BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN HỮU SỸ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BIẾN DỊ VÀ KHẢ NĂNG DI TRUYỀN VỀ SINH TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ TÍNH CHẤT GỖ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU SỸ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BIẾN DỊ VÀ KHẢ NĂNG DI TRUYỀN VỀ SINH TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ TÍNH CHẤT GỖ CỦA BẠCH ĐÀN URO VÀ GIỐNG LAI GIỮA BẠCH ĐÀN
URO VỚI CÁC LOÀI BẠCH ĐÀN KHÁC
Chuyên ngành đào tạo : Di truyền và chọn giống cây lâm nghiệp
Mã số : 9620207
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2020
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla S.T Blake) có nguồn gốc
nguyên sản từ Indonesia, là loài cây có sinh trưởng nhanh, thích nghi với nhiều dạng lập địa đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng nên đã được gây trồng ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, Bạch đàn uro đã được trồng rộng rãi ở vùng Trung tâm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất bột giấy, ván dăm, gỗ trụ mỏ, gỗ bóc và gỗ xẻ (Lê Đình Khả, 2004) Chương trình cải thiện giống cho Bạch đàn uro bắt đầu được thực hiện ở nước ta vào những năm 90 của thế kỷ trước với việc xây dựng các khảo nghiệm loài và xuất xứ Một số xuất xứ phù hợp là Lewotobi Flores, Egon Flores cho vùng Trung tâm Bắc Bộ, Lembata Flores cho vùng Bắc Trung Bộ đã được chọn lọc (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả, 2004)
Trong giai đoạn 2000 - 2005, khảo nghiệm hậu thế thế hệ 1 có kết hợp với việc xây dựng vườn giống Bạch đàn uro đã được Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng (nay là Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ Sinh học Lâm nghiệp) tiến hành Từ các vườn giống thế hệ 1 này, trong những giai đoạn 2006 - 2015 các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 đã được Viện tiếp tục tiến hành trong khuôn khổ chương trình cải thiện giống lâu dài và liên tục qua các thế hệ cho Bạch đàn uro Tuy nhiên, các nghiên cứu chọn giống cho Bạch đàn uro trước đây mới chỉ chủ yếu tiến hành với mục tiêu phục vụ trồng rừng gỗ nguyên liệu: các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 mới chỉ đánh giá về sinh trưởng đến giai đoạn tuổi 6, các nghiên cứu về tính chất gỗ cũng mới chỉ dừng lại ở chỉ tiêu khối lượng riêng và hàm lượng cellulose Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu biến dị di truyền về sinh trưởng ở giai đoạn trên 6 tuổi và một số tính chất gỗ liên quan trực tiếp đến việc sử dụng Bạch đàn uro làm gỗ xẻ (độ co rút gỗ, vết nứt gỗ) là việc làm thiết thực
Bên cạnh đó, một số tổ hợp lai giữa Bạch đàn uro và một số loài bạch đàn khác đã được lai tạo để đưa vào khảo nghiệm giống tại Ba Vì -
Trang 3Hà Nội, Đông Hà - Quảng Trị và Bầu Bàng - Bình Dương Một số dòng Bạch đàn lai UP do Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ Sinh học Lâm nghiệp chọn tạo cho năng suất đạt tới 25-35m3/ha/năm trên các lập địa thoái hóa, nghèo dinh dưỡng ở Ba Vì, Hà Nội và Đông Hà, Quảng Trị (Hà Huy Thịnh và cộng sự 2015; Mai Trung Kiên, 2014) Tuy nhiên, giống lai
UG (E urophylla x E grandis) là giống lai có triển vọng chưa được nghiên
cứu một cách rộng rãi, mặt khác các khảo nghiệm giống lai giữa Bạch đàn uro và một số loài khác mới chỉ theo dõi sinh trưởng đến giai đoạn 3 năm tuổi, vì thế việc tiếp tục theo dõi sinh trưởng của chúng ở giai đoạn sau 3 tuổi cũng như nghiên cứu một số tính chất gỗ là cần thiết trong việc đánh giá một cách đầy đủ hơn khả năng phát triển giống bạch đàn lai trong trồng rừng gỗ lớn
Trong khuôn khổ kết quả các đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống có
năng suất và chất lượng cao cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu”giai
đoạn 2001 - 2005, đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống Bạch đàn lai mới
giữa Bạch đàn pelita và các giống Bạch đàn khác” giai đoạn 2011- 2015,
dự án “Phát triển giống cây lấy gỗ phục vụ trồng rừng rừng kinh tế”giai
đoạn 2006 - 2010 đã xây dựng các khảo nghiệm hậu thế thế hệ hai và khảo nghiệm tổ hợp lai khác loài giữa Bạch đàn uro và các loài bạch đàn khác
Để tiếp tục đánh giá định hướng nghiên cứu Bạch đàn uro và các giống lai Bạch đàn uro với các loài bạch đàn khác qua đó góp phần vào chiến lược cải thiện giống nhằm nâng năng suất và chất lượng cao phục vụ mục đích
gỗ xẻ, luận án “Nghiên cứu đặc điểm biến dị và khả năng di truyền về
sinh trưởng và một số tính chất gỗ của Bạch đàn uro và giống lai giữa Bạch đàn uro với các loài bạch đàn khác” được thực hiện
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
Luận án đã góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho chọn tạo giống Bạch đàn uro và giống lai giữa Bạch đàn uro với các loài Bạch đàn pelita, Bạch đàn grandis, Bạch đàn caman theo hướng nâng sao năng suất và chất lượng rừng trồng gỗ xẻ
Trang 4- Ý nghĩa thực tiễn
+ Chọn lọc được 05 gia đình, 05 tổ hợp lai và 92 cá thể tốt của Bạch đàn uro và bạch đàn lai trên cơ sở đánh giá sinh trưởng và tính chất gỗ + Chọn lọc được 03 cây mẹ có khả năng tạo được các tổ hợp lai tốt làm cơ sở cho chọn tạo giống lai
3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Mục tiêu lý luận
- Xác định được biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng, tính chất gỗ và tương tác kiểu gen - hoàn cảnh của Bạch đàn uro ở các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2
- Xác định được sự khác biệt về sinh trưởng và tính chất gỗ của các giống lai UC, UP, UG làm cơ sở cho chọn giống
+ Mục tiêu thực tiễn
- Xác định được một số cá thể Bạch đàn uro và bạch đàn lai có sinh trưởng nhanh và chất lượng gỗ tốt làm cơ sở cho chọn giống phục vụ trồng rừng gỗ xẻ
4 Những điểm mới của luận án
- Nghiên cứu đầu tiên về các tính trạng sinh trưởng kết hợp với tính chất gỗ (khối lượng riêng, độ co rút) đối với Bạch đàn uro trong vườn giống thế hệ 2 và các tổ hợp lai của Bạch đàn uro với một số loài bạch đàn khác
- Nghiên cứu đầu tiên, chi tiết về vết nứt gỗ ở Bạch đàn uro trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2, mở ra hướng nghiên cứu trong chọn giống Bạch đàn uro và Bạch đàn lai trong tương lai
5 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các gia đình Bạch đàn uro từ các nguồn giống khác nhau trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 được xây dựng trong giai đoạn 2005-2007 và các tổ hợp lai được xây dựng tại các khảo nghiệm
tổ hợp lai giai đoạn 2012 -2014
Trang 56 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu giới hạn trong việc tìm hiểu biến dị một số tính trạng sinh trưởng (đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, thể tích thân cây) tại các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 (giai đoạn 10 và 15 năm tuổi tại Ba
Vì, 8 và 13 tại Nam Đàn) Một số tính chất gỗ (khối lượng riêng, độ co rút, vết nứt gỗ) ở giai đoạn 8 năm tuổi ở khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Nam Đàn Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên luận án chỉ nghiên cứu được các chỉ tiêu này cho một địa điểm tại Nam đàn, còn địa điểm tại Ba Vì không thực hiện
- Nghiên cứu giới hạn trong việc tìm hiểu biến dị một số tính trạng sinh trưởng ở 3, 4, 5 và 8 năm tuổi trong khảo nghiệm giống lai trồng năm
2012 tại Ba Vì, Đông Hà và Bầu Bàng và một số tính chất gỗ (khối lượng riêng, Mô đun đàn hồi) ở giai đoạn 3 và 6 tuổi ở khảo nghiệm giống lai trồng năm 2014 tại Ba Vì
7 Bố cục luận án
Mở đầu: 6 trang
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 33 trang
Chương 2: Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 20 trang Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận : 88 trang
Kết luận, tồn tại và kiến nghị : 4 trang
Trang 6Chương 1
1.1 Trên thế giới
Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla) thuộc chi phụ Symphyomyrtus
(Wilcox, 1997; Pryor và Johnson, 1971) Bạch đàn uro là cây gỗ lớn, nơi nguyên sản chiều cao có thể đạt 25 - 45m, đôi khi có thể đạt trên 55m, đường kính có thể đạt 1 - 2m (Turnbull và Brooker, 1978) và có khả năng lai giống với các loài bạch đàn khác (Brooker và Kleinig, 2012)
Nhiều nghiên cứu đánh giá biến dị giữa các xuất xứ về sinh trưởng
và khối lượng riêng của gỗ Bạch đàn uro đã được thực hiện ở các nước
nhiệt đới và cận nhiệt đới (Eldridge và cộng sự, 1993; Hodge và cộng sự,
2001; Ngulube, 1989; Darrow và Roeder, 1983 ; Wei và Borralho, 1997) Một số xuất xứ như Mt Mandiri, Mt Lewotobi, Mt Egon đã được đánh giá
là có năng suất cao (Liang Kunnan, 2000; Liu Dehao và cộng sự, 2013; Turbull, 2003; Leksono Budi và cộng sự, 2015; Dlamini, 2017)
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của tính trạng sinh trưởng về đường kính ở Bạch đàn uro biến động từ 0,09 đến 0,60 (tuổi từ 2,5 đến 17 tuổi), hệ
số di truyền theo nghĩa hẹp của tính trạng sinh trưởng về chiều cao biến động từ 0,05 đến 0,49 (tuổi từ 2,5 đến 7 tuổi) Trong khi, hệ số di truyền khối lượng riêng của gỗ bạch đàn nói chung thường biến động trong khoảng 0,29 đến 1,0 với giá trị trung bình 0,67 (Jun Lan, 2011), hệ số di truyền theo nghĩa hẹp của hiệu suất bột giấy là 0,11(Francois van Deventer, 2008)
Tương quan di truyền giữa các tính trạng sinh trưởng (đường kính, chiều cao) thường ở mức chặt đến rất chặt (Leksono và Kurinobu, 2005) nhưng mối tương quan di truyền giữa các tính trạng sinh trưởng và tính chất gỗ (khối lượng riêng, pilodyn) thường là tương quan âm (Wei và Borralho, 1997; Lou Jianzhong, 2003; Ignacio-Sánnchez và cộng sự, 2005; Jun Lan, 2011) Vì vậy, tùy thuộc vào mục tiêu của quá trình chọn giống
mà các nhà chọn giống lựa chọn các phương thức tiến hành phù hợp cho Bạch đàn uro
Trang 7Tương quan giữa một tính trạng ở các độ tuổi khác nhau (tương quan tuổi - tuổi) của các loài bạch đàn nhiệt đới về các tính trạng sinh trưởng thường là rất chặt (Osorio và cộng sự, 2003; Wei và Borralho, 1998) Do
đó việc chọn lọc các xuất xứ/gia đình/dòng vô tính Bạch đàn uro có thể được thực hiện ở giai đoạn từ 3 tuổi
Vết nứt gỗ được tạo ra từ áp lực về sinh trưởng nhanh của Bạch đàn, sau khi cắt hạ áp lực này được giải phóng (thường được gọi là ứng suất sinh trưởng) và tạo ra các vết nứt ở gỗ (Okuyama 1997) Do đó, làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của rừng trồng bạch đàn (Darshani và Amarasekara, 1996) Các nghiên cứu của Garcia và Lima cho rằng đặc điểm nứt đầu gỗ tròn ở một số loài bạch đàn có tính di truyền (trích dẫn theo theo Fégely, 2004) Theo Nutto (2004) giữa ứng suất sinh trưởng và giống ít nhiều có mối tương quan, vì thế chọn giống, xuất xứ có thể giảm được những tác động tiêu cực của ứng suất sinh trưởng
Bên cạnh các chương trình cải thiện giống cho Bạch đàn uro, các chương trình cải thiện giống bạch đàn lai giữa Bạch đàn uro và một số loài bạch đàn khác đã được thực hiện tại Brasil, Công-gô và Trung Quốc Nghiên cứu của Verryn (2000) cho thấy những tổ hợp lai có khả năng chống chịu với điều kiện môi trường bất lợi, tổ hợp lai có ưu thế lai vượt hơn các loài thuần và được trồng thành rừng kinh tế ở Brasil và Công-gô (Eldridge, 1993) Nghiên cứu gần đây ở Nam Phi cũng cho thấy, giống lai giữa Bạch đàn grandis và Bạch đàn uro không những có tính chất gỗ cao hơn mà còn
có tính chống chịu bệnh tốt hơn so với loài bố mẹ (Van den Berg và cộng
sự, 2015)
1.2 Ở Việt Nam
Bạch đàn uro (E urophylla) được đưa vào trồng thử ở Việt Nam từ
những năm 1980, loài bạch đàn này có thích ứng cao, sinh trưởng nhanh và hiện đang là loài cây trồng chủ lực trên các lập địa đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng ở vùng Trung tâm miền Bắc, Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên (Nguyễn Dương Tài, 1994) Các khảo nghiệm xuất xứ/khảo nghiệm hậu thế thế hệ 1 cho Bạch đàn uro đã được tiến hành từ những năm 1990, kết
Trang 8quả khảo nghiệm cho thấy các xuất xứ Ulubahu, Lewotobi Flores, Egon Flores, Waikui Alor và Uhak có sinh trưởng tốt ở giai đoạn 3-9 tuổi (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả, 2003; Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2006; Nguyễn Đức Kiên, 2009) Hệ số di truyền của các tính trạng sinh trưởng của Bạch đàn uro ở khảo nghiệm hậu thế thế hệ 1 dao động từ 0,10
- 0,31 Hệ số di truyền đối với tính trạng độ thẳng thân, độ nhỏ cành từ 0,09 - 0,22 (Nguyễn Đức Kiên, 2009)
Các khảo nghiệm dòng vô tính Bạch đàn uro sau đó đã công nhận một số giống mới như: các giống quốc gia: PN2, PN14 (năm 2000), PN3d (năm 2005), các giống tiến bộ kỹ thuật: PN10, PN46, PN47 (năm 2004), PN54, PN116 (năm 2005), PN21, PN24, PN108 (năm 2006) (Viện Nghiên cứu Cây Nguyên liệu Giấy, 2014), U892, U1088, U821, U416, U262 (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015)
Các nghiên cứu về một số tính chất gỗ Bạch đàn uro cũng đã được thực hiện chủ yếu tập trung vào các tính trạng khối lượng riêng, co rút gỗ, pilodyn,… (Nguyễn Đức Kiên, 2009; Mai Trung Kiên, 2014 ; Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015) Trong đó, hệ số di truyền của pilodyn (0,42 đến 0,48), khối lượng riêng của gỗ (0,68-0,78) là cao ở các lập địa nghiên cứu, trong khi hệ số di truyền của hàm lượng cellulose ở mức trung bình (0,25-0,31)
Tương quan di truyền giữa các tính trạng sinh trưởng và chất lượng gỗ thường yếu (giữa đường kính với khối lượng riêng của gỗ 0,15-0,28; giữa chiều cao với khối lượng riêng của gỗ 0,11-0,19) (Hà Huy Thịnh và cộng
sự, 2015), đến vừa phải (tương quan giữa đường kính với pilodyn là 0,26 - 0,46 và tương quan giữa chiều cao với pilodyn là 0,05- 0,21) (Mai Trung Kiên, 2014) Tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây dao động từ trung bình đến rất cao (giữa đường kính, chiều cao với độ thẳng thân, độ nhỏ cành 0,21-0,61; giữa đường kính với chiều cao
từ chặt đến rất chặt (0,75 - 0,98)) Tương quan giữa khối lượng riêng và pilodyn là khá chặt (0,80 - 0,92) (Nguyễn Đức Kien, 2009; Mai Trung Kiên, 2014; Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015)
Trang 9Tương quan tuổi - tuổi: tính trạng đường kính và chiều cao có tương quan ở cặp tuổi 3 - 5 là cao nhất Do đó, có thể khẳng định rằng ở độ tuổi 3 chúng ta có thể tiến hành chọn lọc các gia đình sinh trưởng nhanh và sẽ đảm bảo độ tin cậy cao (Mai Trung Kiên, 2014)
Đặc biệt, nghiên cứu về vết nứt gỗ ở Bạch đàn uro đã bước đầu được tiến hành (Nguyễn Quang Trung, 2009) Tuy nhiên nghiên cứu về vết nứt
gỗ mới chỉ là nghiên cứu mang tính ứng dụng và thiên về chế biến nhiều hơn là nghiên cứu chọn giống cho các chỉ tiêu vết nứt gỗ của Bạch đàn uro
Bên cạnh đó các nghiên cứu trong các giai đoạn trước đã xác định Bạch đàn uro có khả năng lai giống với các loài bạch đàn khác (Bạch đàn caman, Bạch đàn têrê, Bạch đàn liễu và Bạch đàn grandis) tạo ra những giống lai có ưu thế lai vượt trội (UP, UE, UC) (Nguyễn Việt Cường, 2002; Mai Trung Kiên, 2014) Các nghiên cứu lai giống và khảo nghiệm giống lai giữa Bạch đàn uro và một số loài bạch đàn khác được triển khai từ những năm 1990 Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây lai của Bạch đàn uro đều cho sinh trưởng nhanh (Lê Đình Khả, 2001; Nguyễn Việt Cường, 2002) Ảnh hưởng của cây bố-mẹ là tương đối rõ ràng đến khả năng sinh trưởng của giống lai, đặc biệt là ở điều kiện sinh trưởng càng thuận lợi thì
ưu thế lai càng thể hiện rõ rệt (Lê Đình Khả, 2006)
Qua chọn giống, các tổ hợp lai có sinh trưởng nhanh đã được chọn lọc (Nguyễn Việt Cường, 2006), từ kết quả của khảo nghiệm dòng vô tính một
số dòng bạch đàn lai đã được công nhận là giống quốc gia và giống tiến bộ
kỹ thuật như: UP35, UP72, UP95, UP97, UP99, UP54, U892, U1088, U821, U416, U262, UP153, UP164, UP171, UP180, UP190, UP223, UP236, UP23, UP96, UP89 (Hà Huy Thịnh và cộng sự, 2015) Hầu hết các giống bạch đàn đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất hiện nay ở nước
ta đều là giống Bạch đàn uro hoặc giống lai giữa Bạch đàn uro và các loài bạch đàn khác (Hà Huy Thịnh, 2015)
1.3 Nhận xét chung
Các nghiên cứu về biến dị và khả năng di truyền, tương tác kiểu gen hoàn cảnh của Bạch đàn uro ở thế hệ 1 đã được nghiên cứu một cách bài
Trang 10bản ở Việt Nam Việc tiếp tục đánh giá sinh trưởng và các tính chất gỗ về mức độ biến dị, các thông số di truyền trong các khảo nghiệm hậu thế thế
hệ 2 là rất cần thiết nhằm xây dựng các chiến lược cải thiện giống trong tương lai, mặt khác, quá trình chọn tạo giống cũng tạo ra các giống có chất lượng để đưa vào sản xuất đại trà
Về cơ bản, cây lai giữa Bạch đàn uro với 1 số loài khác có khả năng sinh trưởng và khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi và sâu bệnh tốt hơn so với bố mẹ Các nghiên cứu về chọn giống bạch đàn lai cho thấy, bạch đàn lai có tiềm năng sinh trưởng tốt lại thích nghi với nhiều dạng lập địa và khí hậu khác nhau Do đó, việc nghiên cứu khảo nghiệm và đánh giá tính chất gỗ của các giống lai mới có ý nghĩa không chỉ về mặt khoa học
mà còn có ý nghĩa về mặt sản xuất khi các giống có năng suất, chất lượng cao mới chọn lọc có thể đưa vào sản xuất, làm tăng tính đa dạng của cơ cấu cây trồng rừng cũng như đảm bảo tính an toàn sinh học của rừng trồng dòng vô tính
Ngoài các chỉ tiêu sinh trưởng thì các chỉ tiêu cơ lý gỗ, đặc biệt là các chỉ tiêu vết nứt gỗ của Bạch đàn uro khi được sử dụng trong trồng rừng
gỗ lớn cần được quan tâm Tuy nhiên, đến nay các nghiên cứu về hạn chế vết nứt chủ yếu mới được tập trung ở mảng chế biến mà chưa có một nghiên cứu chọn giống nào được triển khai Đây là lĩnh vực nghiên cứu cần
bổ sung trong các chương trình chọn giống cho Bạch đàn uro và Bạch đàn
lai
Trang 11Chương 2
2.1 Nội dung nghiên cứu
1) Nghiên cứu biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng và một số tính chất gỗ của các gia đình tại khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 Bạch đàn uro
- Nghiên cứu mức độ biến dị về sinh trưởng và chất lượng thân cây của các gia đình Bạch đàn uro trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Ba
Vì - Hà Nội và Nam Đàn - Nghệ An
- Nghiên cứu mức độ biến dị về một số tính chất gỗ của các gia đình Bạch đàn uro trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 tại Nam Đàn - Nghệ An
- Đánh giá khả năng di truyền và tương quan di truyền giữa các tính trạng nghiên cứu
- Chọn lọc các cá thể và gia đình ưu trội trong các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2
2) Nghiên cứu sinh trưởng và một số chỉ tiêu tính chất gỗ của các giống lai giữa giữa Bạch đàn uro và các loài Bạch đàn khác (UP- PU, UG, UC, CP-
PC và chọn lọc các tổ hợp lai và các cá thể có sinh trưởng nhanh trong khảo nghiệm
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối với Bạch đàn uro gồm 154 gia đình từ 4 nguồn giống được xây dựng trong khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 (10 tuổi và 15 tuổi) tại Hà Nội và Nghệ An (8 tuổi và 13 tuổi)
- Đối với bạch đàn lai gồm có 95 tổ hợp lai từ 52 cây mẹ khác nhau (33 cây mẹ Bạch đàn uro, 3 cây mẹ Bạch đàn caman và 16 cây mẹ Bạch đàn pelita) được xây dựng tong khảo nghiệm tổ hợp lai tại Ba Vì (3, 6 và 8 tuổi), Quảng Trị (5 và 8 tuổi) và Bình Dương (4 tuổi)
Trang 122.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Phương pháp thu thập số liệu các chỉ tiêu sinh trưởng theo phương pháp được trình bày trong giáo trình Điều tra rừng (Vũ Tiến Hinh và Phạm Ngọc Giao, 1997)
b) Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây
- Độ thẳng thân (Dtt), Độ nhỏ cành (Dnc): được cho điểm theo 5 cấp
(thang điểm từ 1 đến 5 điểm) theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8761:2017)
- Chỉ tiêu sức khoẻ: được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5
cấp (1 - 5) (Lê Đình Khả & Dương Mộng Hùng, 2003)
- Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Icl (Lê Đình Khả & Dương Mộng Hùng, 2003)
2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê thông dụng trong cải thiện giống bao gồm DATAPLUS 3.0 và Genstat 12.0 (VSN International) và ASREML 4.0 (VSN International)