1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)

24 743 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 518 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 2000 - 2005, kết hợpkhảo nghiệm hậu thế thế hệ 1 với xây dựng vườn giống Bạch đàn urô, Trung tâm nghiêncứu Giống cây rừng nay là Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh h

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các loài bạch đàn được nhập vào Việt Nam từ những năm 1930 và đến nay đã trởthành nhóm cây trồng chủ lực trong các chương trình trồng rừng tập trung và phân tán ở nước

ta Đến năm 2011, tổng diện tích rừng trồng Bạch đàn ở Việt Nam là 353,000 ha, chiếm 32%diện tích rừng trồng cả nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011) Rừng trồngbạch đàn đã góp phần đáng kể đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy, vándăm, gỗ trụ mỏ, gỗ xây dựng và đồ gỗ nội thất, góp phần tăng thu nhập của dân ở các nơitrồng rừng ở nước ta

Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S.T Blake) là loài cây sinh trưởng nhanh, thích

nghi tốt với điều kiện lập địa ở miền Bắc, miền Trung và khu vực Tây Nguyên Gỗ củaBạch đàn urô thường được sử dụng làm gỗ nguyên liệu giấy và ván dăm Trong khi đó,

Bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita F.Muel.) tuy mới được nhập vào Việt Nam nhưng cũng

đã thể hiện là loài cây có triển vọng trong trồng rừng, có khả năng chịu hạn và sâu bệnh tốt,tính chất gỗ rất phù hợp cho đóng đồ mộc cao cấp

Trong những năm gần đây, chọn tạo các giống bạch đàn lai và sử dụng trong trồngrừng là hướng đi mới có nhiều triển vọng và góp phần nâng cao năng suất rừng trồng ở ViệtNam (Lê Đình Khả và Nguyễn Việt Cường, 2000) Trong giai đoạn 2000 - 2005, kết hợpkhảo nghiệm hậu thế thế hệ 1 với xây dựng vườn giống Bạch đàn urô, Trung tâm nghiêncứu Giống cây rừng (nay là Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp) đãchọn được một số gia đình và cá thể tốt cho các nghiên cứu cải thiện giống tiếp theo Tiếpnối chương trình cải thiện giống, trong giai đoạn 2006 - 2010, Viện đã xây dựng các quầnthể chọn giống thế hệ 2 cho Bạch đàn urô và các quần thể chọn giống thể hệ 1 cho Bạch đànpellita, từ đó đã tạo được một số tổ hợp lai giữa hai loài này và đưa vào khảo nghiệm giốngtại Ba Vì - Hà Nội, Nam Đàn - Nghệ An, Đông Hà - Quảng Trị

Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung tiến hành các nghiên cứu đốivới các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 1, còn các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 và khảonghiệm dòng vô tính Bạch đàn lai UP mới nghiên cứu đánh giá về biến dị sinh trưởng Vìvậy, việc đi sâu nghiên cứu biến dị di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ, nhằmđẩy nhanh quá trình chọn giống đối với Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP, tạo ra các giống

vừa sinh trưởng nhanh vừa có chất lượng tốt là rất cần thiết Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm

biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của Bạch đàn urô (E urophylla ST Blake) và một số dòng Bạch đàn lai tại Việt Nam” của nghiên cứu sinh là một phần trong đề tài “Nghiên cứu cải thiện giống nhằm tăng năng suất, chất lượng cho một số loài cây trồng rừng chủ lực” (giai đoạn 2005 - 2010 và 2011 - 2015), do TS Hà Huy Thịnh làm chủ

nhiệm, mà nghiên cứu sinh là một trong những cộng tác viên chính của đề tài

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả của luận án là cơ sở khoa học cho cải thiện giống bạch đàn theo hướng nângcao năng suất và chất lượng gỗ cho trồng rừng gỗ xẻ

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

+ Dựa trên các kết quả nghiên cứu về biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng vàchất lượng gỗ trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 và các khảo nghiệm giống lai UP, đềtài đã chọn được 11 dòng Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP có sinh trưởng tốt, được BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ

Trang 2

thuật Tại Ba Vì – Hà Nội trung bình 5 dòng (UP35; UP72, UP95, UP97 và UP99) vượtPN14 56,3% và vượt 52,5% so với dòng U6 về thể tích thân cây; tại Đông Hà – Quảng Trị

là các dòng UP54, U892 vượt 54,9% tới 127% so với đối chứng sản xuất đại; tại Nam Đàn –Nghệ An trung bình của 4 dòng (U821, U416, U262 và dòng U1088) vượt 23% so với dòngU6 về thể tích thân cây

+ Đã xác định được giai đoạn 3 tuổi là phù hợp để đánh giá sinh trưởng và khốilượng riêng của gỗ Bạch đàn urô

+ Kết quả đánh giá về sinh trưởng trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 là cơ sở để lựachọn được tập đoàn các cây mẹ cung cấp hạt giống xây dựng vườn giống thế hệ kế tiếp,đồng thời cũng xác định được các cây, các gia đình cần tỉa thưa để chuyển hóa khảo nghiệmhậu thế thế hệ 2 thành vườn giống có chất lượng

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Những điểm mới của luận án

- Là lần đầu tiến đánh giá một cách tổng hợp và toàn diện biến dị và khả năng di truyền vềcác tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây, khối lượng riêng của gỗ và hàm lượng cellulosecủa các gia đình trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 và dòng vô tính Bạch đàn urô

- Cung cấp một số cơ sở khoa học cho việc chọn giống Bạch đàn lai UP sinh trưởngnhanh, có tính chất gỗ tốt và xác định được một số dòng ưu việt Bạch đàn lai UP

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla ST Blake) có nguồn gốc từ Indonesia và Đông

Timor, có sức sinh trưởng nhanh, trên nhiều điều kiện lập địa khác nhau Do Bạch đàn urôđóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nên đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này,bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đến kỹ thuật gây trồng cũng như khả năng sửdụng

Biến dị giữa các xuất xứ về sinh trưởng và khối lượng riêng của gỗ Bạch đàn urô đã

được nghiên cứu ở nhiều nước (Eldridge et al., 1993; Hodge et al., 2001; Ngulube, 1989; Tripiana et al., 2007; vercoe & Clarke, 1994; Wei & Borralho, 1998a) Các nghiên cứu cũng

chỉ ra rằng các xuất xứ ở vùng thấp từ đảo Flores nhìn chung sinh trưởng tốt tại các địa điểmtrồng thuộc vùng thấp Ngoài ra, biến dị lớn giữa các xuất xứ về khối lượng riêng của gỗ đãđược tìm thấy ở Nam Phi (Darrow & Roeder, 1983) và Malawi (Ngulube, 1989), nơi cóhàng loạt các xuất xứ đã trồng khảo nghiệm Ngulube (1989) đã phát hiện ra khối lượngriêng của gỗ ở các xuất xứ có xu hướng giảm khi độ cao phân bố của xuất xứ tăng Tuynhiên sự khác biệt về khối lượng riêng của gỗ không đáng kể giữa các xuất xứ ở vùng thấptại các khảo nghiệm ở Trung Quốc (Wei & Borralho, 1997)

Trang 3

Các xuất xứ bạch đàn pelita Kết quả cho thấy ở vùng thấp nhiệt đới các xuất xứBạch đàn pellita từ Papua New Guinea có sinh trưởng nhanh, dạng thân đẹp và khả năngchống chịu bệnh tốt hơn so với các xuất xứ ở vùng đông bắc Queensland, Australia Trongkhi đó các xuất xứ ở vùng đông bắc Queensland có sinh trưởng tương đương các xuất xứ tốtnhất của vùng Papua New Guinea, Pinyopusarerk (1996); Harwood (1998).

Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của các tính trạng sinh trưởng biến động từ 0,10 đến0,30, với giá trị trung bình là 0,20 Hệ số biến động di truyền lũy tích nằm trong khoảng 7%

đến 13% cho đường kính và chiều cao (Apiolaza et al., 2005; Gapare et al., 2003; Hamilton

& Potts, 2008) Khối lượng riêng của gỗ là một chỉ tiêu ngày càng được quan tâm nghiên cứunhiều trong những năm gần đây, vì chúng có liên quan chặt chẽ tới các tính chất cơ lý và hiệusuất bột giấy (Dinwoodie, 2000) Hệ số di truyền của khối lượng riêng của gỗ bạch đànthường biến động trong khoảng 0,29 đến 1,0, với giá trị trung bình 0,67 và giá trị này cũnghoàn toàn phù hợp với hầu hết các loài cây rừng (Cornelius, 1994) Theo các kết quả nghiêncứu về bạch đàn của Raymond (2002) thì hệ số di truyền về khối lượng riêng của gỗ cao hơn

hệ số di truyền của hiệu suất bột giấy và chiều dài sợi gỗ trong bạch đàn E globulus và E nitens Theo Cornelius (1994) khối lượng riêng của gỗ biến động trong phạm vi nhỏ Cũng

theo Cornelius (1994) thì hệ số biến động di truyền lũy tích cho khối lượng riêng của gỗ là5,1% Nghiên cứu tương quan tuổi – tuổi của Marques (1996); Osorio (2003); Wei &Borralho (1998a) tương quan di truyền của các tính trạng sinh trưởng thường cũng rất chặt

do vậy, công tác chọn giống có thể thực hiện sớm ở độ tuổi 1 đến 3 năm Sự tương tác kiểugen – hoàn cảnh rất mạnh cho tính trạng sinh trưởng như công trình của Mahmood (2003);Mori (1988); Pinyopusarerk (1996); Raymond (2001); Varghese (2008) Khối lượng riêng

gỗ, hàm lượng cellulose và hiệu suất bột giấy của các tác giả Kube (2001); MacDonald(1997); Raymond (2002); Raymond (2001); Wei & Borralho (1997) cho thấy có tương quanrất yếu, hoặc có tương quan nhưng không tồn tại

Lai giống để tạo ra giống lai có ưu thế lai là hướng đi mà các nhà chọn giống từ lâu đãrất quan tâm Các nghiên cứu về lai giống của các tác giả Shelbourne và Danks (1963); Assis(2000); Martin (1989); Shen, (2000); Rezende & Rezende (2000); Bouvet & Combes (1997);Eldridge (1993); Verryn (2000); Bauvet (1997) Các kết quả nghiên cứu về phép lai ba cho thấy

sinh trưởng về thể tích ở tuổi 7 của những cá thể lai ba [E urophylla x (E camaldulensis x E grandis)] là 0,331 m3/cây, vượt trội các cây lai tốt nhất của các tổ hợp lai đôi (E grandis x E urophylla, E grandis x E camaldulensis, E urophylla x E camaldulensis) và loài thuần bạch

đàn urô và grandis, các giá trị tương ứng là 0,290 m3/cây, 0,253 m3/cây, 0,234 m3/cây, 0,229

m3/cây, và 0,247 m3/cây.Nghiên cứu cải thiện giống cho bạch đàn pelita của Bouvet &Vigneron, (2009); Harwood (1998) kết quả cho thấy giống lai sinh trưởng nhanh, vượt từ 20 –25% so với các loài bố mẹ Nghiên cứu chọn lọc và phát triển rừng tròng dòng vô tính của cáctác giảEldridge, 1993;Turnbull, 1999 Ỏ một số lô thí nghiệm 6 – 8 tuổi, rừng trồng bạch đàn đãcho tăng trưởng 70 – 90 m3/ha/năm khối lượng riêng gỗ tăng từ 480 lên 490 kg/m3, năng suấtbột giấy từ 47% tăng lên 49%, hàm lượng vỏ giảm từ 18% xuống còn 12%

1.2 Ở Việt Nam

Bạch đàn urô là loài cây có thích ứng cao, sinh trưởng nhanh và hiện đang là loài câytrồng chủ lực trên các lập địa đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng ở vùng Trung tâm miền Bắc,Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên Các xuất xứ triển vọng của Bạch đàn urô là LewotobiFlores, Egon Flores cho vùng trung tâm, xuất xứ Lembata Flores cho vùng Bắc Trung bộ(Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả và cộng sự, 1996; Lê Đình Khả, 2003)

Trang 4

Trong các năm 1996 – 1998 dự án FORTIP về cải thiện giống cây rừng do Trung tâmnghiên cứu giống cây rừng hợp tác với Khoa Lâm nghiệp và sản phẩm rừng của CSIRO đãxây dựng được 2 khảo nghiệm hậu thế (thế hệ 1) tại Ba Vì – Hà Nội (144 gia đình thuộc 9xuất xứ) và Vạn Xuân – Phú Thọ (144 gia đình thuộc 9 xuất xứ) Sinh trưởng tại khảonghiệm hậu thế Vạn Xuân – Phú Thọ ở giai đoạn 9 năm tuổi (2005) cho thấy đường kínhbiến động trong khoảng 8 – 35 cm Trong 144 gia đình được dùng để xây dựng khảonghiệm hậu thế tại Vạn Xuân thì 35 gia đình thuộc xuất xứ Lewotobi Flores, trong đó cóđến 12 trong tổng số 20 gia đình sinh trưởng nhanh nhất đã được chọn từ vườn giống Xuất

xứ Egon Flores tuy có 36 gia đình được dùng để xây dựng khảo nghiệm hậu thế song chỉ có

2 gia đình sinh trưởng nhanh nhất đã được chọn Các xuất xứ khác chỉ có thể chọn được 1-2gia đình Điều đó chứng tỏ Lewotobi Flores là xuất xứ có triển vọng nhất ở Vạn Xuân Tại

Ba Vì giai đoạn 8 tuổi (năm 2005) khảo nghiệm có đường kính trung bình là 18 cm, thể tíchtrung bình 244 dm3/cây Trong 20 gia đình sinh trưởng nhanh nhất của khảo nghiệm hậu thếthì đã có 8 gia đình của xuất xứ Lewotobi Flores, 1 gia đình của xuất xứ Egon Flores và 1 giađình của xuất xứ Waikui Central Alor Những gia đình được chọn chỉ là theo kiểu hình vềsinh trưởng đường kính và chiều cao (Hà Huy Thinh và cộng sự, 2006)

Bạch đàn pelita được đưa vào khảo nghiệm ở Việt Nam từ năm 1990 thông qua cáckhảo nghiệm xuất xứ ở Ba Vì, Đông Hà và Bầu Bàng Kết quả nghiên cứu cho thấy các xuất

xứ có triển vọng của loài này cho trồng rừng ở nước ta là Kuranda, Helenvale, Bloomfield

và Kiriwo cho vùng Nam Bộ và duyên hải miền Trung (Lê Đình Khả, 2003)

Giai đoạn 2000-2002, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã nhập hơn 100 giađình cây trội bạch đàn pellita thuộc 7 xuất xứ tự nhiên ở Papua New Guinea và Indonesia,

và 3 vườn giống thế hệ 1 từ miền bắc Australia Từ nguồn hạt nhập khẩu này kết hợp với hạtgiống các cây trội thu tại Bầu Bàng, đã xây dựng hai khảo nghiệm hậu thế kết hợp làm vườngiống tại Bầu Bàng (Bình Dương) và Plâyku (Gia Lai) vào năm 2002 Kết quả đánh giá sau

3 năm trồng tại Bầu Bàng cho thấy nhóm có triển vọng nhất gồm các xuất xứ lấy từ vườngiống Cardwell (Qld) và vườn giống Melvile (NT) (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2006)

Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của Bạch đàn urô đã được tính toán cho các tính trạngsinh trưởng Các tính trạng sinh trưởng, độ dày vỏ có hệ số di truyền đạt mức trung bình đếnkhá (h2=0,22 - 0,38) Các tính trạng chất lượng thân cây như độ thẳng thân, độ nhỏ cành có

hệ số di truyền tương đối thấp (0,13 - 0,18), khối lượng riêng gỗ có hệ số di truyền cao (0,52

- 0,57) Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của Bạch đàn pelita về đường kính, chiều cao, thểtích và pilodyn cho hai lập địa tại Bầu Bàng và Plâyku Kết quả cho thấy hệ số di truyền củacác tính trạng sinh trưởng ở mức trung bình (0,17 – 0,30) trong khi đó hệ số di truyền củapilodyn là từ 0,38 – 0,42 (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2010)

Khối lượng riêng gỗ được chú ý trong những năm gần đây, xác định khối lượng riêng

gỗ của bạch đàn urô tại cả hai khảo nghiệm hậu thế cho thấy khối lượng riêng gỗ ở cả haivườn về cơ bản là như nhau (khối lượng riêng gỗ trung bình của KNHT Vạn Xuân là 517 kg/

m3 thì trung bình của KNHT Ba Vì là 514 kg/m3) Song biến dị về khối lượng riêng giữa cáccây trong từng vườn giống lại rất lớn (từ 390 đến 630 kg/m3) Kết quả đánh giá tương tác giữaxuất xứ và lập địa, giữa gia đình và lập địa của bạch đàn urô cho thấy sự tương tác về các chỉtiêu sinh trưởng và khối lượng riêng gỗ không có ý nghĩa giữa hai lập địa (Ba Vì – Hà Nội vàVạn Xuân – Phú Thọ) (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2010) Mối tương quan giữa hai lập địa(Bầu Bàng – Bình Dương và Plâyku – Gia Lai) về thể tích thân cây và pilodyn của bạch đànpelita Kết quả phân tích tương tác di truyền hoàn cảnh cho các chỉ tiêu sinh trưởng vàpilodyn cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng bị ảnh hưởng mạnh của tương tác này trong khi trị

Trang 5

số pilodyn bị ảnh hưởng ít hơn Vì vậy cần nghiên cứu chọn giống riêng biệt cho cho hai vùngĐông Nam Bộ và Gia Lai để thu được tăng thu di truyền tối đa về sinh trưởng.

Từ năm 1991 Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành chọn lọc cây trội vàghép cho một số cây Bạch đàn urô, Bạch đàn caman và Bạch đàn liễu, các năm 1996 – 2000,

đã nghiên cứu vật hậu, cất trữ hạt phấn và lai giống cho 3 loài nói trên Bằng phương pháp thụphấn có kiểm soát đã tiến hành lai giống thuận nghịch và tạo ra hơn 70 tổ hợp lai gồm: UC,

CU, UE, EU, CE, EC và UU đã được khảo nghiệm tại các nơi có điều kiện lập địa khác nhau.Khảo nghiệm các tổ hợp lai giữa các loài Bạch đàn urô, Bạch đàn trắng caman và Bạch đànliễu đều sinh trưởng nhanh hơn các loài bố mẹ (Lê Đình Khả, Nguyễn Việt Cường, 2000,

2001, 2003) Ưu thế lai thay đổi theo những điều kiện lập địa khác nhau, cùng hai bố mẹtham gia lai giống nhưng lai thuận nghịch (có nghĩa là đổi vị trí làm bố và làm mẹ cho nhau)

đã tạo nên sự thay đổi rất lớn về thể tích thân cây ở các điều kiện lập địa khác nhau Ưu thếlai vừa chịu ảnh hưởng của nhân tố di truyền vừa chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh

Trong khuôn khổ dự án Sida-SAREC về nghiên cứu cải thiện giống cây rừng, Trung

tâm nghiên cứu giống cây rừng đã tạo ra được hơn 60 tổ hợp lai UP (E urophylla x E pellita) và PU (E pellita x E urophylla) (chủ yếu là UP) và một số khảo nghiệm đã được

xây dựng tại Hà Nội, Nghệ An, Quảng Trị và Bình Dương Kết quả đánh giá ở giai đoạn 30tháng tuổi có sự khác biệt rất lớn về sinh trưởng của các tổ hợp Bạch đàn lai trên các lập địa.Kết quả đã xác định được 4 tổ hợp lai có triển vọng bao gồm: U70P28, U87P22 và U87P8cho lập địa Ba Vì; U87P22 và U70P48 cho lập địa Đông Hà Đây là những tổ hợp lai cósinh trưởng tốt hơn rõ rệt so với các giống đối chứng là U6 và PN14, với độ vượt trung bình

về thể tích từ 20 – 50% (Nguyễn Đức Kiên và cộng sự, 2009)

Chọn lọc cây trội Bạch đàn urô (E urophylla) và khảo nghiệm dòng vô tính đã được

Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh thực hiện từ năm 1995 đến nay nhằm tạo ra các dòng

có năng suất cao Từ 1995-1998 có 16 dòng Bạch đàn urô được chọn lọc như PN2, PN3, PN4,PN14, PN18, PN19, PN231, v.v., và các dòng được chọn từ Trung Quốc: U16, GU, U6 và câyhạt sản xuất đại trà Khảo nghiệm tại Sóc Đăng và Gia Thanh sau 39 tháng hai dòng Bạch đàn urô

có năng suất và chất lượng cao nhất là PN2 và PN14 có thể tích thân cây 19,6-22,5 dm3/cây (tạiSóc Đăng) và 22,0-26,6 dm3/cây (Gia Thanh) (Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh, 1998)

Chọn được 30 cây lai tốt nhất thuộc 8 tổ hợp lai khác nhau và khảo nghiệm tại một sốvùng sinh thái cho thấy một số dòng rất có triển vọng Những dòng sinh trưởng nhanh nhất

là những dòng thuộc tổ hợp lai U29E1, U29E2, U15E4, C2U17 và U29C3 được khảonghiệm tại Tam Thanh Khảo nghiệm giống lai tại một số nơi khác cũng thu được kết quảtương tự (Nguyễn Việt Cường, 2003)

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Quang Thu (2009) thì mức độ gây hại do nấm

Cryptosporiopsis eucalypti và Cylindrocladium quinqueseptatum gây và nấm Cylindrocladium quinqueseptatum là như nhau Các tỉnh miền Bắc dòng PN2 và U6 bị bệnh rất nặng do nấm gây bệnh hại lá Cryptosporiopsis eucalypti và Cylindrocladium quinqueseptatum Các loài Bạch đàn urô (E urophylla) Bạch đàn pelita (E pellita) có tỷ lệ

bị bệnh và mức độ thấp hơn so với Bạch đàn Trắng Camal (E camaldulensis) (Phạm Quang

Thu, 2005) Bạch đàn pelita hầu như không bị bệnh tàn lụi và khô cành do nấm

Cryptosporiopsis eucalypti và Cylindrocladium gây ra Bạch đàn pelita hầu như cũng không

bị bệnh ung bướu gây ra do loài côn trùng Leptocybe invasa (Phạm Quang Thu, 2009)

Trang 6

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu biến dị về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của Bạch đàn urô (E urophylla) và một số giống Bạch đàn lai UP (E urophylla x E pellita) trên một số vùng sinh thái.

2.1.2 Nghiên cứu khả năng di truyền và tương tác di truyền hoàn cảnh về sinh trưởngcủa Bạch đàn urô và một số giống Bạch đàn lai UP trên một số vùng sinh thái

2.1.3 Nghiên cứu tương quan giữa các chỉ tiêu sinh trưởng và tính chất gỗ của Bạch đàn urô vàmột số giống Bạch đàn lai UP; tương quan tuổi - tuổi của của các tính trạng sinh trưởng của Bạch đàn urô

2.1.4 Nghiên cứu tương quan di truyền và tương tác di truyền hoàn cảnh về một sốtính chất gỗ (Khối lượng riêng và hàm lượng cellulose) ở Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu của luận án là các gia đình Bạch đàn urô tại hai khảo nghiệm hậuthế Ba Vì và Đông Hà và các dòng Bạch đàn urô được chọn lọc từ vườn giống thế hệ 1 Ba

Vì và từ khảo nghiệm hậu thế (thế hệ 2) cũng tại Ba Vì Các dòng bạch đàn lai UP đượcchọn lọc từ khảo nghiệm giống lai tại Ba Vì

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa vào chọn giống truyền thống trên cơ

sở các đặc điểm về di truyền và biến dị của di truyền học số lượng là chủ đạo

- Luận án không chỉ tập trung nghiên cứu biến dị và khả năng di truyền mà còn nghiêncứu tương quan di truyền và tương quan kiểu hình của một số tính trạng nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Khả nghiệm hậu thế Bạch đàn urô thiết kế thí nghiệm khối ngẫu nhiên không đầy

đủ, hàng - cột (row - column design), bố trí 8 lần lặp, mỗi ô bố trí 4 cây/gia đình, khoảngcách trồng là 3 x 2m Trong đó gồm 78 gia đình là 78 cây trội tại vườn giống (thế hệ 1) Ba

Vì, vườn giống (thế hệ 1) Vạn Xuân, từ rừng giống Ba Vì và đối chứng U6, PN14

- Khảo nghiệm Bạch đàn urô tại Ba Vì bố trí theo khối ngẫu nhiên không đầy đủ, 10cây/dòng, 70 công thức được lặp lại 5 lần lặp

- Khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn urô tại Nam Đàn bố trí theo khối ngẫu nhiênkhông đầy đủ, 10 cây/dòng, 50 công thức được lặp lại 4 lần lặp

- Khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn lai tại Đông Hà bố trí theo khối ngẫu nhiênkhông đầy đủ, 10 cây/dòng, 40 công thức được lặp lại 4 lần lặp

- Khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn lai tại Ba Vì bố trí theo khối ngẫu nhiên khôngđầy đủ, 10 cây/dòng, 42 công thức được lặp lại 5 lần lặp

Trang 7

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.3.1 Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng: điều tra tất cả các cây trong các ô của khu

khảo nghiệm theo phương pháp được trình bày trong giáo trình Điều tra rừng (Vũ TiếnHinh, Phạm Ngọc Giao, 1997)

2.3.3.2 Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây: điều tra tất cả các cây trong các ô

của khu khảo nghiệm (Lê Đình Khả & Dương Mộng Hùng, 2003), trong đó: Độ thẳng thân (Dtt); Độnhỏ cành ( ); Chỉ tiêu sức khoẻ (Sk) được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp (1 - 5)

2.3.4 Phương pháp xác định khối lượng riêng của gỗ

2.3.4.1 Xác đinh gián tiếp khối lượng riêng của gỗ bằng Pilodyn: Thông qua một chỉ

tiêu gián tiếp có tên là Pilodyn (Greaves et al, 1996; Wang, 1999)

2.3.4.2 Xác định khối lượng riêng của gỗ

Xác định khối lượng riêng của gỗ trực tiếp bằng phương pháp nước chiếm chỗ

(Valencia&Vargas, 1997)

2.3.4.3 Xác định hàm lượng Cellulose

Xác định hàm lượng cellulose cho mẫu nhỏ theo phương pháp Diglyme - HCl của Wallis (1996)

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng các phần mềm thống kê thông dụng trong cải thiện giống

bao gồm DATAPLUS 3.0 và Genstat 7.0 (CSIRO), SAS 8.0 (SAS Institute, 2002) vàASREML 1.0 (VSN International)

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Biến dị về sinh trưởng và chất lượng thân cây Bạch đàn urô và Bạch đàn lai

Biến dị là cơ sở cho việc lựa chọn xuất xứ, gia đình và cá thể Tuỳ theo đặc điểm biến

dị và phạm vi phân bố mà loài có biến dị lớn hay nhỏ, nhiều hay ít Phạm vi biến dị càng lớnthì tăng thu di truyền nhận được càng cao Nói cách khác sai khác giữa các xuất xứ và giađình của loài càng lớn thì tăng thu di truyền đạt được qua chọn lọc càng cao

Các chỉ tiêu về sinh trưởng như đường kính, chiều cao, thể tích và một số chỉ tiêu vềhình dạng thân như độ thẳng thân, độ nhỏ cành, góc phân cành , là những tính trạng dễ đođếm và có vai trò quan trọng đến năng suất và chất lượng rừng Vì lẽ đó, trong bất kỳ cácchương trình cải thiện giống nào đều phải xem xét và đánh giá Do Bạch đàn urô là một loàicây trồng rừng kinh tế chủ lực, vì vậy việc cải thiện giống ở cường độ cao cần được tiếnhành ở mức độ chọn lọc gia đình và chọn lọc cá thể ưu trội trong gia đình ưu việt

Nghiên cứu đánh giá biến dị về sinh trưởng và chất lượng thân cây giữa các gia đìnhtrong luận án này được thực hiện ở hai khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 Đó là khảo nghiệmhậu thế thế hệ 2 tại Ba Vì và Đông Hà

3.1.1 Biến dị giữa các nguồn hạt giống Bạch đàn urô

Kết quả cho thấy các nguồn hạt của các cây trội chọn lọc từ vườn giống Vạn Xuân,vườn giống Ba Vì và rừng giống Ba Vì không có sự phân hóa rõ rệt về các chỉ tiêu sinhtrưởng và chất lượng thân cây, ngoại trừ sinh trưởng về chiều cao tại khảo nghiệm Ba Vì Ở

cả 2 khảo nghiệm, sinh trưởng đường kính và chiều cao biến động không lớn Chẳng hạnđường kính của Bạch đàn urô tại Ba Vì chỉ biến động từ 9,6 cm đến 10,1 cm; chiều cao biếnđộng từ 12,5 m đến 13,0 m và thể tích thân cây biến động từ 52,6 dm3 đến 61,1 dm3

Trang 8

1.1.2 Biến dị giữa các gia đìnhBạch đàn urô

Tại Ba Vì, ở tuổi 6 các gia đình bạch đàn urô có sự sai khác rất rõ rệt về đường kính, chiềucao, thể tích và chất lượng thân cây (Fpr<0,001) Biến động về sinh trưởng đường kính, chiều cao vàthể tích của các các gia đình là khá lớn, từ 8,6 đến 13,3 cm về đường kính; từ 9,2 - 14,8 m về chiềucao, từ 31,5 - 117,2 dm3/cây về thể tích, và từ 23,6 - 61,7 điểm về chỉ tiêu chất lượng tổng hợp

Những gia đình sinh trưởng nhanh nhất có thể tích vượt trội về thể tích so với các giađình sinh trưởng kém (vượt 58,5%) và đồng thời cũng vượt hơn thể tích trung bình của toàn vườn(vượt 50,7%) và dòng tiến bộ kỹ thuật U6 (83,4%) (biểu đồ 1) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấychỉ tiêu chất lượng tổng hợp của các gia đinh sinh trưởng nhanh nhất cũng có độ vượt khá lớn sovới trung bình khảo nghiệm và dòng U6, với độ vượt tương ứng là 21,7% và 79,3 %)

Biểu đồ 3.2: Độ vượt (%) về thể tích, đường kính ngang ngực và chỉ tiêu chất lượng thân cây tổnghợp của 10 gia đình sinh trưởng tốt nhất so với dòng U6 và trung bình toàn khảo nghiệm hậu thế

thế hệ 2 ở Ba Vì Tại Đông Hà, kết quả phân tích thống kê cho thấy sinh trưởng về đường kính, chiều

cao và thể tích của các gia đình Bạch đàn urô có sự sai khác nhau rất rõ rệt (Fpr.<0,001).

Biến động về sinh trưởng đường kính, chiều cao và thể tích của các các gia đình tại đây từ7,1 cm đến 12,7 cm về sinh trưởng đường kính, từ 9,9 m - 14,5 m về chiều cao, từ 23,0 dm3/cây -113,2 dm3/cây về thể tích và từ 17,3-38,5 điểm về chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Tương

tự như tại khảo nghiệm Ba Vì Xem xét về độ vượt thực tế cho thấy những gia đình sinhtrưởng nhanh nhất có độ vượt trội so với các gia đình sinh trưởng kém là 245,5% về thể tích

và đồng thời vượt hơn 43,8% - 227,6% so với thể tích trung bình của toàn vườn cũng nhưdòng U6 Do đó việc sử dụng hạt giống của các cây trội trong vườn giống cũng có thể đemnăng suất rừng trồng cao

Tương tự như kết quả tại khảo nghiệm ở Ba Vì, các gia đình có sinh trưởng tốt tạiĐông Hà là các gia đình có chất lượng thân cây tốt Điều này có thể kết luận rằng các tínhtrạng sinh trưởng có thể có tương quan với các tính trạng chất lượng thân cây Như vậy, việcchọn lọc các gia đình ưu việt Bạch đàn urô trong hai khảo nghiệm hậu thế tại Ba Vì vàĐông Hà chắc chắn sẽ mang lại tăng thu di truyền cao cho các chương trình trồng rừng.Chọn lọc các cá thể ưu trội trong các gia đình ưu việt từ hai khảo nghiệm này, nhân giốngbằng hữu tính hoặc vô tính cần được thực hiện để xây dựng các vườn giống thế hệ sau vàphát triển trồng rừng dòng vô tính Bạch đàn urô ở nước ta trong thời gian tới

Trang 9

3.1.3 Biến dị giữa các dòng vô tính Bạch đàn urô

Rừng trồng dòng vô tính với việc sử dụng các dòng ưu trội trong trồng rừng là mộtloại hình rừng đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam Phát triển rừng trồngdòng vô tính cũng đòi hỏi sự hiểu biết về biến dị và khả năng di truyền để quyết định chiếnlược cải thiện giống và chọn lọc dòng vô tính, đồng thời dự đoán tăng thu di truyền có thể

nhận được từ việc sử dụng các dòng vô tính ưu trội (White, 1987; Namkoong et al., 1981;

Hodge and White, 1992)

Kết quả đánh giá biến dị về sinh trưởng và chất lượng thân cây của các dòng vô tínhbạch đàn urô ở giai đoạn 4 tuổi tại Ba Vì và 5 tuổi tại Nam Đàn đều cho thấy sinh trưởng vàchất lượng thân cây giữa các dòng vô tính bạch đàn urô đã có sự phân hóa rõ rệt (bảng 3.4).Tại Ba Vì, biến động về sinh trưởng giữa các dòng là khá lớn, từ 4,6-9,4 cm về đường kính,

từ 7,2-13,9 m về chiều cao, từ 6,4-55,8 dm3/cây về thể tích và từ 39,8-191,7 điểm về chỉ tiêuchất lượng thân cây tổng hợp Tại Nam Đàn, biến động về đường kính, chiều cao, thể tích

và chỉ tiêu chất lượng tổng hợp giữa các dòng tương ứng là từ 9,3-12,3 cm, 8,9-12,5 m,32,2-80,0 dm3/cây và 81,1-200,3 điểm

Tại Ba Vì, 5 dòng sinh trưởng nhanh nhất (là các dòng U18, U11, U265, U1, và U4)

có thể tích thân cây trung bình đạt 49,2 dm3/cây, vượt 127,4% so với trung bình chungtoàn thí nghiệm Nếu so sánh với đối chứng U6 (xếp thứ 24 trong bảng xếp hạng) thì 5 dòngcũng vượt từ 30,1% tới 95,1% về thể tích thân cây Trong khi đó, 5 dòng ưu việt chọn lọc tạiNam Đàn (U1088, U821, U416, U262 và U348) chỉ có độ vượt về thể tích thân cây là23,0% so với thể tích thân cây dòng U6 Do đó cần công nhận các dòng này là các dòng tiến

bộ kỹ thuật để phát triển ngay vào sản xuất

3.1.4 Biến dị giữa các dòng vô tính Bạch đàn lai UP

Tại khảo nghiệm dòng vô tính ở Đông Hà, kết quả phân tích thống kê cho thấy có saikhác rõ rệt về sinh trưởng cũng như các chỉ tiêu chất lượng giữa các dòng với nhau sau 5tuổi Biến động giữa các dòng Bạch đàn urô và dòng Bạch đàn lai UP là rất lớn, từ 24,4-114,2 dm3/cây về thể tích thân cây, và từ 48,6-143 điểm về chỉ số chất lượng tổng hợp.Trong khi đó, tại khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn lai UP tại Ba Vì, biến động giữa cácdòng Bạch đàn lai UP từ 12,1-48,1 dm3/cây về thể tích thân cây tại tuổi 4 Năm dòng có sinhtrưởng nhanh nhất tại khảo nghiệm ở Ba Vì vượt hơn dòng U6 và PN14 là các dòng UP72,UP66, UP99, UP35, và UP23 Thể tích thân cây trung bình của 5 dòng này đạt 40,0

dm3/cây, vượt 40,0% tới 56,3% so với dòng PN14, và vượt 52,5% so với dòng U6 Trongkhi, 5 dòng sinh trưởng nhanh nhất (dòng UP54, U892, UU39, UP35, và U1088) tại Đông

Hà có thể tích thân cây trung bình đạt 154,4 dm3/cây sau 5 tuổi, vượt 32,1% so với trungbình toàn thí nghiệm và vượt từ 54,9% tới 127,0% so với đối chứng hạt sản xuất đại trà.Như vậy trong các dòng sinh trưởng nhanh tại 2 khảo nghiệm chỉ duy nhất có một dòngUP35 là sinh trưởng tốt trên cả 2 lập địa

3.1.5 Tổng hợp chung các dòng vô tính Bạch urô và Bạch đàn lai UP

Từ kết quả nghiên cứu về biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng các dòngBạch đàn urô và Bạch đàn lai UP, đã chọn được 11 dòng gồm 10 dòng được công nhận làgiống tiến bộ kỹ thuật (5 dòng UP35; UP72, UP95, UP97 UP99 ở Ba Vì; 1 dòng UP54 ởĐông Hà; 3 dòng U821, U416, U262 ở Nam Đàn; 1 dòng U892 ở Đông Hà) và một dòngđược công nhận giống Quốc Gia là U1088 ở Nam Đàn và Đông Hà

Trang 10

3.2 Biến dị về khối lượng riêng và hàm lượng cellulose của Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP

Cellulose là thành phần chính của gỗ, chiếm từ 40% đến 50% khối lượng gỗ khô kiệt, nằmchủ yếu ở màng thứ cấp của vách tế bào và là thành phần chính của bột giấy (chiếm từ 74% đến

86%) và có tương quan với hiệu suất bột giấy (Wallis et al 1996), do đó có thể sử dụng như là

công cụ gián tiếp để đánh giá hiệu suất bột giấy Hàm lượng cellulose trong luận án này được xác

định từ lõi khoan lấy ở độ cao 1,3 m bằng phương pháp của Wallis et al (1997)

3.2.1 Biến dị về khối lượng riêng của gỗ

a.Biến dị trị số Pilodyn giữa các gia đình Bạch đàn urô tại Ba Vì và Đông Hà

Trị số pilodyn ở các gia đình trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 dao động trongkhoảng 9,6-14,5 mm, và có sự sai khác rõ rệt giữa các gia đình (Fpr <0,001) Các gia đình

77, 34, 74, 84 và 47 có trị số pilodyn thấp nhất, biến động từ 9,6-10,5mm Tuy nhiên các giađình này chỉ là những gia đình có sinh trưởng kém đến trung bình trong khảo nghiệm.Ngược lại 5 gia đình (gia đình 42, 15, 31, 109, và 23) là những gia đình có sinh trưởngnhanh nhưng lại có trị số pilodyn cao (khối lượng riêng gỗ thấp)

Các gia đình Bạch đàn urô tại Đông Hà ở tuổi 3 cũng có sự sai khác nhau rõ rệt về trị

số pilodyn Các gia đình có trị số pilodyn biến động từ 12,3 mm đến 17,0 mm Những giađình sinh trưởng nhanh đồng thời cũng là những gia đình có trị số pilodyn cao, và ngược lạinhững gia đình có trị số pilodyn thấp thì sinh trưởng từ thấp đến trung bình (gia đình số 77,

18, 74, 34 và 104) Kết quả nghiên cứu biến dị về chị số pilodyn ở Ba Vì và Đông Hà cũngcho thấy các gia đình 77, 74 và 34 ở cả 2 khảo nghiệm đều thuộc nhóm gia đình có trị sốpilodyn thấp, mặc dù hai lập địa này có sự khác biệt về tính chất đất và điều kiện khí hậu

b.Biến dị trị số Pilodyn và khối lượng riêng của gỗ giữa các dòng Bạch đàn urô tại

Ba Vì và Nam Đàn

Tại Ba Vì, ở tuổi 4, kết quả đánh giá biến dị về khối lượng riêng của gỗ và trị số pilodyncủa các dòng Bạch đàn urô có sự sai khác rõ rệt (Fpr <0,001) Khối lượng riêng gỗ của cácdòng vô tính trong khảo nghiệm này dao động trong khoảng 0,43 - 0,59 g/cm3 và trị số pilodyncủa các dòng biến động từ 11,2 - 17,6 mm Những dòng có khối lượng riêng của gỗ cao nhấtcũng là những dòng có trị số Pilodyn thấp nhất Tính toán tương quan giữa khối lượng riêng của

gỗ và trị số pilodyn cho thấy tương quan giữa chúng là tương quan âm và chặt (r = - 0,80) Cácdòng có khối lượng riêng cao nhất tại khảo nghiệm Ba Vì là các dòng U951, U295, U992, U14

và U883, với khối lượng riêng biến động trong khoảng 0,54 - 0,59 g/cm3

Tương tự như tại Ba Vì, kết quả đánh giá biến dị về trị số pilodyn của các dòng Bạchđàn urô 5 tuổi tại Nam Đàn cho thấy các dòng Bạch đàn urô đã có sự sai khác rõ rệt về trị sốpilodyn (Fpr <0,001) Các dòng Bạch đàn urô có trị số pilodyn biến động lớn, từ 9,7 - 15,4

mm Đứng đầu danh sách xếp hạng là các dòng U646, U951, U1025, U955 và U416, với giátrị pilodyn thấp nhất, trị số này biến động trong khoảng 9,7 - 10,5 mm Kém nhất trong khảonghiệm là các dòng U417, U1028, U891, U821 và U267 với giá trị pilodyn cao nhất với trị sốbiến động trong khoảng 14,0 - 15,4mm

c.Biến dị về khối lượng riêng của gỗ giữa các dòng Bạch đàn lai UP tại Ba Vì và Đông Hà

Tại Ba Vì ở tuổi 4 song khối lượng riêng của gỗ và trị số pilodyn của các dòng Bạchđàn lai UP cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng về khối lượng riêng của gỗ và trị số

Trang 11

pilodyn (Fpr <0,001) Các dòng vô tính có khối lượng riêng của gỗ biến động 0,41 0,60g/cm3 và trị số pilodyn biến động 10,6 - 18,1 mm Những dòng có khối lượng riêng của

-gỗ cao nhất cũng là những dòng có trị số pilodyn thấp nhất Các dòng UP26, UP23, UP47,UP22 và UP12 là những dòng có khối lượng riêng của gỗ cao (0,53 - 0,60 g/cm3) DòngBạch đàn lai UP23 vừa có sinh trưởng nhanh vừa có khối lượng riêng của gỗ cao

Tại Đông Hà kết qua cũng cho thấy khối lượng riêng của gỗ của các dòng Bạch đànlai khác nhau rõ rệt (Fpr <0,001) Khối lượng riêng của các dòng Bạch đàn lai cũng có biếnđộng lớn, từ 0,41 - 0,63g/cm3 Các dòng UP26, UU42 và UP47 có khối lượng riêng của gỗcao Các dòng này đều thuộc nhóm sinh trưởng trung bình đến sinh trưởng tốt

Như vậy phát triển rừng trồng gỗ xẻ bằng sử dụng dòng UP23 tại Ba Vì và UP26,UU42, UP47 tại Đông Hà sẽ đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho người trồng rừng và đặc biệt

sẽ khắc phục được điểm yếu của gỗ bạch đàn thường có khối lượng riêng thấp

3.2.2 Biến dị về hàm lượng cellulose giữa các dòng Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP

Hàm lượng cellulose các dòng Bạch đàn urô tại Ba Vì ở giai đoạn 4 tuổi có sự saikhác rõ rệt giữa các dòng (Fpr <0,001), biến động lớn từ 40,0 - 46,7% Năm dòng có hàmlượng cellulose cao là U3, UU78, U894 và UU6 Trong đó các dòng UU78, U894 và UU6

là những dòng có sinh trưởng khá nhanh tại Ba Vì

Hàm lượng cellulose của các dòng Bạch đàn lai UP tại Ba Vì cũng có sự sai khác nhau rất

rõ rệt giữa các dòng (Fpr <0,001) Các dòng bạch đàn lai có hàm lượng cellulose biến động 41,6 47,1% Năm dòng có hàm lượng cellulose cao (UP72, UP47, UP26, UP35 và UP23) thì 3 dòngthuộc nhóm sinh trưởng nhanh, 1 dòng thuộc nhóm sinh trưởng trung bình và 1 dòng thuộc nhómsinh trưởng kém Các dòng UP72, UP35 và UP23 cần được nhân giống phục vụ cho sản xuất

-Giống như khảo nghiệm tại Ba Vì, sinh trưởng của các dòng vô tính bạch đàn lai tại Đồng

Hà ở tuổi 5 cũng có sự sai khác rõ rệt về hàm lượng cellulose giữa các dòng Các dòng có hàmlượng cellulose biến động 39,8 - 45,5% Bốn dòng bạch đàn lai có hàm lượng cellulose cao (dòngUP23, UP47, UP48 và UP51) đều thuộc những dòng có sinh trưởng từ trung bình đến khá cao.Như vậy có thể chọn được một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh và hàm lượng cellulose cao

3.3 Khả năng di truyền của các tính trạng sinh trưởng, độ

thẳng thân, khối lượng riêng và hàm lượng cellulose ở các gia đình

và dòng vô tính Bạch đàn urô và Bạch đàn lai UP

Các thông tin về biến dị và khả năng di truyền là cơ sở khoa học để thực hiện các chươngtrình chọn giống Biến dị kiểu hình và biến dị di truyền trong một loài cây thường xuất hiện ở cácmức độ khác nhau: như trong quần thể và giữa các quần thể (Zobel & Talbert, 1984) Các thôngtin di truyền sẽ được phục vụ để trả lời các câu hỏi đặt ra trong các chương trình chọn giống: (1)Tính trạng nghiên cứu có thể cả thiện được không? Hiệu quả chọn lọc tính trạng này chỉ đạt đượckhi hệ số biến động di truyền lũy tích của tính trạng này đủ lớn Do đó để trả lời câu hỏi này thì hệ

số biến động di truyền lũy tích cần được xác định Hệ số di truyền lũy tích (CVA - Coefficient ofAdditive genetic Variance) là số đo của biến động kiểu gene, nó được xác định bằng tỷ số giữacăn bậc 2 của tỷ số biến động kiểu gen với giá trị trung bình của kiểu hình (2) Biểu hiện của kiểugen như thế nào trong khảo nghiệm? Để dự đoán giá trị kiểu gen và xếp hạng chúng thì các kiểugen phải được khảo nghiệm trong các lập địa khác nhau Hệ số di truyền thể hiện giá trị di truyềnđược phát hiện trong kiểu hình Hệ số di truyền nói lên khả năng di truyền của một tính trạng từđời bố mẹ đến hậu thế Hệ số di truyền cao tức là khả năng truyền đặc điểm của tính trạng đó ởđời bố mẹ sang hậu thế cao (Falconer & Mackay, 1996) Nếu kiểu gen tương tác với điều kiệnmôi trường thì một số khảo nghiệm cần được bố trí ở các lập địa khác nhau Tương tác di truyền

Trang 12

– hoàn cảnh lớn sẽ tạo ra những khó khăn cho chương trình cải thiện giống, vì phải xây dựng cácquần thể chọn giống và chọn lọc các kiểu gen riêng phù hợp với từng dạng lập địa (Bulmer,1980) (3) Chọn lọc một tính trạng sẽ ảnh hưởng thế nào tới các tính trạng khác? Làm thể nào đểchương trình cải thiện giống đạt được giá trị kinh tế cao nhất? Trong chọn giống, một vài tínhtrạng được chọn lọc đồng thời Tương quan di truyền giữa các tính trạng sẽ giúp trả lời các câuhỏi trên Ngoài ra, tăng thu di truyền là phần tăng thêm đạt được nhờ áp dụng các phương phápchọn giống Nhưng tăng thu di truyền chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở biến dị giữa các xuất

xứ, gia đình và cá thể trong khảo nghiệm, vườn giống Nhờ biến dị di truyền mà chúng ta có thểtiến hành chọn lọc những biến dị có lợi nhất làm cơ sở cho các bước chọn giống tiếp theo Mặtkhác biến dị được thể hiện mới là kiểu hình phải thông qua khảo nghiệm mới đánh giá đựơc thực

tế tăng thu của chúng Các phương pháp để thu nhận tăng thu chính là chọn lọc, lai giống, khảonghiệm để xác định đúng chỉ tiêu chọn lọc có hệ số di truyền cao Đồng thời kết hợp chặt chẽ vớicác biện pháp kỹ thuật thâm canh thích hợp sẽ tạo ra tăng thu mong muốn cho đời sau, góp phầntừng bước nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng

3.3.1 Khả năng di truyền ở các gia đinh Bạch đàn urô

Hệ số di truyền và hệ số biến động di truyền của các tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây

và trị số pilodyn trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 Bạch đàn urô tại Ba Vì và Đông Hà được thể hiệntại bảng 3.11 Kết quả ở bảng 3.11 cho thấy hệ số di truyền của các tính trạng sinh trưởng đạt trung bình(h2 = 0,19-0,23 ở tuổi 6) Nhưng hệ số di truyền của trị số pilodyn là khá cao, với h2 = 0,42

Bảng 3.11 Hệ số di truyền (h2)và hệ số biến động di truyền lũy tích (CVa) của các tính trạngsinh trưởng và chất lượng ở các gia đình Bạch đàn urô tại Ba Vì (6 tuổi) và Đông Hà (6 tuổi)

Ngày đăng: 21/12/2014, 11:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.11. Hệ số di truyền (h 2 )và hệ số biến động di truyền lũy tích (CV a ) của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng ở các gia đình Bạch đàn urô tại Ba Vì (6 tuổi) và Đông Hà (6 tuổi) Tính trạng Đơn vị đo đếm TBKN Tuổi h 2 Sai số của h 2 CV a  (%) - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.11. Hệ số di truyền (h 2 )và hệ số biến động di truyền lũy tích (CV a ) của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng ở các gia đình Bạch đàn urô tại Ba Vì (6 tuổi) và Đông Hà (6 tuổi) Tính trạng Đơn vị đo đếm TBKN Tuổi h 2 Sai số của h 2 CV a (%) (Trang 12)
Bảng 3.12. Hệ số di truyền (H 2 ) và hệ số biến động kiểu gen (CV G ) của các tính trạng  sinh trưởng và chất lượng của các dòng vô tính Bạch đàn urô tại khảo nghiệm Ba Vì và Nam Đàn - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.12. Hệ số di truyền (H 2 ) và hệ số biến động kiểu gen (CV G ) của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng của các dòng vô tính Bạch đàn urô tại khảo nghiệm Ba Vì và Nam Đàn (Trang 13)
Bảng 3.13. Hệ số di truyền (H 2 ) và hệ số biến động kiểu gen (CV G ) của các tính trạng  sinh trưởng và chất lượng của các dòng vô tính Bạch đàn lai UP  trong các khảo nghiệm tại Ba - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.13. Hệ số di truyền (H 2 ) và hệ số biến động kiểu gen (CV G ) của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng của các dòng vô tính Bạch đàn lai UP trong các khảo nghiệm tại Ba (Trang 14)
Bảng 3.14. Hệ số tương quan di truyền giữa đường kính và chiều cao với - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.14. Hệ số tương quan di truyền giữa đường kính và chiều cao với (Trang 15)
Bảng 3.15. Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng, khối lượng riêng gỗ và hàm lượng cellulose ở các dòng B ạch đàn urô tại khảo nghiệm Ba Vì (4 tuổi) và Nam Đàn (5 tuổi) - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.15. Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng, khối lượng riêng gỗ và hàm lượng cellulose ở các dòng B ạch đàn urô tại khảo nghiệm Ba Vì (4 tuổi) và Nam Đàn (5 tuổi) (Trang 15)
Bảng 3.16. Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng, khối lượng riêng  gỗ và hàm lượng cellulose ở  các dòng Bạch đàn lai UP tại khảo nghiệm Ba Vì (4 tuổi) và Đông Hà (5 tuổi) - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.16. Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng, khối lượng riêng gỗ và hàm lượng cellulose ở các dòng Bạch đàn lai UP tại khảo nghiệm Ba Vì (4 tuổi) và Đông Hà (5 tuổi) (Trang 16)
Bảng 3.17.  Hệ số tương quan kiểu gen (Rg) và kiểu hình (Rp ) của các tính trạng sinh trưởng giữa các độ tuổi khác nhau trong khảo nghiệm hậu thế Bạch đàn urô tại Ba Vì và Đông Hà (6 tuổi) - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.17. Hệ số tương quan kiểu gen (Rg) và kiểu hình (Rp ) của các tính trạng sinh trưởng giữa các độ tuổi khác nhau trong khảo nghiệm hậu thế Bạch đàn urô tại Ba Vì và Đông Hà (6 tuổi) (Trang 17)
Bảng 3.18. Tương tác gia đình – hoàn cảnh ở Bạch đàn urô giữa khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.18. Tương tác gia đình – hoàn cảnh ở Bạch đàn urô giữa khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại (Trang 18)
Bảng 3.19.  Tương tác dòng – hoàn cảnh ở Bạch đàn urô giữa hai lập địa Ba Vì và Nam Đàn (6 tuổi) - tóm tắt luận án nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của bạch đàn urô (e. urophylla st. blake)
Bảng 3.19. Tương tác dòng – hoàn cảnh ở Bạch đàn urô giữa hai lập địa Ba Vì và Nam Đàn (6 tuổi) (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w