1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam

22 358 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam
Tác giả Trần Trọng Dinh, Trần Thị Cẩm Tú, Nguỵ Ngọc Trường, Nguyễn Hoà Bình, Hà Quỳnh Duyên, Lê Thị Hồng Ngân, Trịnh Thị Nguyệt Thức, Nguyễn Thị Băng Tâm, Trần Thị Phương Duyên, Khổng Thị Kim Oanh, Phạm Thị Phương Tâm, Trịnh Thị Thuý Kiều, Nguyễn Thị Mai Hương, Cao Bé Liễu, Phạm Thị Vân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 216 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

Mục lục……… … … 1

Danh sách nhóm……… . 2

Nhận xét của giáo viên……… 2

1 Phần I: vài nét về dollar hoá và thực trạng dollar hoá

tại Việt Nam……… . 3

1.1 Khái quát về dollar hoá……… … 3

1.1.1 Khái niệm dollar hoá……… . 3

1.1.2 Phân loại dollar hoá……… … …… … 3

1.2 Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam……… … 6

2 Phần II: nguyên nhân của tình trạng dollar hoá và những ảnh hưởng

của dollar hoá tới nền kinh tế Việt Nam……… 9

2.1 Nguyên nhân của tình trạng dollar hoá……….9

2.1.1 Nguyên nhân sâu xa……… 9

2.1.2 Nguyên nhân trực tiếp……… 9

2.2 Ảnh hưởng của tình trạng dollar hoá tới nền kinh tế Việt Nam… 12

2.2.1 Tác động tích cực……… . 12

2.2.2 Tác động tiêu cực……….13

3 Phần III: các quan điểm và kiến nghị……….16

3.1 Quan điểm của Nhà nước về dollar hoá……… … 16

3.2 Các giải pháp kiến nghị……… 16

3.2.1 Một số giải pháp được đề xuất……… … 16

3.2.2 Những hạn chế của các giải pháp đã được đề xuất………… .17

3.2.3 Một số kiến nghị có khả năng thực hiện……… … . 19

4 Kết luận……… . 22

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NỘI DUNG

Phần I: VÀI NÉT VỀ DOLLAR HOÁ VÀ THỰC TRẠNG

DOLLAR HOÁ TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát về dollar hoá

1.1.1 Khái niệm dollar hoá.

Thông thường mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, thực hiện đầyđủ các chức năng tiền tệ, trừ chức năng tiền tệ thế giới mà không phải đồng tiềnnào cũng làm được Một khi nền kinh tế có tỉ lệ lạm phát cao, sức mua đồng bảntệ giảm xuống thì người dân phải tìm đến các công cụ dự trữ giá trị khác, trongđó có các đồng ngoại tệ có uy tín Song song với chức năng làm phương tiện cấttrữ, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làmphương tiện thanh toán cũng như làm thước đo giá trị

Như vậy, trong một nền kinh tế, khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãithay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc trong một số chức của tiền tệ thì cóthể hiểu nền kinh tế đó bị “ngoại tệ hoá” hay “dollar hoá” Trên thế giới hiện nay,đồng USD là đồng tiền được ưa chuộng nhất do nó là một ngoại tệ mạnh có khảnăng chuyển đổi lớn nên thuật ngữ “dollar hoá” được xem là đồng nghĩa với

“ngoại tệ hoá”

Hiện tượng dollar hoá được biểu hiện ở một số nước có thể xác định qua cáchình thức:

- Đồng dollar được xử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, trong côngchúng qua các hành vi mua bán hàng hoá, trả phí dịch vụ, thanh toán nợ vàtạo lập tài sản bằng đồng dollar

- Hệ thống ngân hàng cho xử dụng rộng rãi các loại tiền gửi, tiền tiết kiệm,trái phiếu ngân hàng bằng đồng dollar và cho vay bằng đồng dollar

1.1.2 Phân loại dollar hoá

Theo IMF, tỉ lệ dollar hoá của một nền kinh tế được căn cứ vào tỉ lệ tiền gửingoại tệ với các ngân hàng so với lượng tiền cung ứng theo nghĩa rộng (M) Theocách tính này, IMF cho rằng nếu tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ trên M2 trong một nềnkinh tế lớn hơn 30% thì nền kinh tế đó có thể coi bị dollar hoá cao Theo đánhgiá của IMF quý I/2010, Việt Nam được xếp vào nước có mức độ “dollar hoávừa phải” với tỉ lệ khoảng 16.5%-18%

Trang 4

Về cơ bản, dollar hoá gồm 3 loại chính là: Dollar không hoá chính thức(unoficial dollarization), dollar hoá bán chính thức (semioficial dollarization) vàdollar hoá chính thức (official dollarization).

Dollar hoá không chính thức: là trường hợp ngoại tệ được sử dụng rộng rãi

trong nề kinh tế mặc dù không được quốc gia này chính thức thừa nhận Thuậtngữ “Dollar hoá không chính thức” bao gồm cả các trường hợp nắm giữ tài sản ởnước ngoài hợp pháp và không hợp pháp Ở một số nước, việc giữ một số tài sảnngoại tệ là hợp pháp như các tài khoản bằng USD tại các ngân hàng trong nước,nhưng lại không hợp pháp khi có tài khoản tại các ngân hàng nước ngoài trừ khiđược cấp phép

Dollar hoá không chính thức có thể gồm các loại sau:

- Các trái phiếu phi ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài;

- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài;

- Tiền gửi bằng ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước;

- Trái phiếu hay các giấy tờ có giá trị bằng ngoại tệ cất trong túi

Dollar hoá không chính thức được chia làm 3 giai đoạn:

Các nhà kinh tế thường gọi giai đoạn đầu của dollar hoá không chính thức làgiai đoạn “thay thế tài sản” (asset substitution) trong giai đoạn này, người dângiữ trái phiếu ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nước ngoài như một phương tiệncất trữ nhằm tránh việc giảm giá trị tài sản do lạm phát ở trong nước hay việc tịchthu tài sản xung công mà một số nước đã làm

Giai đoạn thứ hai của dollar hoá không chính thức được các nhà kinh tế gọi làgiai đoạn “thay thế tiền tệ” (currency substitution) Trong giai đoạn này, ngườidân giữ một khối lượng lớn các trái phiếu ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ tại cácngân hàng trong nước (nếu được phép) Ngoại tệ vừa thực hện chức năng làphương tiện thanh toán vừa là phương tiện cất trữ Tiền lương, thuế hay nhữngchi tiêu hằng ngày như tạp phẩm hay các hoá đơn điện được thanh toán bằng nộitệ, nhưng với các tài sản giá trị hơn như xe cộ, nhà cửa thường được trả bằngngoại tệ

Trong giai đoạn cuối cùng của dollar hoá không chính thức, giá cả của hànghoá được niêm yết bằng nội tệ nhưng mọi người đều liên tưởng đến ngoại tệ theotỷ giá hối đoái

Dollar hoá không chính thức rất phổ biến ở các nước đang phát triển

Trang 5

VD: Ở thời điểm tháng 1/2000, hầu hết các nước Mĩ_LaTinh và Caribe nhưArgentina, Bolivia, Mecico, Peru, Trung Mĩ; hầu hết các nước thuộc Liên Xô cũnhư Armenia, Azerbajian, Georgia, Nga và Ukraine; nhiều nước khác nhưMongolia, Mozambique, Romania, Thổ Nhĩ Kì và Việt Nam đều ở tình trạngdollar hoá không chính thức.

Dollar hoá bán chính thức: khoảng 12 nước trên thế giới được IMF xếp là

các nước “dollar hoá bán chính thức” hay có hệ thống lưu hành hai đồng tiền.VD: Bahamas, Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan, Liberia Ở các nước này, đồng ngoạitệ là đồng lưu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong hệ thống tiềngửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và các chitiêu hằng ngày Không giống các nước dollar hoá chính thức, các nước dollar hoábán chính thức duy trì Ngân hàng trung ương (NHTƯ) như một cơ quan tiền tệcó quyền hạng tương ứng để thực hiện các chính sách tiền tệ của họ

Dollar hoá chính thức: hay còn gọi là dollar hoá hoàn toàn (full dollarization)

xuất hiện khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩalà đồng ngoại tệ không chỉ sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tưnhân mà còn là hợp pháp trong các khoản thanh toán của chính phủ Nếu đồngnội tệ tồn tại thì nó chỉ là những đồng xu hay những đồng tiền mệnh giá nhỏ Cácnước thường chỉ áp dụng dollar hoá chính thức khi thất bại trong việc thực thicác chương trình ổn định kinh tế

Dollar hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệđược lưu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nước dollar hoá chính thức thường chỉchọn một đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp, chỉ có Andorra dùng cả đồngFranc của Pháp và đồng Petoza của Tây Ban Nha Ở hầu hết các nước dollar hoáchính thức, các đối tác tư nhân được quyền kí kết hợp đồng bằng bất kì đồngngoại tệ nào mà họ cùng đồng ý

Theo IMF, hiện có khoảng 14 nước được xếp là các nước dollar hoá chínhthức

Theo nghiên cứu của cục dự trữ liên bang Mĩ, hiện tại, người nước ngoài nắmgiữ khoảng 55% đến 70% số dollar Mĩ lưu hành Còn theo ước tính củaBundesbank, người nước ngoại nắm ngữ khoảng 40% số dollar Mĩ được lưuhành

Trang 6

1.2 Thực trạng dollar hoá ở Việt Nam

Việc xuất hiện tình trạng dollar hoá ở Việt Nam ai cũng có thể nhận biết rằng,chỉ sau những năm đầu của cuộc đổi mới kinh tế, Nhà nước và nhân dân mới códịp tiếp cận khá nhiều và thường xuyên sử dụng USD cho nhiều hoạt động sảnxuất kinh doanh và các nhu cầu của người dân Cũng thời điểm đó, người ta mớibắt đầu làm quen với tỷ giá hối đoái, quản lý ngoại hối, kinh tế ngoại tệ Côngcuộc đổi mới kinh tế đất nước thực sự làm cho mọi cánh cửa để phát triển kinhtế, giao lưu kinh tế với nước ngoài được mở theo nhiều hướng, đa dạng và phongphú Đặc biệt trong lĩnh vực ngoại hối, ngoại tệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài.Chính sách mở cửa của nhà nước không chỉ khuyến khích các nhà đầu tư nướcngoài mà còn động viên, cổ vũ các nhà đầu tư trong nước Đây chính là ngòi nổ,đột phá cho việc đẩy mạnh, phát triển và tăng cường mọi giao lưu kinh tế với bênngoài

Do vậy, Luật Đầu Tư Nhà Nước ra đời, luật quản lý ngoại hối được thông quađã mở cửa cho các đồng vốn nước ngoài và đồng USD nhanh chóng khẳng địnhvai trò của nó nhu có sẵn trên thị trường toàn cầu

Tình trạng dollar hoá ở Việt Nam có những biểu hiện chính sau:

Thứ nhất: Hệ thống ngân hàng sử dụng rộng rãi các nghiệp vụ bằng đồng

dollar

Có thể nói dư âm của lạm phát cao trên thế giới cuối thập khỉ 90 vẫn cònđọng lại trong tâm trí dân cư Mặt khác, lãi suất tiết kiệm USD tăng dần khiếndân cư lựa chọn giải pháp an toàn là tiết kiệm bằng đồng ngoại tệ Điều này làmlàm cho tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ trong tổng số vốn huy động của ngân hàng có

xu hướng tăng lên

Cơ cấu tiền gửi ngoại tệ trong tổng vốn huy động của hệ thống ngân hàng

ngân hàng năm 2000.]

Trang 7

Sự phát triển của nền kinh tế làm cho quan hệ thương mại giữa Việt Namngày càng đa dạng và mở rộng Để thanh toán cho các hoạt động buôn bán, cácbên xuất - nhập khẩu có thể sử dụng bất cứ đồng tiền của một quốc gia nào đótheo thoả thuận, thông thường là các đồng tiền mạnh Nghiệp vụ cho vay ngoại tệcủa NH nhờ đó mà tăng hơn.

Cơ cấu cho vay ngoại tệ trong tổng dư nợ của hệ thống Ngân hàng

Thứ hai: Các ngân hàng thương mại (NHTM) có khối lượng USD lớn ở các

NH nước ngoài được xem như là “Xuất khẩu tư bản”

Khi NH có sự chênh lệch giữa tỷ lệ tiền gửi và tỷ lệ tiền cho vay bằng ngoạitệ thì phần ngoại tệ chênh lệch đó sẽ được NH sử dụng để đầu tư kiếm lời chomình thông qua các hoạt động trên thị trường quốc tế

Tỷ trọng sử dụng vốn so với huy động ngoại tệ của hệ thống NH

2000 có xu hướng ngược lại, đầu tư tín dụng cho nền kinh tế chỉ chiếm một phần

Trang 8

vốn huy động Giải toả phần vốn huy động ngoại tệ dư thừa, các NH kinh doanhtrên thị trường tiền tệ quốc tế hay đầu tư vào trái phiếu Chính phủ.

Một mâu thuẫn nảy sinh là trong khi cán cân thương mại của cả nước là nhậpsiêu, cần phải có ngoại tệ để trang trải cho các nhu cầu nhập khẩu cấp bách vàcác doanh nghiệp thiếu vốn phải đi vay nước ngoài thì chúng ta gửi một khốilượng USD không nhỏ ở nước ngoài Sự “đảo hối” này do chính sách tiền tệ vànhững chính sách kinh tế vĩ mô khác tạo ra là chưa hợp lý

Thứ ba: Xu hướng sử dụng USD để tích luỹ tài sản danh nghĩa đặc biệt

dollar hoá phổ biến trong thời kì có lạm phát cao, tốc độ lưu thông tiền tệ trongnước tăng nhanh, USD lên giá liên tục với tốc độ tăng giá lớn hơn nhiều so vớichỉ số giá Năm 1988 là 432,6%; năm 1990 là 145,4% và năm 1991 là 203,1%.Đáng quan tâm là năm 1999 và 2000 trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng giảm0,5% (năm 1999 tăng 0,1%, năm 2000 giảm 0,6%) thì sức mua đối nội của VNDtăng lên, nhưng sức mua đối ngoại lại giảm 4,5% do tỷ giá VND/USD năm 1999giảm 1,1%, năm 2000 giảm 3,4% Tỷ giá từ đầu năm 2001 đến quý III/2001 tăngnhanh nhất nhưng chỉ số giá không tăng Từ đó việc sử dụng USD để tích luỹ tàisản danh nghĩa trở lên hấp dẫn hơn

Thứ tư: Đồng USD được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam một cách tương đối

phổ biến USD được sử dụng để biểu hiện giá trị và đo lường giá trị của các hànghoá dịch vụ Giá cả hàng hoá được công khai ấn định bằng USD và được đăng tảitrên các thông tin và giá cả thị trường

Thứ năm: Việc sử dụng USD đã nhiễm vào Việt Nam và trở thành như một

tập tục trong các hoạt động mua bán, thanh toán sinh hoạt với những tên gọi rấtđơn giản về đơn vị tiền tệ (100USD = 1 tờ = 1 vé) Hiện tượng này có thể thấy rõtrong những năm gần đây cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ Songsong với việc tồn tại thanh toán bằng VND thì ở các nhà hàng, khách sạn, siêuthị, khách hàng kể cả người dân trong nước hay người nước ngoài đề có thể dễdàng thanh toán bằng USD Hiện tượng sử dụng USD đã xâm nhập vào mọi hoạtđộng của người dân Viêt Nam, từ việc mua kinh kiện máy vi tính cho đếnphương tiện đi lại đều có thể dễ dàng giao dịch bằng USD

Ngoài ra, USD còn là phương tiện cất trữ thuận tiện, tổng hợp với các hoạtđộng kinh tế ngầm nhất là với các tổ chức buôn lậu

Trang 9

Phần II: NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG DOLLAR HOÁ

VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA DOLLAR HOÁ

ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Nguyên nhân của tình trạng dollar hoá

Hiện tượng dollar hoá đang là một vấn đề gây tranh cãi trong thời gian qua,các NH cũng như các nhà kinh tế học đã để xuất những ý kiến khác nhau vềnhững nguyên nhân nào gây ra tình trạng dollar hoá Họ đều phát hiện ra rằnghiện tượng dollar hoá thường xảy ra ở những nước có lạm phát cao và hậu quảcủa lạm phát Tuy nhiên lạm phát không phải là nguyên nhân duy nhất giải thíchhiện tượng dollar hoá trong thời kì hiện nay khi lạm phát đã được kiềm chế vàkiểm soát với tỷ lệ thấp

2.1.1 Nguyên nhân sâu xa

Tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của tình trạng dollar hoá ở Việt Nam cũng nhưcác nước trên thế giới thì đó là:

- Trình độ phát triển nền kinh tế, cùng tính chất của nền kinh tế đó Dollarhoá thường rơi vào các nước có trình độ phát triển còn thấp, các nước đangphát triển, đang trong quá trình chuyển đổi qua nền kinh tế thị trường Buônlậu chưa được kiểm soát nhất là buôn lậu qua biên giới, buôn bán tiểungạch

- Trình độ dân trí, cùng tâm lý người dân Các nước có trình độ dân trí chưacao, người dân còn thói quen nắm giữ vàng và dollar thì thường là nền kinhtế có mức dollar hoá cao

- Trình độ phát triển của hệ thống NH, nhất là hoạt động thanh toán Rõ ràngkhi hoạt động NH còn non trẻ, hoạt động thanh toán chưa phát triển, côngnghệ thanh toán còn lạc hậu, thì thường có tình trạng dollar hoá ở nền kinhtế

- Chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, cùng mức độ đảm bảo tínhnghiêm minh của cơ chế quản lý Nếu như đồng nội tệ ổn định, cơ chế quảnlý ngoại hối chặt chẽ, thì tình trạng dollar hoá nền kinh tế rất khó xảy ra

- Khả năng chuyển đổi đồng nội tệ - đồng tiền của quốc gia đó

2.1.2 Nguyên nhân trực tiếp

Ngoài những nguyên nhân trên, tình trạng dollar hoá còn do những yếu tố sau:

Trang 10

- Biến động về ngoại tệ tại hệ thống NH trong những năm qua đặc biệt là năm

1999 và 2000 chịu ảnh hưởng của tác động bên ngoài như sự mở rộng xuhướng toàn cầu hoá từ những năm 1990, hay việc gia nhập WTO; sự tăngtrưởng cao và ổn định của nền kinh tế Mĩ đã làm cho đồng dollar Mĩ ngàycàng có sức mạnh và có tính hấp dẫn hơn so với các đồng tiền khác, trongđó có cả đồng Việt Nam Thêm vào đó, từ năm 1997, cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ khu vực châu Á xảy ra đã có những tác động nhất định làmgiảm giá trị của đồng Việt Nam, và ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế trongnước Trong khi đó, thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp, với tâm lýmuốn tiết kiệm để lo cho cuộc sống tương lai thì người dân lựa chọn nhữngđồng tiền mạnh và ổn định

- Đồng dollar được sử dụng khá tự do, trong cơ chế quản lý ngoại hối củanước ta hiện nay, người Việt Nam được nhận kiều hối, tiền của người thângửi từ nước ngoài về bằng ngoại tệ không bắt buộc bán cho NH, nhận VNDnhư trước đây Trong bối cảnh VND liên tục giảm giá so với USD, lãi suấtUSD hấp dẫn nên rõ ràng họ không dại gì chuyển đổi sang đồng nội tệ-VND

- Trước diễn biến về tỷ giá thị trường việc bán ngoại tệ thì dễ mà mua lạingoại tệ của NH thì hết sức khó khăn Trong khi đó tỷ giá các tháng lại liêntục thay đổi Do đó, các doanh nghiệp sẽ hết sức tỉnh táo khi chỉ bán ngoạitệ theo tỷ lệ kết hối quy định, thậm chí còn chần trừ, trì hoãn việc bán mà đểtồn tại số dư ngoại tệ trên tài khoản là điều dễ hiểu

- Thu nhập USD trong tầng lớp dân cư tăng lên và mở rộng Đó là người ViệtNam làm việc ở công ty nước ngoài và tổ chức quốc tế ở Việt Nam, tiền chongười nước ngoài thuê nhà và kinh doanh khách sạn mini, kinh doanh dulịch, tiền của người Việt Nam đi xuất khẩu lao động hay đi du học, tiền kiềuhối gửi về, tiền của người Việt Nam đi dự hội thảo hay làm việc ngắn hạn ởnước ngoài mang về

- Người Việt Nam đi du lịch nước ngoài gia tăng nhanh chóng trong nhưngnăm gần đây Các công ty du lịch đề niêm yết, thông báo, quảng cáo giátour du lịch bằng USD Do đó, muốn du lịch phải có ngoại tệ, phải tích trữUSD Người Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài phải đặt cọc mộtkhoản bằng USD trong tài khoản NH, mà số lượng người này cũng tăng lên

Trang 11

rất nhanh chóng trong thời gian qua Bên cạnh đó, người Việt Nam đi duhọc nước ngoài bằng các hình thức khác nhau, chủ yếu là đi du học tự túcđang tăng lên gấp bội Muốn được chấp nhận vào học ở nước ngoài, ngườixin đi học phải chứng minh được năng lực tài chính của mình, thể hiện bằngsố dư ngoại tệ gửi ở các NH Việt Nam Tiếp đến trong quá trình học, giađình trong nước phải thường xuyên chuyển tiền cho con em mình theo họcbằng USD thông qua các NH, do đó phải có số dư tiền gửi USD tại các NHđể chuyển tiền ra nước ngoài cho con em du học.

- Cơ chế về lãi suất đã làm cho dollar hoá không giảm Thể hiện ở chỗ, từnăm 1991 đến nay, trong công cuộc chống lạm phát ở Việt Nam, lãi suất tíndụng NH (lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) đã được điều chỉnh hạ thấpnhiều lần Lãi suất tín dụng bằng VND luôn cao hơn lãi suất tín dụng bằngUSD Biên độ chênh lệch giữa lãi suất tín dụng bằng VND và USD tạo khehở cho việc lợi dụng ăn chênh lệch lãi suất, nhất là đối với các doanh nghiệpvay vốn và kích thích vay vốn tín dụng bằng USD làm cho khuyng hướngdollar hoá không giảm đi

- Với quy định số 08 NH/QĐ ngày 14/01/1991 và thông tư số01/20000NHNN7 ngày 24/2/2000, quyết định số 180/QĐ-TTG của Thủtướng Chính phủ về việc giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ từ 80% xuống 50% cácNHTM được nâng lãi xuất tiền tiết kiệm USD để thu hút ngoại tệ Khi vốnngoại tệ bị ứ đọng, các NHTM đã gửi vốn ra nước ngoài hưởng lãi suất caohơn lãi suất cho vay ngoại tệ ở trong nước Tất cả những điều chỉnh ấy đãkích thích người dân, các doanh nghiệp tìm kiếm nắm giữ ngoại tệ, chuyểndịch tài sản của họ từ VND sang USD bằng cách gửi tiết kiệm ngoại tệ vào

NH để được hưởng lãi suất kép (lãi tiết kiệm và tỷ giá)

- Mệnh giá của tờ VND thấp (năm 2001, đồng 100.000đ chỉ khoảng 7 USD;năm 2011, đồng 500.000đ khoảng 24.5 USD), thực chất chỉ đáp ứng nhữngnhu cầu lưu thông chi trả bình thường còn giá cả những mặt hàng thôngthường phải sử dụng tới các mệnh giá cao nhất Do đó việc sử dụng USDtrở nên rất thích hợp, thuận tiện trên nhiều phương diện Mệnh giá đồng tiềnchỉ là vấn đề kĩ thuật của chế độ tiền tệ nhưng nếu không thích ứng cũng làmột yếu tố để USD chiếm vị trí của đồng bản tệ và thúc đẩy qua trình dollarhoá

Ngày đăng: 29/03/2013, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w