Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng ngày nay là tạo ra và cung cấp các dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu. Một trong những dịch vụ quan trọng nhất là cho vay, và lãi từ hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn (khoảng trên 90%) trong tổng thu của ngân hàng.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TPCP Trái phiếu Chính phủ
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
I Lý thuyết chung về đầu tư 8 1 Khái niệm đầu tư 8
2 Phân loại các hoạt động đầu tư 8
3 Đầu tư chứng khoán 10
II Tổng quan về ngân hàng thương mại 11 1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 11
2 Các loại hình Ngân hàng thương mại 11
3 Chức năng của Ngân hàng thương mại 11
3.1 Trung gian tài chính 11
3.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán 12
3.3 Chức năng tạo ra tiền ̃bút tễ theo cấp số nhân 12
3.4 Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác 12
4 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương Mại 13
4.1 Nghiệp vụ Nợ ̃(Huy động vốn) 13
4.2 Nghiệp vụ "Có" (Sử dụng vốn) 13
4.2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ 13
4.2.2 Nghiệp vụ cho vay 14
4.2.3 Nghiệp vụ đầu tư (Đầu tư chứng khoán) 14
4.3 Nghiệp vụ trung gian (Dịch vụ ngân hàng) 15
III Hoạt động đầu tư chứng khoán của Ngân hàng thương mại 16 1 Vai trò của đầu tư chứng khoán 16
Trang 32 Các công cụ đầu tư của ngân hàng 17
2.1 Các công cụ trên thị trường tiền tệ 17
2.1.1 Tín phiếu kho bạc 17
2.1.2 Trái phiếu ngắn hạn của địa phương (Trái phiếu đô thị ngắn hạn) .18
2.1.3 Chứng chỉ tiền gửi 18
2.1.4 Kỳ phiếu thương mại 19
2.1.5 Giấy nợ ngắn hạn 19
2.2 Các công cụ trên thị trường vốn 19
2.2.1 Trái phiếu Chính phủ 20
2.2.2 Trái phiếu địa phương (Trái phiếu đô thị) 20
2.2.3 Trái phiếu công ty (hay Trái phiếu doanh nghiệp) 21
2.3 Các công cụ tài chính mới 21
3 Phân tích chứng khoán 23
3.1 Đầu tư cổ phiếu 23
3.2 Đầu tư trái phiếu 26
3.2.1 Định giá trái phiếu 26
3.2.2 Các phép đo lãi suất trái phiếu 26
4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư chứng khoán 27
4.1 Tỷ lệ thu nhập mong đợi 27
4.2 Tác động của thuế 28
4.3 Các loại rủi ro 29
CHƯƠNG II 31
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 31
I Giới thiệu chung về ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 31 1 Quá trình hình thành và phát triển 31
2. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam 32
Trang 43 Những thuận lợi và khó khăn mà Sở giao dịch NHNo&PTNT đang
gặp phải 33
II hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 34 1 Huy động vốn 34
2 Cho vay vốn 34
3 Kinh doanh ngoại tệ 34
4 Thanh toán quốc tế 35
III Đánh giá về hoạt động đầu tư của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 36 IV Đánh giá về hoạt động đầu tư chứng khoán của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 37 1 Vài nét về thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 37
2 Thực trạng đầu tư chứng khoán của NHNo&PTNT Việt Nam 39
3 Những hạn chế còn tồn tại vànguyên nhân 42
CHƯƠNG III 44
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI NHNO&PTNT 44
I Định hướng phát triển của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 44 1 Công tác nguồn vốn 44
2 Công tác sử dụng vốn 45
II Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán tại NHNo&PTNT 46 1 Áp dụng công cụ Trao đổi thuế 46
2. Áp dụng công cụ Trao đổi chứng khoán 46
3 Nâng cao chất lượng cán bộ ngân hàng 47
4 Thành lập ban xúc tiến hoạt động đầu tư chứng khoán 48
5 Áp dụng công nghệ hiện đại 48
6 Tăng cường công tác dự báo 48
Trang 57 Tổ chức và xây dựng cơ cấu sử dụng vốn hợp lý 50
8 Thu thập thông tin và tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo,nâng cao vị thế của ngân hàng 51
9 Sử dụng linh hoạt các chiến lược kỳ hạn đầu tư 52
1 Kiến nghị với Nhà nước 53
2 Kiến nghị với ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam 53KẾT LUẬN 55DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 6LỜi MỞ ĐẦU
Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng ngày nay là tạo ra và cung cấpcác dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu Một trong những dịch vụ quantrọng nhất là cho vay, và lãi từ hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn (khoảngtrên 90%) trong tổng thu của ngân hàng Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là cáckhoản vay có tính thanh khoản thấp, lại thuộc nhóm tài sản có mức rủi ro caonhất, đồng thời tất cả các khoản thu nhập từ cho vay đều chịu thuế Do vậy,ngân hàng không sử dụng toàn bộ vốn huy động để cho vay mà đã phân chiadanh mục tài sản của mình vào một loại hình tài sản sinh lời khác, đó là Đầu tưchứng khoán
Hiện nay, trong khi thị trường chứng khoán ở nước ta đang ngày càngphát triển và sôi động hơn, thì các ngân hàng thương mại (NHTM) lại chưa thựcsự chú trọng lắm vào hoạt động đầu tư Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn, em đã phần nào nắm được những nét đặctrưng về các hoạt động chính của ngân hàng, tình hình kinh doanh qua các nămvà cũng nhận thấy rằng, hoạt động đầu tư của ngân hàng vẫn còn đang trầmlặng
Với những thực tế đặt ra như vậy, em đã quyết định chọn đề tài “ ̉ Phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ”cho chuyên đề thực tập của mình Mục đíchcủa đề tài là Xác định các chứng khoán mà ngân hàng cần lựa chọn cho danhmục đầu tư của mình, đồng thời làm rõ hơn những yếu tố cần phải xem xét trướckhi đưa ra các quyết định đầu tư; trên cơ sở đó, nêu ra một số biện pháp nhằmthúc đẩy hoạt động đầu tư chứng khoán tại ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn
Theo bản chất kinh tế, đầu tư được phân thành 3 loại chính là: đầu tư tàichính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển Trong phạm vi nghiên cứu của đề
Trang 7tài, em chỉ xét đến hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại, mỔ cụ thể làhoạt động đầu tư chứng khoán Đề tài gồm 3 chương Chương I: “Những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư tại ngân hàng thương mại” ̃, trình bàytổng quan chung về đầu tư, về NHTM, cũng như lý thuyết chung về hoạt độngđầu tư tại NHTM Chương II: “̉Thực trạng đầu tư chứng khoán tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”̃, giới thiệu chung về quá trìnhhình thành phát triển, cơ cấu tổ chức và một số hoạt động kinh doanh của Sởgiao dịch NHNo&PTNT; đồng thời khái quát về Thị trường chứng khoán ở ViệtNam hiện nay và đánh giá về hoạt động đầu tư chứng khoán của ngân hàng.Cuối cùng là những giải pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư chứng khoán tại ngânhàng được trình bày trong Chương III: “Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn”̃.
Trong khi thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em cònnhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của tập thể cán bộ phòng Tín dụng thuộc Chinhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ, và sự tận tìnhchỉ bảo, giúp đỡ của ThS Phan Hữu Nghị Nhưng do hạn chế về trình độ và thờigian, và đây cũng là một đề tài mới, chủ yếu mang tính gợi mở, nên bài viết của
em không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai lệch, em rất mong được sự giúp đỡ,góp ý của các thầy cô, các bạn Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 8CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN TẠi NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Trong định nghĩa trên, ta cần làm sáng tỏ hai khái niệm, đó là Nguồn lựcvà Kết quả Nguồn lực ở đây phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiênnhiên, là sức lao động và trí tuệ Còn những kết quả đạt được có thể là sự tăngthêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cóđủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Đầu tư theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồnlực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả tong tương lailớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
4 Phân loại các hoạt động đầu tư.
Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư, các nhà kinh tếđã phân loại hoạt động đầu tư theo các tiêu thức khác nhau, như: theo bản chấtkinh tế của các đối tượng đầu tư, theo cơ cấu tái sản xuất, theo phân cấp quảnlýẶ Trong khuôn khổ hạn hẹp của chuyên đề, em chỉ xin trình bày các loại đầu
tư trong phạm vi quốc gia, đó là:
Đầu tư tài chính;
Đầu tư thương mại; và
Đầu tư phát triển
Đầu tư tài chính, hay còn gọi là đầu tư tài sản tài chính, là loại đầu tưtrong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để
Trang 9hưởng lãi suất định trước (chẳng hạn như gửi tiết kiệm hay mua trái phiếu chínhphủ), hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty phát hành (trong trường hợp mua cổ phiếu, trái phiếu công ty) Đầu tưtài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệquốc tế trong lĩnh vực này), mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức,cá nhân đầu tư Đặc điểm của hình thức đầu tư tài chính này là vốn bỏ ra đầu tưđược lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiếtkiệm, chuyển nhượng trái phiếu cho người khác), và đặc biệt, đây là một nguồncung cáp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra muahàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giákhi mua và khi bán Cũng giống như Đầu tư tài chính, Đầu tư thương mại khôngtạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làmtăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyểngiao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và người đầu tưvới khách hàng của họ Đầu tư thương mại có vai trò lớn trong việc thúc đẩy quátrình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, hay nói cách khác,đầu tư thương mại đã góp phần tiêu thụ hàng hoá cho đầu tư phát triển, tăng thucho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ vàcho cả nền sản xuất xã hội
Khác với hai loại đầu tư trên, có một loại đầu tư không chỉ trực tiếp làmtăng tài sản của người chủ đầu tư mà còn cả của nền kinh tế, đó chính là Đầu tưphát triển Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư tài sản vật chất và sức laođộng trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạtđộng xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để ta việc làm, nâng cao đời sống củamọi người dân trong xã hội Trên giác độ tài chính thì đầu tư phát triển là quátrình chi tiêu để duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có bổ sung
Trang 10vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế xã hội trong dài hạn.
Như vậy, đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển là 3 loạiđầu tư luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiềnđề để tăng tích luỹ, phát triển hoạt động đầu tư tại chính và đầu tư thương mại.Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại lại hỗ trợ và tạo điều kiện đểtăng cường đầu tư phát triển
Đầu tư chứng khoán là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vayhoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳthuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà phát hành
Do chứng khoán là các tài sản tài chính (là giấy tờ có giá, chứng chỉ hoặcbút toán ghi sổ), nên đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư tài chính Nếucăn cứ vào loại công cụ đầu tư, có thể phân thành Đầu tư Trái phiếu chính phủ,Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, và Đầu tư cổ phiếu.Với cách phân loại này, cácnhà quản lý có thể xây dựng được danh mục đầu tư với mức độ rủi ro phù hợp,trên cơ sở đó dễ dàng thay đổi kết cấu danh mục đầu tư
Nếu xét theo mục đích đầu tư, có thể phân loại đầu tư chứng khoán thànhĐầu tư hưởng lợi tức, và Đầu tư nắm quyền quản lý, kiểm soát tổ chức pháthành Trong hoạt động đầu tư hưởng lợi tức, nhà đầu tư có thể mua trái phiếuChính phủ (TPCP), trái phiếu và cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành Còn khiđầu tư chứng khoán với mục đích nắm quyền sở hữu (hay nằm quyền quản lý,kiểm soát tổ chức phát hành), nhà đầu tư có thể phát triển lĩnh vực kinh doanhmới thông qua thâu tóm và sáp nhập Việc phân loại này giúp cho các nhà quả lý
có thể kiểm soát được hoạt động đầu tư theo các mục đích được xác định
Trang 11II TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Ngân hàng Thương Mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnhvực tiền tệ tín dụng, là doanh nghiệp tiến hành thường xuyên các nghiệp vụ huyđộng vốn, làm công tác tín dụng, cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiệnnghiệp vụ chiết khấu và cung cấp các nghiệp vụ tài chính khác
Tuỳ theo yêu cầu của người quản lý mà NHTM có thể được phân loạitheo nhiều tiêu thức khác nhau:
Theo hình thức sở hữu, NHTM được phân thành:
Ngân hàng sở hữu tư nhân
Ngân hàng sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng Cổ phần)
Ngân hàng sở hữu Nhà nước
Ngân hàng liên doanh
Theo tính chất hoạt động:
NHTM có tính chất đơn năng
NHTM có tính chất đa năng
Theo cơ cấu tổ chức:
Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty
Ngân hàng đơn nhất và ngân hàng có chi nhánh
1.1 Trung gian tài chính.
Hoạt động chủ yếu của NHTM là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, bằngcách thu nhận những đồng tiền nhàn rỗi của các cá nhân và tổ chức thặng dưtrong chi tiêu, và đem số tiền đó cho vay những cá nhân và tổ chức đang tạmthời thâm hụt chi tiêu hay đầu tư vượt quá thu nhập
Với chức năng là trung gian tài chính, Ỏcầu nốiÕ giữa cung và cầu vốntrong xã hội, NHTM đã làm tăng thu nhập cho những người tiết kiệm, đồng thời
Trang 12giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư, từ đó góp phần khuyến khích tiết kiệmvà đầu tư, tạo sự thông thoáng cho các dòng tiền lưu thông trong nền kinh tế
1.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
Ngân hàng thương mại tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiềntheo lệnh của chủ tài khoản, đồng thời còn cung cấp cho xã hội các phương tiệnthanh toán trong nước và quốc tế hữu hiệu như Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiệm chi,Các loại thẻẶ Nhờ đó, các khách hàng của ngân hàng không phải chi trả chonhau bằng những bao tiền mặt rất tốn kém mà chỉ cần gửi lệnh cho ngân hàngthông qua các phương tiện thanh toán, ngân hàng ngay lập tức sẽ ghi nợ tàikhoản của người này, ghi có tài khoản người kia một cách nhanh nhất
1.3 Chức năng tạo ra tiền “bút tệ” theo cấp số nhân.
Vào thế kỷ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các ngânhàng không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó ngânhàng Trung ương là cơ quan Nhà nước quản lý về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làngân hàng của các ngân hàng, còn các NHTM thì chuyên kinh doanh tiền tệ.Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các NHTM đã tạo ra bút tệ, thay thế cho tiềnmặt Đây là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhậntiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụtín dụng thanh toán qua nhiều ngân hàng
1.4 Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác.
Ngân hàng thương mại thực hiện tư vấn về tài chính và đầu tư cho cácdoanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếuẶ Đối với các doanhnghiệp muốn phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp, họ có thể nhờ ngânhàng cung cấp các dịch vụ như: lựa chọn loại chứng khoán phát hành, tư vấn vềlợi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác Ngoài
ra, NHTM còn cung cấp dịch vụ lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách
Trang 13hàng; đồng thời cũng là một tổ chức tham gia tích cực trên thị trường tiền tệ vàthị trường vốn nhằm thoả mãn các nhu cầu trên thị trường.
Hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm ba lĩnh vực nghiệp vụ:
Nghiệp vụ ỎNợÕ (Huy động vốn);
Nghiệp vụ ỎCóÕ (Sử dụng vốn); và
Nghiệp vụ trung gian (dịch vụ ngân hàng)
2.1 Nghiệp vụ “Nợ” ̃(Huy động vốn).
Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn bằng nhiều cách thức khácnhau như: Khuyến khích khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng mình,Phát hành trái phiếu, kỳ phiếu,Ặ hoặc Vay vốn của Ngân hàng Trung Ương vàcủa các tổ chức tín dụng khác
Trong các hình thức huy động trên, huy động bằng tiền gửi chiếm tỷ trọnglớn nhất (thường trên 50 %) Tiền gửi ở đây có thể là không kỳ hạn, có kỳ hạn,tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi tiết kiệm, và đây cũng chính là nguồn huy độngthường xuyên của các NHTM Trong trường hợp cần cần huy động một lượngvốn lớn ngay một lúc, ngân hàng thường sử dụng phương thức phát hành tráiphiếu, kỳ phiếu với các mức lãi suất ưu đãi nhất định Còn nếu muốn mở rộngnguồn vốn hoạt động hoặc đáp ứng khả năng thanh toán và chi trả cho kháchhàng, các NHTM sẽ vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, hoặcvay của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái thếchấp, vay thanh toán bù trừ bằng cả nội tệ và ngoại tệ
2.2 Nghiệp vụ “Có” ̃ (Sử dụng vốn).
Theo qui định của pháp luật, các NHTM phải thường xuyên duy trì mộtphần tài sản của mình dưới dạng tiền dự trữ bao gồm: tiền mặt, tiền gửi tại Ngânhàng Nhà nước và các ngân hàng khác Mục đích của việc dự trữ này là để đảm
Trang 14bảo khả năng thanh toán khi có các luồng tiền rút ra Thông thường, các NHTMkhông dự trữ nhiều tiền mặt bởi các khoản tiền dự trữ này không sinh lời.
Đây là hoạt động chủ lực của bất kỳ một NHTM nào và nguồn thu từ hoạtđộng này thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu của ngân hàng Tuy nhiên đâycũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất NHTM cấp tín dụng cho khách hàngdưới các hình thức chủ yếu như: Thấu chi, Chiết khấu thương phiếu, Tín dụngbảo lãnh, Tín dụng thuê mua, Bao tiêu thanh toán, Tín dụng chứng từẶ
Ngân hàng thương mại tiến hành đầu tư chứng khoán nhằm mục đích tăngtính đa dạng trong hoạt động, tăng lợi tức, lợi ích về thuế và trợ giúp thanhkhoản Đầu tư, bên cạnh cho vay, cũng là một hoạt động đem lại thu nhập choNHTM Đầu tư và cho vay đôi khi đều được gọi chung là hoạt động Ỏđầu tưÕ,nhưng giữa chúng có một vài khác nhau dễ phân biệt như:
Tiến hành lựa chọn từ một loạt các
chứng khoán hiện có với các kỳ
hạn định sẵn
Thường là một hoạt động trực diện vớikhách hàng thông qua các cuộc thươnglượng
Ngân hàng chủ động khởi xướng
việc giao dịch
Người vay chủ động khởi xướng việc giaodịch
Ngân hàng thường là một trong
Trang 152.3 Nghiệp vụ trung gian (Dịch vụ ngân hàng).
Với những thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanhnghiệp, NHTM có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các doanh nghiệp,làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu, Cho thuê két ngân buổi tối, làm dịchvụ tín thác hoặc uỷ thác ngân hàng, Hùn vốn liên doanh với các đơn vị trong vàngoài nước, Tự nghiên cứu thiết lập các dự án đầu tư rồi kêu gọi các doanhnghiệp cùng đầu tư
Trang 16III HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
3 Vai trò của đầu tư chứng khoán.
Bất cứ một NHTM nào, sau khi đáp ứng các quy định về dự trữ bắt buộc,đều phân bổ quỹ vốn của mình theo thứ tự ưu tiên sau: Đảm bảo nhu cầu thanhtoán cho khách hàng khi họ rút tiền (hay Đảm bảo dự phòng cho các nhu cầuthanh khoản), Đáp ứng nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế, và cuối cùng mới làĐầu tư chứng khoán
Mặc dù tín dụng là hoạt động đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng,nhưng phải lúc nào tất cả nguồn vốn của ngân hàng đều được sử dụng để chovay Thông thường, ngân hàng sẽ dành ra từ một phần năm tới một phần baTổng nguồn vốn, cho những khoản mục đầu tư sinh lời khác như đầu tư vào cáckhoản chứng khoán Đối với NHTM, hoạt động đầu tư chứng khoán có một vaitrò đáng kể bởi nó thực hiện được các chức năng quan trọng sau:
- Ổn định hóa thu nhập của ngân hàng: Nhằm tạo cân bằng về thu nhậpcho ngân hàng trong chu kỳ kinh doanh Khi thu nhập từ các khoản tín dụnggiảm xuống th́ thu nhập chứng khoán có thể có thể bù đắp lại
- Bù trừ rủi ro tín dụng: Các chứng khoán có rủi ro thấp có thể được ngânhàng mua và giữ lại để cân bằng với rủi ro tín dụng
- Cung cấp một sự đa dạng hoá về mặt địa lý, do chứng khoán thườngxuất phát từ nhiều khu vực khác nhau hơn so với các khoản tín dụng của ngânhàng
- Cung cấp dự trữ cho ngân hàng: Với chứng khoán có khả năng thanhkhoản cao, nên dễ chuyển hoá thành ti ền hoặc có thể được dùng cho việc cầmcố để vay vốn bổ sung cho ngân hàng
- Giảm nghĩa vụ nộp thuế của ngân hàng: Chứng khoán có loại phải nộpthuế và có loại không phải nộp thuế, nên đây là khoản đầu tư bù trừ thu nhậpchịu thuế do các khoản tín dụng
- Đem lại tính năng động cho danh mục tài sản: Không như phần lớn cáckhoản vay, các chứng khoán đầu tư có thể mua được mua và bán nhanh chóng
Trang 17Mối quan hệ giữa đầu tư chứng khoán và Ngân quỹ của ngân hàng đượcthể hiện qua sơ đồ sau:
Khi ngân quỹ dồi dào, cũng đồng nghĩa với nhu cầu vay vốn thấp, NHTM
có thể đầu tư vào chứng khoán để giảm bớt chi phí vốn Ngược lại, khi thiếu hụtngân quỹ, hay nhu cầu vốn tăng, NHTM có thể tiến hành bán chứng khoán đangnắm giữ Như vậy, đầu tư chứng khoán còn giúp NHTM yên tâm hơn trong vấnđề quản lý tài sản, không gây áp lực đối với ngân quỹ
4 Các công cụ đầu tư của ngân hàng.
4.1 Các công cụ trên thị trường tiền tệ.
Do có thời gian đáo hạn là ngắn hạn, những công cụ tài chính trên thịtrường tiền tệ có đặc điểm là có tính rủi ro, mức độ dao động giá thấp và do đóđầu tư vào các công cụ này sẽ có ít rủi ro nhất
Tín phiếu kho bạc là công cụ nợ ngắn hạn của Chính phủ, thường đượcphát hành với kỳ hạn thanh toán là 3, 6 và 12 tháng Chúng được trả lãi với mứclãi suất cố định và được hoàn trả vốn khi đến hạn thanh toán hoặc được thanhtoán lãi do việc bán lần đầu có giảm giá, tức là, với giá thấp hơn so với khoảntiền đã định được thanh toán khi hết hạn (hình thức chiết khấu)
Tín phiếu kho bạc là loại có tính lỏng và an toàn nhất trong tất cả cáccông cụ trên thị trường tiền tệ, do vậy, chúng được ưa chuộng và mua bán nhiềunhất trên thị trường Sở dĩ tín phiếu kho bạc là loại công cụ an toàn nhất trongtất cả các loại công cụ ở thị trường tiền tệ vì được sự bảo đảm chi trả của Chínhphủ
Ngân quỹ
Tăng đầu tư chứng khoán khi ngân quỹ dồi
àoBán chứng khoán khi thiếu hụt ngân quỹ
Trang 18BẢNG 1 CẦC CHỨNG KHOẦN TRấN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Tín phiếu kho
Kỳ phiếu thương mạiGiấy nợ
- An toàn
- Lai suấtcao hơn tínphiếu khobạc
- Rủi rothấp
- Lãi tươngđối cao
- Thế chấptốt
- Rủi rothấp
- Lăi suấtcao
Khả năngbán lạitrong dàihạn thấp
Thị trườngbán lại hạnchế
- Giá biếnđộng
- Thịtrường tiêuthụ hạn chếTín phiếu kho bạc là công cụ được nắm giữ chủ yếu bởi các NHTM,ngoài ra cũng có một lượng nhỏ các hộ gia đình, các công ty và các trung giantài chính khác năm giữ tín phiếu kho bạc Các NHTM nắm giữ tín phiếu kho bạcngoài mục đích đầu tư nguồn vốn đang đóng băng để hưởng lợi tức, còn sử dụngtín phiếu kho bạc như là khoản dự trữ cấp hai
Ngoài ra, tín phiếu kho bạc còn là công cụ để Ngân hàng trung ương thựchiện nghiệp vụ thị trường mở, nhằm điều chỉnh lượng tiền cung ứng ra lưu thôngvà kiểm soát thị trường tiền tệ
4.1.5 Trái phiếu ngắn hạn của địa phương (Trái phiếu đô thị ngắn hạn).
Trái phiếu ngắn hạn của chính quyền địa phương là khoản vay của chínhquyền địa phương đối với các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế Việc pháthành trái phiếu địa phương đòi hỏi phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhànước về chứng khoán
Chứng chỉ tiền gửi (hay Giấy chứng nhận tiền gửi- CDs) là một công cụ
nợ do NHTM bán cho người gửi tiền Người gửi được thanh toán lãi hàng nămtheo một tỷ lệ nhất định và khi đến kỳ hạn thanh toán, thì hoàn trả gốc theo giá
Trang 19mua ban đầu Các chứng chỉ tiền gửi có thể được bán lại trên thị trường thứ cấp.Như vậy, chứng chỉ tiền gửi là một giấy biên nhận có hưởng lãi, xác nhận vềkhoản vốn gửi tại NHTM Do đó, chức năng cơ bản của chứng chỉ tiền gửi là tạovốn cho các ngân hàng.
Kỳ phiếu (Thương phiếu chấp nhận thanh toán) là công cụ vay nợ ngắnhạn do các ngân hàng lớn và các công ty phát hành Thương phiếu chấp nhậnthanh toán thể hiện cam kết thanh toán của ngân hàng cho những người nắm giữcông cụ này một khoản tiền định trước (được ghi rõ trên thương phiếu) Do vậy,đây được coi là một trong những công cụ có độ an toàn cao nhất trên thị trườngtiền tệ Thương phiếu bao gồm Hối phiếu và Lệnh phiếu
Hối phiếu là một giấy ghi nợ do người bán ký phát trao cho người mua,trong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất định khi đến hạn chongười bán hoặc bất kỳ người nào thụ hưởng hối phiếu Ngược lại, Lệnh phiếu làmột giấy nhận nợ do người mua ký phát trao cho ngưòi bán, trong đó người muacám kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn thanh toán cho người thụ hưởnglệnh phiếu
Giấy nợ ngắn hạn do các công ty lớn phát hành ở các nước phát triển,giấy nợ ngắn hạn được nhiều ngân hàng nhở xem như là một công cụ đầu tư hấpdẫn bởi nó an toàn hơn các khoản cho vay
4.2 Các công cụ trên thị trường vốn.
Các công cụ trên thị trường vốn là các công cụ nợ và công cụ vốn với thờigian đáo hạn (kỳ hạn thanh toán) trên một năm hay vô hạn Khác với các côngcụ trên thị trường tiền tệ, các công cụ trên thị trường vốn có mức biến động giámạnh hơn và tính thanh khoản thấp hơn, bởi vậy mà các công cụ này có mức độrủi ro lớn và lợi tức thường cao hơn
Trang 204.2.4 Trái phiếu Chính phủ.
Trái phiếu nói chung là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể(người phát hành) đối với một chủ thể khác (người cho vay- người sở hữu tráiphiếu) Trái phiếu quy định trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi của tổ chức pháthành cho người sở hữu trái phiếu khi đến thời điểm đáo hạn
BẢNG 2 CẦC CHỨNG KHOẦN TRấN THỊ TRƯỜNG VỐN
Trỏi phiếu Chớnh
phủ Trái phiếu đô thị
Trái phiếucông ty
- Thế chấp đi vay tốt
- Miễn thuế thu nhập
- Tính thanh khoản tốtvà dễ bán lại
- Lợi suất trước thuế caohơn trái phiếu chính phủ
- Lợi suất ổn định
Nhược
điểm cơ
bản
Lợi suất thấp
- Thị trường biến động
- Một số chứng khoán
có thể có khả năng bán
Trái phiếu chính phủ do Chính phủ hoặc những ngành đặc biệt như ngànhgiao thông, bưu điện,…được Chính phủ uỷ quyền phát hành Trái phiếu Chínhphủ là giấy nhận nợ của Chính phủ, được đảm bảo chắc chắn bởi uy tín củaChính phủ và là tài sản của quốc gia, có khả năng cầm cố và chuyển nhượngTPCP
4.2.5 Trái phiếu địa phương (Trái phiếu đô thị).
Trái phiếu địa phương là giấy nợ dài hạn của chính quyền địa phương.Việc ngân hàng mua trái phiếu địa phương được xem như mọt hình thức tài trợcho cộng đồng địa phương và giúp cho ngân hàng có thể thu hút những hoạtđộng kinh doanh khác
Trang 214.2.6 Trái phiếu công ty (hay Trái phiếu doanh nghiệp).
Trái phiếu công ty là loại trái khoán dài hạn, do các công ty phát hành vớilãi suất khá cao, giúp công ty huy động khối lượng vốn lớn trong một thời gianngắn Ngoài ra, trái phiếu công ty còn có khả năng chuyển đổi và một số loại cóthể chuyển thành cổ phiếu Do vậy, trái phiếu công ty là một công cụ được lưuhành rộng rãi trên thị trường vốn Thường thì trái phiếu công ty hứa hẹn một tỷlệ thu nhập cao hơn Trái phiếu Chính phủ có cùng kỳ hạn
4.3 Các công cụ tài chính mới.
Trong xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu, những cơ hội đầu tư chocác NHTM ngày càng được mở rộng với sự ra đời của rất nhiều loại chứngkhoán mới Trong đó tiêu biểu là 3 loại trái phiếu:
Trái phiếu tái cấu trúc;
Chứng khoỏn dựa trờn tỔi sản; và
Chứng khoán kết hợp
Trái phiếu tái cấu trúc chủ yếu được các nhà môi giới kinh doanh chứng
khoán phát hành trên cơ sở một tập hợp những chứng khoán của các tổ chức có
uy tín Tổ chức phát hành có thể đưa ra tỷ lệ thu nhập sàn và tỷ lệ thu nhập trầnđể giới hạn thu nhập của các nhà đầu tư Một số trái phiếu tái cấu trúc có thểmang nhiều mức lãi suất coupon để tạo ra thu nhập hợp lý cho nhà đầu tư Mộtsố loại khác có lãi suất coupon được điều chỉnh theo những công thức nhất định
Chứng khoán dựa trên tài sản (hay Tài sản được chứng khoán hoá) là̉
những chứng khoán được phát hành trên cơ sở một nhóm các khoản vay, thườngbao gồm các khoản cho vay có chất lượng cao như: cho vay mua nhà thế chấp,cho vay mua ô tô… Ưu điểm của loại chứng khoán này là lăi suất hấp dẫn, khá
an toàn, lại có thể thế chấp đi vay tốt Tuy nhiên, khả năng trao đổi trên thịtrường của loại chứng khoán này thấp hơn và biến động về giá cao hơn TPCP;
Trang 22kỳ hạn thường không ổn định và tỷ lệ thu nhập thực tế lại phụ thuộc vào thunhập của nhứng tài sản được chứng khoán hoá.
Chứng khoán kết hợp: loại chứng khoán gắn liền với các khoản chi trả
vốn hoặc lãi của một chứng khoán nợ Các nhà kinh doanh chứng khoán tạo rachứng khoán kết hợp bằng cách tách những khoản thanh toán vốn gốc và lãi tocác chứng khoán nợ cơ sở (tín phiếu, trái phiếu) và bán quyền thu nhập đối vớihai nguồn này cho các nhà đầu tư Chứng khoán hưởng thu nhập nếu từ cáckhoản trả vốn gốc của chứng khoán nợ cơ sở thì được gọi là chứng khoán hưởngvốn (Principal-only securities- PO), còn to các khoản chi trả lãi thì được gọi làchứng khoán hưởng lãi (Interest-only securities- IO)
Trang 235 Phân tích chứng khoán.
Phân tích chứng khoán là một hoạt động nhằm hỗ trợ cho nhà đầu tư trongviệc ra các quyết định mua bán chứng khoán một cách có hiệu quả nhất, tức làmang lại lợi nhuận và sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư
Trong hoạt động đầu tư chứng khoán, có 2 phương pháp phân tích chủyếu được sử dụng là Phân tích cơ bản (phân tích tài chính)- giúp ngân hàng cóthể lựa chọn được kết cấu danh mục đầu tư phù hợp, và Phân tích kỹ thuật-giúp nhà quản lý có thể lựa chọn được thời điểm và chiến lược mua bán chứngkhoán tuỳ theo diễn biến của thị trường
Quy trình phân tích chứng khoán được sử dụng nhiều nhất hiện nay là quytrình phân tích từ trên xuống Theo đó, quy trình sẽ bắt đầu bằng việc phân tíchnền kinh tế xã hội và tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK) trong phạm
vi toàn cầu, và quốc gia (phân tích vĩ mô), sau đó phân tích theo các ngành cụthể (phân tích ngành), và cuối cùng là phân tích từng công ty riêng lẻ (Phân tíchcông ty)
Trong khuôn khổ của Chuyên đề, em chỉ xin trình bày nội dung của cáchphân tích 2 loại hàng hoá chủ yếu mà NHTM có thể đầu tư trên Thị trườngchứng khoán, đó là cổ phiếu và trái phiếu
II Đầu tư cổ phiếu.
Định giá cổ phiếu dựa trên những nguyên tắc cơ bản của việc định giá tàisản nói chung, bao gồm cả việc định giá doanh nghiệp phát hành ra chính cổphiếu đó Các phương pháp định giá cổ phiếu có thể được xếp thành 3 nhómchính:
Nhóm phương pháp chiết khấu luồng cổ tức hoặcluồng tiền,
Nhóm phương pháp dựa trên giá trị tài sản, và
Nhóm phương pháp dựa vào hệ số tài chính
Trang 24Trong các phương pháp trên, phương pháp định giá được sử dụng phổbiến là Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức Theo phương pháp này, giá cổphiếu chính là giá trị quy về hiện tại của toàn bộ các luồng thu nhập trong tươnglai
Gọi n là số năm tồn tại của cổ phiếu, DIVt là cổ tức chi trả qua các năm(t=1,n), Giá bán cổ phiếu năm thứ n là Pn, tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư là
r không đổi, ta có:
Po = S DIVt
+ Pn(1+r)t (1+r)nThường thì cổ phiếu không có ngày đáo hạn (n tiến tới ∞), nên Pn/(1+n)n sẽ tiếntới giá trị 0 Do vậy, giá trị hiện tại của cổ phiếu sẽ được xác định theo côngthức sau:
Po = S DIVt
(1+r)tTrong trường hợp cổ tức của công ty có giá trị không đổi, tức là:DIV1=DIV2=Ặ=DIVn=DIV, ta có:
(1) Tốc độ tăng trưởng hàng năm của cổ tức.
(2) Giả định đây là giai đoạn có mức tăng trưởng không đổi, giá của cổ phiếu sẽ được tính toán như trường hợp Cổ tức không đổi hoặc Tốc độ tăng trưởng không đổi.
Trang 25Trong giai đoạn Tăng trưởng không ổn định, nhà đầu tư căn cứ vào ướctính về thu nhập và chính sách cổ tức của công ty để xác định cổ tức hàng năm.Lúc này, giá cổ phiếu sẽ được xác định theo công thức sau:
Po = S DIVt +
Dn+1
r - g(1+r)t (1+r)nĐể có thể dự tính một cách chính xác các thông số để đưa vào công thứctính toán, nhà đầu tư tiến hành phân tích chính xác tình hình tài chính của tổchức phát hành để có thể dự báo triển vọng phát triển của doanh nghiệp
DIV t: Dựa trên số liệu về cổ tức trong quá khứ, chính sách phân chia cổ tứctrong tương lai, đồng thời ước tính thu nhập năm sau của công ty
Cổ tức = DIV = Tỷ lệ chia cổ tức x EPS(1)
g: Vì tốc độ tăng trưởng được giả định là mức tăng trưởng đều đặn của công ty
trong suốt quãng đời hoạt động, nên các số liệu để tính toán g phải là mức dựđoán bình quân trong dài hạn
g = ROE.bTrong đó, ROE= Thu nhập ròng/ Vốn cổ đông; b là phần trăm lợi nhận được đểlại tái đầu tư:
b = 1- Tỷ lệ chia cổ tức = 1 - DIVEPSt
r : Thông thường, r được tính toán dựa trên mức độ rủi ro của công ty pháthành Nếu công ty có độ rủi ro càng cao thì nhà đầu tư sẽ đòi hỏi tỷ suất lợinhuận cao để bù đắp rủi ro
III Đầu tư trái phiếu.
Khi đầu tư vào một trái phiếu, điều đầu tiên mà ngân hàng quan tâm là Tỷlệ lãi suất yêu cầu Tỷ lệ lãi suất yêu cầu chính là Tỷ lệ lãi suất không rủi ro
(1) EPS (Earning Per Share) là thu nhập trên mỗi cổ phiếu
EPS =Lợi nhuận ròng – Cổ tức ưu đãiSố lượng cổ phiếu đã phát hành
Trang 26cộng với Phần thưởng bù đắp rủi ro mà nhà đầu tư phải gánh chịu trong việc sởhữu tài sản Để định giá trái phiếu, trước tiên, ta cần ước lượng luồng tiền (Ct) sẽnhận được tại thời điểm t; tiếp theo sẽ xác định tỷ lệ lợi tức yêu cầu (k) Và cuốicùng, bằng cách áp dụng công thức sau, ta sẽ có được giá trị thực PV(2):
PV = S (1+k)Ct t
4 Các phép đo lãi suất trái phiếu.
Lãi suất hoàn vốn: là mức lãi suất quy định sao cho kỳ hạn tính lãi trùng
với kỳ hạn của lãi suất được tính Tại mức lãi siất hoàn vốn, PV luôn bằng vớichi phí của khoản đầu tư
Tỷ lệ lợi tức yêu cầu của trái chủ (lãi suất khi đáo hạn- YTM): được xác
định dựa trên tỷ lệ chiết khấu làm cân bằng giữa giá trị thực của trái phiếu vớithị giá của nó Đây đồng thời cũng là tỷ lệ lợi tức mà nhà đầu tư sẽ kiếm đượcnếu như trái phiếu được giữ cho đến khi mãn hạn Thông thường, để tính toánYTM, người ta thường sử dụng phương pháp nội suy
Lãi suất danh nghĩa (Lãi suất Coupon): là mức lãi suất phản ánh số tiền
phát sinh trên số tiền gốc sau một thời gian nhất định, hay nó chính là tỷ lệ phầntrăm của trái tức so với mệnh giá của trái phiếu Lãi suất danh nghĩa được giữ cốđịnh, không thay đổi từ khi phát hành cho đến khi đáo hạn Vì vậy, nó khôngphản ánh đầy đủ mức sinh lời thực tế của trái phiếu bởi giá mua của trái phiếucũng như tỷ lệ lạm phát đã không được tính đến Để có thể tính được lãi suấtthực, ta lấy lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát
Lãi suất hiện hành: là lãi suất đo lường sự thu nhập mà nwoif đằut nhận
được so với số tiền thực tế bỏ ra khi mua tráiphiếu mà không tính đen mô hìhthời gian lãi suất thu được
Lãi suất hiện hành = Lãi suất Coupon hàng năm
(2) Giá trị thực PV là giá trị hiện tại của những luồng tiền dự tính được chiết khấu tại tại tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư
Trang 27Giá mua trái phiếu
Lãi suất khi mua lại (YTC): là lãi suất hoàn vốn mà tại đó giá trị hiện tại
của các dòng tiền khi tráip hiếu được mua lại trước thời điểm đáo hạn bằng vớigiá của trái phiếu nếu trái phiếu được nắm giữ đến khi thời hạn mua lại
Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư chứng khoán.
Để đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán, mỗi ngân hàng đều phải cânnhắc nhiều yếu tố khác nhau Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt độngđầu tư chứng khoán của một ngân hàng bao gồm: tỷ lệ thu nhập mong đợi, tácđộng của thuế, các loại rủi ro,Ặ
I Tỷ lệ thu nhập mong đợi.
Các nhà quản lý đầu tư phải xác định tỷ lệ thu nhập hợp lý có thể đượcđem lại từ mỗi loại chứng khoán, bao gồm cả thu nhập lãi và thu nhập (hay tổnthất) vốn Đối với hầu hết các hoạt động đầu tư, nhà quả lý cần phải tính đến tỷlệ thu nhập đáo hạn (hay lãi suất khi đáo hạn- YTM) nếu ngân hàng dự tính nắmgiữ chứng khoán đến ngày đáo hạn
Gọi Vo là giá trị hiện tại, hay giá trị thị trường của khoản đầu tư; M làmệnh giá của trái phiếu, i là lãi suất của trái phiếu; n là kỳ hạn của chứng khoán
Ta có công thức:
Vo = M x i x 1 – (1 + YTM) -n
+ M x (1+YTM) –nYTM
Dựa vào bảng tính giá trị hiện tại, ta tính được YTM ứng với lãi suất i.Đối với các khoản đầu tư khác nhau, YTM cũng sẽ khác nhau Từ đó, ngân hàng
có thể so sánh các giá trị YTM và xác định tỷ lệ thu nhập cao nhất có thể nhậnđược
Trong trường hợp ngân hàng bán một số loại chứng khoán trước khi đếnhạn để đáp ứng nhu cầu về vốn cho vay hay yêu cầu rút vốn của khách hàng gửi
Trang 28tiền, nhà quản lý đầu tư của ngân hàng cần phải tính Tỷ lệ thu nhập nắm HPY (1) cho từng chứng khoán Gọi k là thời gian tồn tại của chứng khoán (đơnvị: năm), ta có:
giữ-Vo = M x i x 1 – (1 + HPY) –k
+ M x (1+HPY) –nHPY
II Tác động của thuế.
Thu nhập lãi và thu nhập vốn từ hoạt động đầu tư của NHTM đều bị đánhthuế như những nguồn thu chịu thuế khác Do ảnh hưởng của thuế là không nhỏ,nên với các hoạt động đầu tư ngân hàng thường quan tâm đến tỷ lệ thu nhập sauthuế hơn là tỷ lệ thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế x (1 – thuế suất thuế thu nhập)
Do có một số loại trái phiếu được miễn thuế, nên mặc dù lãi suất thấp hơnnhững chứng khoán khác, nhưng lại có khả năng đem lại thu nhập sau thuế caohơn Chẳng hạn như trái phiếu A có tỷ lệ thu nhập 8%, trái phiếu B có tỷ lệ thunhập thấp hơn: 6%, nhưng lại được miễn thuế Giả sử mức thuế thu nhập đối vớingân hàng là 28%, ta có thu nhập sau thuế của các trái phiếu:
Trái phiếu A: Thu nhập sau thuế = 8% x (1- 0,28) = 5,76%
Trái phiếu B: Thu nhập sau thuế = 6% x (1- 0) = 6%
Qua ví dụ trên, ta thấy thu nhập sau thuế của trái phiếu B rõ ràng đã cao hơn tráiphiếu A Như vậy, nshững chính sách thuế đã tác động không nhỏ đến tỷ lệ thunhập của các trái phiếu
III Các loại rủi ro.
Rủi ro lãi suất: Những thay đổi trong lãi suất gây ra rủi ro trong hoạt độngđầu tư của ngân hàng Lãi suất trên thị trường tăng làm giảm giá trị của nhữngchứng khoán đang lưu hành, đặc biệt là đối với các chứng khoán dài hạn Tuy
( 1) HPY là tỷ lệ thu nhập tại đó giá mua một chứng khoán bằng giá trị dòng tiền mà ngân hàng nhận được từ chứng khoán cho tới khi chứng khoán được bán