được phépchứa một số những tạp chất không nguy hại Khẳng định này còn được củng cố bởi quy địnhtại Điều 43 khoản 2 mục b về điều kiện của tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là: "có đủnăng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu" Nếu phế liệu đáp ứng đầy đủ yêucầu là được làm sạch thì việc pháp luật quy định bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩuphế liệu phải có năng lực xử lý tạp chất là không cần thiết Và nếu điều này là cần thiết nhằmbảo vệ môi trường chung thì rõ ràng pháp luật đã cho phép phế liệu chứa những tạp chấtkhông nguy hại, ít nhất được hiểu là chứa một tỉ lệ nhất định những tạp chất này Mặc dùtrong quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu không khẳng định rõ sự cho phép nhậpkhẩu những phế liệu có lẫn những tạp chất không nguy hại nhưng với những phân tích ở trênchúng ta thấy rõ sự cho phép đó Như vậy, các quy định nêu trên có tính chất loại trừ lẫnnhau Theo bất cứ cách hiểu nào thì cũng tạo ra sự mâu thuẫn giữa các quy định này và sẽ lànguyên nhân gây ra những khó khăn trong qua trình áp dụng pháp luật
Trang 11Tính hợp
lý, tính khả thi
Tại mục 18 Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu ban hành kèm theo
QĐ 12/2006/QĐ - BTNMT xác định các loại bao bì nhựa đựng nước khoáng, nước tinh khiết
đã qua sử dụng là loại phế liệu được phép nhập khẩu Như vậy, theo quy định này, chỉ các loạibao bì đựng nước khoáng hoặc nước tinh khiết đã qua sử dụng mới được phép nhập khẩu còn các bao bì nhựa đã đựng nước giải khát các loại như Coca cola, Pepsi, 7 up , hoặc đựng các sản phẩm khác sẽ không được phép nhập khẩu, kể cả trong trường hợp đáp ứng những điều kiện khác của các quy định về điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu Muốn được phép nhập khẩu, các loại chai nhựa này đã phải được băm, cắt với kích thước mỗi chiều của mẩu vụn không quá 5 cm
Một điều hiển nhiên là nếu các chai nhựa đựng Coca cola, Pepsi, 7 up nếu đã được làm sạchthì tính chất lý, hoá và nguy cơ gây ảnh hưởng tới môi trường không có sự khác biệt với chainhựa đựng nước khoáng, nước tinh khiết Trong trường hợp này, mặc dù không xuất hiệnnhững nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường nhưng nếu cho phép nhập khẩu sẽ vi phạmĐiều 43 khoản 1 mục c Luật BVMT và QĐ 12/2006/QĐ - BTNMT Hậu quả là doanh nghiệpnhập khẩu sẽ gánh chịu những thiệt hại về kinh tế phát sinh từ hoạt động nhập khẩu phế liệu Việc quy định mang tính chất liệt kê các loại phế liệu được phép nhập khẩu (Điều 43 khoản 1điểm c và 12/2006/QĐ – BTNMT) có thể tránh được sự tranh luận giữa cơ quan quản lý nhànước và doanh nghiệp nhập khẩu về loại phế liệu nhập khẩu có được phép hay không Mặc dù
Trang 12vậy, với xu hướng quy định: "chỉ được thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép", nhữngnhu cầu chính đáng trong việc sử dụng phế liệu làm nguyên liệu có thể sẽ không được đáp ứng,mặc dù hoạt động nhập khẩu này không có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Ví dụ,
có một số cơ sở sử dụng các loại phế liệu như lông vũ, vỏ bắp ngô, gỗ phế liệu, da lông cừu đãthuộc, mảnh da cừu vụn, vải vụn, sợi rối làm nguyên liệu và có nhu cầu nhập khẩu để đáp ứngnhu cầu sản xuất nhưng do Danh mục các phế liệu được phép nhập khẩu không liệt kê nên cácdoanh nghiệp không được phép nhập khẩu
Khuyến nghị 1 Cùng với việc thực hiện khuyến nghị 3 của vấn đề Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, nên bỏ yêu cầu đối với phế liệu được phép nhập khẩu được quy định tại điều 43 khoản 1 điểm a về nội dung: đã được phân loại, làm sạch
Khuyến nghị 2 Đổi mới hoạt động ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu theo hướng sử dụng tiêu chí những
vấn đề bảo vệ môi trường cần đáp ứng chứ không dựa vào nguồn gốc phát sinh phế liệu và mở rộng loại phế liệu đuợc phép nhập khẩu sau đó hướng tới ban hành danh mục chất thải thông thường để sử dụng nó như danh mục phế liệu được phép nhập khẩu
Khuyến nghị 3: Bỏ quy định cấm nhập khẩu hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm thuỷ tinh, kim loại, nhựa được quy định tại
và việc tiêu huỷ chúng Tuy nhiên, có những quy định của Công ước Basel uỷ quyền cho các quốc gia thành viên quy định cụ thể về những vấn đề nhất định Do đó, cần có những quy định
Trang 13về vấn đề này mới có thể thực thi những nội dung này của công ước
Việc thiếu những quy định này gây ra sự lúng túng cho cơ quan quản lý nhà nước và doanhnghiệp khi doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu chất thải
Khuyến nghị: Sửa đổi Luật bảo vệ môi trường theo hướng quy định rõ quyền được xuất khẩu chất thải của các chủ thể khác
nhau và uỷ quyền cho Chính phủ ban hành văn bản chi tiết hướng dẫn trình tự, thủ tục xuất khẩu chất thải Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành quy định này
Trong trường hợp không sủa đổi Luật BVMT, căn cứ Điều 14 khoản 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chính
phủ có thể ban hành nghị định về vấn đề này mà không cần sủa đổi Luật bảo vệ môi trường
Tính hợplý
Điều 42 khoản 2 mục b Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định cấm nhập khẩu máy móc, thiết
bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ
Với quan điểm cho rằng: hoạt động nhập khẩu các phương tiện giao thông vận tải về để phá
dỡ và hoạt động phá dỡ là nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và từ đócho rằng quy định cấm này là cần thiết
Xét về mặt lý luận thì có một số vấn đề cần xem xét lại:
- Thứ nhất, phải thấy rằng, pháp luật môi trường trong hoạt động nhập khẩu là “màng lọc” các
ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người Do đó, theo nguyên lý này, những hànghoá có ảnh hưởng lớn tới môi trường sẽ không được phép nhập khẩu vào Việt Nam và ngượclại, những hàng hoá không có ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng nhưng không lớn tới môi trường
sẽ được phép nhập khẩu Các phương tiện giao thông vận tài, trong đó có tàu biển, xét vềlượng chất thải phát sinh trong và sau khi phá dỡ cũng có nhiều loại, với những tỉ lệ phát sinhchất thải khác nhau, có loại phương tiện phát sinh nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguyhại nhưng cũng có những loại phương tiện phát sinh chất thải không lớn Bên cạnh đó, nếu sosánh việc phát sinh chất thải của một số loại hình sản xuất hiện nay thì có phương tiện giaothông vận tải, một số tàu biển đã qua sử dụng sẽ không làm phát sinh nhiều chất thải hơn so
Trang 14với ngành sản xuất đó Do đó, về mặt lý luận thì có thể không nên cấm hoàn toàn việc nhậpkhẩu phương tiện giao thông, tàu cũ để phá dỡ mà chỉ nên cấm một số loại có khả năng làmphát sinh nhiều chất thải, trong đó có chất thải nguy hại và cho phép nhập khẩu những loạiphương tiện giao thông vận tải, tàu cũ chứa ít chất thải với mục đích phá dỡ.
- Thứ hai, không thể lấy lý do các doanh nghiệp phá dỡ, phương tiện giao thông vận tài, tàu cũ
vi phạm pháp luật môi trường để cấm nhập khẩu Hành vi nhập khẩu phương tiện giao thôngvận tải, tàu cũ và phá dỡ làm phát sinh những nghĩa vụ pháp lý khác nhau Do đó, không thể
vì những vi phạm nghĩa vụ từ hành vi này mà cấm việc thực hiện hành vi khác Bên cạnh đó,trong trường hợp chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường (như không thực hiệnnghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, nghĩa vụ quản lý chất thải ) thì Nhà nước có thể ápdụng trách nhiệm pháp lý theo quy định, tương ứng với hành vi vi phạm
- Thứ ba, quy định cấm này thể hiện xu hướng: không quản lý được thì cấm của pháp luật
Các doanh nghiệp, các hiệp hội, đặc biệt là hiệp hội thép thì cho rằng quy định cấm này đã
“khai tử” một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh: nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ và không bảo đảm pháttriển bền vững
Khuyến nghị: Sửa đổi Điều 42 khoản 2 điểm b theo hướng: Cấm nhập khẩu phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng
không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường để phá dỡ (khuyến nghị cần được thực hiện với khuyến nghị 4 về quy chuẩn
kỹ thuật môi trường)
3 Vấn đề 3: Đánh giá tác động môi trường
Tính thống
Điều 18 khoản 1 Luật bảo vệ môi trường liệt kê7 nhóm dự án phải đánh giá tác động môi trường và tại Điều 18 khoản 2 xác định Chính phủ quy định danh mục các dự án phải lập Báo
Trang 15nhất cáo đánh giá tác động môi trường.
Tuy nhiên, Điều 65 khoản 1 Luật BVMT lại quy định “dự án khai thác nước dưới đất có công suất từ 10.000 mét khối trong mội ngày đêm phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường”
Do đó, mục 53 phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường trái với Điều 65 khoản 1 Luật BVMT khi quy định: Dự án khai thác nước để làm nguồn nước cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt có công suất khai thác từ 5.000 m3 nước/ngày đêm trở lên đối với nước dưới đất phải thực hiện đánh giá tác động môi trường
Điều 19 khoản 4 Luật BVMT quy định những trường hợp phải lập báo cáo đánh giá tác độngmôi trường bổ sung (trong trường hợp cần thiết) thì cũng với những trường hợp này, Điều 13khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiếnlược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường lại quy định phải lập lại báocáo đánh giá tác động môi trường Lập lại và bổ sung báo cáo đánh giá tác động môi trường
có những yêu cầu khác nhau Do đó, Điều 13 khoản 3 Nghị định hướng dẫn đã mâu thuẫn vớiĐiều 19 khoản 4 Luật BVMT
Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 tiếp tục uỷ quyền cho Bộtrưởng Bộ TNMT xem xét, quyết định những trường hợp phải thực hiện ĐTM Quy định nàymâu thuẫn với Điều 8 khoản 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Điều 8 khoản 1Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: Cơ quan được giao ban hành văn bảnquy định chi tiết không được ủy quyền tiếp
Tính minh bạch
Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môitrường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định: Các
dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phát sinh ngoài Phụ lục này do Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định Quy định này không rõ ràng trongquy định và từ đó không rõ ràng về nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường của chủ đầu tư Có
Trang 16thể bất cứ dự án đầu tư nào cũng có thể rơi vào trường hợp này vì đã đầu tư sây dựng mới là
có thể “tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường” Do đó, có thể có nguy cơ gâynhũng nhiễu, tham nhũng trên thực tế
Quy định này còn mâu thuẫn với Điều 18 khoản 2 Luật BVMTvì thẩm quyền danh mục các
dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường do Chính phủ quy định
Khuyến nghị 1: Để bảo đảm các quy định không tản mạn, tránh mâu thuẫn và linh hoạt nhằm bảo đảm quan điểm phát triển
bền vũng, cần bãi bỏ quy định tại Điều 65 khoản 1 Luật BVMT
Khuyến nghị 2: Phương án 1: Sửa Điều 13 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường theo hướng chỉ bắt buộc các đối tượng quy địnhtại điều khoản này phải đánh giá tác động môi trường bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất với Điều 19 khoản 4 Luật BVMT Phương án 2: Sẽ là tốt hơn cho môi trường và an toàn về mặt pháp lý cho chủ dự án khi xác định những trường hợp được quy định tại Điều 19 khoản 4 thực hiện lại báo cáo đánh giá tác động môi trường Do đó, sửa đổi Điều 19 khoản 4 theo hướng thay thế báo các đánh giá tác động môi trường bổ sung bằng lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường
Khuyến nghị 3: Bãi bỏ Mục 146 Phụ lục II Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường
chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
16 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánhgiá môi trường chiến lược, đánh
Tính thống nhất
Điều 19 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường chỉ quy định về điều kiện của Tổ chức dịch vụ tưvấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chứ không yêu cầu về điều kiện của chủ dự ánkhi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Trong khi đó Điều 16 khoản 1 Nghị định29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tácđộng môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định điều kiện của cả Tổ chức dịch vụ tưvấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và chủ dự án Đối tượng quy định tại Điều 16Nghị định 29/2011/NĐ-CP vượt ra ngoài phạm vi của Điều 19 khoản 5 Luật bảo vệ môitrường
Tính hợp Quy định về điều kiện của chủ dự án để được phép lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 17giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
lý tại Điều 16 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường đã ràng buộcphương thức thực hiện nghĩa vụ của chủ dự án, cản trở tính tự quyết của chủ dự án Việcquyết định tự mình thực hiện hoặc thuê người khác thực hiện nghĩa vụ là quyền của chủ dựán
(điều này bất hợp lý tương tự như việc phải có quy định: Bị cáo hoặc nguyên đơn, bị đơntrong các vụ án phải có trình độ nhất định về pháp luật, có thẻ Luật sư mới được tự bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình)
Tính khảthi
Với yêu cầu được quy định tại Điều Điều 16 khoản 1 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, tuyệt đại bộ phận các chủ dự án sẽ không đủ điều kiện để tự mình lập báo báo đánh giá tác động môi trường
Khuyến nghị: Sửa đổi Điều 16 khoản 1Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 theo hướng điều kiện này chỉ áp dụng
cho Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
2007 Về việc
Tính hợplý
Mặc dù các quy định này không quy định rõ ràng, cụ thể nhưng có thể thấy Tổ chức dịch vụthẩm định báo cáo ĐTM được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp khi đủ năng lựctheo yêu cầu của Quyết định số 19/2007/QĐ-BTNMT về việc ban hành Quy định về điều kiện
và hoạt động của dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Tuy nhiên, với quy định “cơ quan có thẩm quyền thẩm định quyết định việc tuyển chọn tổ
chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường” theo quy định tại Điều21khoản 7 Luật BVMT, Điều 19 khoản 3 Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011, Quyếtđịnh 19/2007/QĐ-BTNMT đã tạo ra “cơ chế xin - cho”, mặc dù Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT đã quy định về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục tuyển chọn tổ chức dịch vụthẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 18ban hành Quy định về điều kiện
và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Hoạt động của “Doanh nghiệp - Tổ chức dịch vụ báo cáo đánh giá tác động môi trường” hoàntoàn phụ thuộc vào việc “quyết định tuyển chọn” của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩmđịnh báo cáo đánh giá tác động môi trường không chỉ cản trở quyền tự quyết của chủ dự án cónghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, cản trở quiyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp màcòn có thể là nguyên nhân tạo ra nguy cơ nhũng nhiễu, tham nhũng hoặc Tổ chức dịch vuthẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là “doanh nghiệp sân sau” của cơ quan cóthẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trình tự thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bằng hình thức Tổ chức dịch vụthẩm định phức tạp Mọi giao dịch về giấy tờ, thủ tục giữa chủ dự án và Tổ chức dịch vụthẩm định đều phải thông qua cơ quan có thẩm quyền thẩm định
Khuyến nghị: Sửa đổi các quy định này theo hướng xã hội hoá hoạt động thẩm định như sau:
1 Xác định các loại dự án thẩm định thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (nhưquy định tại Điều 5 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT)
2 Trao cho chủ dự án có quyền lựa chọn Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
3 Trình tự thực hiện (mới) như sau: Chủ dự án tự lựa chọn Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môitrường và ký hợp đồng dịch vụ thẩm định với tổ chức này Tổ chức dịch vụ tiến hành thẩm định Trong trường chấtlượng báo cáo bảo đảm thì đưa ra kết luận, trong trường hợp chưa bảo đảm thì yêu cầu chủ dự án bổ sung, sửa chữa
và tiếp tục thẩm định lại sau khi chủ dự án đã sủa chữa, bổ sung Sau đó, báo cáo đánh giá tác động môi trường và kếtluận của Tổ chức dịch vụ thẩm định được nộp cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định
thiếu quy định
và quy định hướng
Mặc dù cả Hội đồng thẩm định và Tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môitrường là cơ quan tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môitrường nhưng pháp luật chỉ quy định trách nhiệm của tổ chức dịch vụ thẩm định đối với kếtluận thẩm định (Điều 7 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007),không có quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định Nhưng trách nhiệm của Tổ chức
Trang 19dẫn dịch vụ thẩm định cũng chỉ dừng lại là chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan
tuyển chọn dịch vụ thẩm định về kết quả thẩm định của mình mà không có quy định việc chịutrách nhiệm như thế nào?
Nếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và chủ dự án tuân thủ đầy đủ cácyêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng hoạt động của
dự án vẫn vi phạm pháp luật (ví dụ như vi phạm quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải),gây tổn hại tới môi trường gây thiệt hại thì chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm về hậu quả này? Với quy định hiện hành thì chỉ có cơ quan có thẩm quyền thẩm định chịu trách nhiệm Xu hướng quy định này phù hợp với vai trò, vị trí của cơ quan có thẩm quyền thẩm định và tổ chức tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định (Hội đồng thẩm định và Tổ chức dịch vụ thẩm định), nhưng làm phát sinh những vấn đề sau:
Thứ nhất, cùng là tổ chức tư vấn nhưng pháp luật không quy định thống nhất về trách nhiệm
với kết quản thẩm định giữa Hội động thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánhgiá tác động môi trường
Thứ hai, pháp luật không gắn trách nhiệm của Hội đồng thẩm định với kết luận của mình Thứ ba, mặc dù Điều 7 Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2007 có quy
định tổ chức dịnh vụ thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định của mìnhnhưng lại không quy định chịu trách nhiệm như thế nào
Do đó, pháp luật chưa gắn trách nhiệm của hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định với kết luận thẩm định của mình
Khuyến nghị: Bổ sung các quy định về trách nhiệm của Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định đối với kết luận
của mình theo hướng: trong trường hợp báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt mà dự án vẫn làm tổn hạiđến môi trường xuất phát từ chất lượng của báo cáo ĐTM thì Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định phải chịutrách nhiệm về hậu quả này như là cơ quan có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Trang 204 Vấn đề 4: Thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước
Bộ tài nguyên và môi trường Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, Thông tư06/2007 ngày 27/8/2007 của
Bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định
Tính minh bạch
Theo Luật VBM, có nhiều cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn thựuc hiện Luật BVMT nêntrong cùng một thời điểm tồn tại nhiều văn bản hướng dẫn đối với cùng một vấn đề với nộidung khác nhau:
Theo Điều 121 Luật bảo vệ môi trường, có quá nhiều bộ chủ quản chuyên ngành thực hiệnhoặc phối hợp thực hiện hướng dẫn việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường Mặc dù làlĩnh vực bảo vệ môi trường có đặc thù là lĩnh vực mang tính đa ngành, liên ngành cao nhưngviệc quy định quá nhiều cơ quan chủ trì, phối hợp nhưng không quy định sự phối hợp đó nhưthế nào dẫn tới việc về cùng một vấn đề (hướng dẫn đánh giá tác động môi trường và cam kếtbảo vệ môi trường của chủ dự án phát triển cụ thể) tồn tại hai văn bản hướng dẫn của hai bộkhác nhau (Thông tư 05/2008 ngày 8/12/2008 của Bộ tài nguyên và môi trường và Thông tư06/2007 ngày 27/8/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư ) Có thể thấy rằng, Thông tư 05/2008ngày 8/12/2008 của Bộ TN&MT chi tiết, cụ thể hơn Thông tư 06/2007 ngày 27/8/2007 của
Bộ KH&ĐT Tuy nhiên, về cùng một vấn đề tồn tại hai văn bản hướng dẫn cũng gây khókhăn, lúng túng cho cơ quan quản lý và chủ dự án khi thực hiện nghĩa vụ của mình
Có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền kiểm tra về một vấn đề:
Cũng theo Điều 121 Luật bảo vệ môi trường và Điều 126, nhiều bộ cùng có chức năng kiểmtra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân Quy định này tạo ra
cơ chế không rõ ràng về thẩm quyền kiểm tra của cơ quan nhà nước, có thể tạo ra những khókhăn không đáng có cho doanh nghiệp
Tính thống
Điều 44 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường có sự chồng chéo về thẩm quyền kiểm tra, thànhtra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của Bộ TN&MT được quy định tại Điều 121
Trang 21Khó quy trách nhiệm trong trường hợp không cơ quan nào thực hiện trách nhiệm:
Vì quy định nhiều cơ quan cùng thực hiện một, một số trách nhiệm quản lý nên khi xảy ratrường hợp không thực hiện được nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, sẽ khó xác định cơquan nào phải chịu trách nhiệm về tình trạng đó
Điều 44 khoản 5 Luật bảo vệ môi trường quy định: Bộ Công thương có trách nhiệm chủ trìphối hợp với các bộ, ngành thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh có liên quan tổ chức kiểm traviệc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản.Trong khi đó, hoạt động khoáng sản theo Luật khoáng sản bao gồm cả hoạt động khảo sát,thăm dò Như vậy, cơ quan nào sẽ thực hiện kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môitrường đối với cơ sở khảo sát, thăm dò khoáng sản
Khuyến nghị: Sửa đổi các quy định về thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường theo
hướng:
1 Bộ TNMT có trách nhiệm ban hành các quy định hướng dẫn, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường và thực hiện hoạtđộng kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể Trong trường hợp nội dung có liên quanđến các lĩnh vực như xây dựng, y tế, nông nghiệp , Bộ TNMT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ có liênquan xây dựng hướng dẫn và Bộ TNMT ban hành văn bản hướng dẫn Đối với hoạt động kiểm tra, trong trường hợphoạt động kiểm tra các chủ thể hoạt động trong những lĩnh vực như xây dựng, y tế, nông nghiệp , Bộ TNMT có thểyêu cầu bộ chuyên ngành phối hợp cùng thực hiện (Đoàn kiểm tra liên ngành)
Trang 222 Các Bộ quản lý ngành có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường của các chủ thể,doanh nghiệp thuộc ngành quản lý
5 Vấn đề 5: Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất và quản lý chất thải
59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 vềquản lý chất thải rắn, Điều 22 LuậtHoá chất, Điều
13, 14, 15 Nghị định
108/2008/NĐ-CPngày 7/10/2008 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi
Thiếu quy địnhthi hành
Điều 36 khoản 2, Điều 37 khoản 2, Điều 74 khoản 1 điểm d, Điều 75 khoản 1 điểm a, Điều 79khoản 1 điểm b Luật BVMT quy định các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm côngnghiệp và cơ sở sản xuất trong những ngành nghề, lĩnh vực được liệt kê tại các quy định này
“phải có khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên ”.Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ có quy định về phương pháp xác định khoảng cách antoàn đối với cơ sở sản xuất, cất giữ một số loại hoá chất nguy hiểm (quy định tại Điều 22 LuậtHoá chất và Điều 13, 14, 15 Nghị định 108/2008/NĐ-CP ngày 7/10/2008 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành Luật hoá chất)
Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn mới chỉ quy định trong nộidung quy hoạch quản lý chất thải rắn phải xác định vị trí cơ sở thu gom và xử lý chất thải rắn(Điều 7 khoản 2 điểm c) Có thể hiểu rằng, khi xác định vị trí cơ sở thu gom và xử lý chất thảirắn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khoảng cách an toàn đối với khu dâncư
Pháp luật chưa quy định về phương pháp xác định hoặc khoảng cách cụ thể áp dụng chonhững trường hợp còn lại