1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cải cách thuế để tối ưu

21 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 255,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin đi vào thực hiện đề tài: “Thuế tối ưu và những cải cách trong chính sách thuế của Việt Nam để hướng tới Thuế tối ưu”... Đánh thuế không theo sản lượng: Thuế

Trang 1

DANH SÁCH NHÓM 12

3 Nguyễn Ngọc Thiên Bảo 03/09/84

5 Hồ Thị Hồng Hạnh 22/04/76

6 Nguyễn Thị Thu Hiền 01/05/86

7 Lê Nguyễn Hải Long 28/10/81

8 Trang Thúy Quyên 19/08/85

9 Dương Thị Xuân Thảo 15/09/82

10 Nguyễn Thị Thu Trang 03/09/87

11 Trần Ngọc Linh 31/10/83

MỤC LỤC

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 12 1

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ THUẾ TỐI ƯU 4

1 Thế nào là Thuế Tối ưu? Sự khác nhau giữa thuế hiệu quả và thuế tối ưu? 4

2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội: 4

2.1 Theo thị trường: Thị trường tự do cạnh tranh và Thị trường độc quyền 4

2.2 Thuế suất 8

2.3 Độ co giãn cung, cầu : 9

2.4 Để thuế tối ưu thì phải chính phủ phải đánh thuế như thế nào? 9

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CẢI CÁCH TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM HƯỚNG TỚI THUẾ TỐI ƯU 11

1 Thuế gián thu: Thuế GTGT : 11

2 Thuế trực thu: Thuế TNDN và Thuế TNCN : 12

2.1 Thuế TNDN: 12

2.2 Thuế TNCN : 13

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2006 với sự kiện quan trọng là Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, bên cạnh đó cùng với việc tiếp tục triển khai những cam kết song phương và đa phương với các nước trong khu vực và trên thế giới như Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Song phương Việt - Mỹ (BTA), các hàng rào thương mại bị tháo dỡ và đòi hỏi chính sách thuế Việt Nam cũng thay đổi để theo kịp các nước trong khu vực và thế giới Chính sách thuế Việt Nam lần lượt cải cách qua các giai đoạn, thời kỳ và hướng tới: “Thuế tối ưu”

Thế nào là “Thuế tối ưu” ? Và Việt Nam đã thực hiện những cải cách gì để thực hiện chính

sách “Thuế tối ưu” Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin đi vào thực hiện đề tài: “Thuế tối ưu và những cải cách trong chính sách thuế của Việt Nam để hướng tới Thuế tối ưu”

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ THUẾ TỐI ƯU

1 Thế nào là Thuế Tối ưu? Sự khác nhau giữa thuế hiệu quả và thuế tối ưu?

-Thuế tối ưu là cơ cấu thuế làm tối đa hóa phúc lợi xã hội, trong đó có tính đến sự cân đối

nguồn thu ngân sách nhà nước

- Thuế hiệu quả là cơ cấu thuế mà tính hiệu quả của nó thể hiện gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất Gánh nặng phụ trội là phần tổn thất phúc lợi xã hội vượt quá số thuế

mà chính phủ thu được Gánh nặng phụ trội còn gọi là chi phí phúc lợi xã hội hoặc phần mất trắng

- Như vậy, Thuế hiệu quả là sự hoàn hảo Khi một chính sách thuế đạt tính hiệu quả thì chắc chắn nó sẽ tối ưu Trong tính hiệu quả có chứa tính tối ưu Nhưng trong thực tế, xét về góc độ Nhà nước nếu chính sách thuế bao giờ cũng đảm bảo tính hiệu quả thì Nhà nước sẽ không thu được thuế nên trong thực tế thuế tối ưu được sử dụng nhiều hơn

- Phúc lợi xã hội là yếu tố quyết định một chính sách thuế của một Chính phủ có tối ưu hay không? Để một chính sách thuế tối ưu khi cơ cấu thuế làm tối đa hóa phúc lợi xã hội Để phúc lợi

xã hội đạt được tối đa Chúng ta cùng đi vào tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội

2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội:

2.1 Theo thị trường: Thị trường tự do cạnh tranh và Thị trường độc quyền

2.1.1 Thị trường tự do cạnh tranh:

Giả sử thị trường sản phẩm A cân bằng ở mức sản lượng Q0, P0 Chính phủ đánh thuế t đồng cho mỗi đơn vị hàng hóa Phúc lợi xã hội sẽ thay đổi như thế nào?

Trang 5

Nhìn vào đồ thị trên ta thấy: Pb là mức giá (bao gồm cả thuế) do người mua trả Ps là mức giá

mà người bán thu được sau khi nộp thuế Ở đây gánh nặng của thuế chia đều cho cả người mua

và người bán Người mua mất mát A+B, người bán mất D+C và chính phủ thu được A+D Phần mất không là B+C

Như vậy, trong thị trường cạnh tranh Khi có sự tác động của Chính phủ vào thị trường bằng cách đánh thuế Sẽ làm cho Xã hội mất không là B+C Tuy nhiên, chính phủ với vai trò là chủ thể điều tiết nền kinh tế Đôi lúc Chính phủ thực hiện những chính sách nhằm mục tiêu xã hội nào đó Do đó, xét trên phương diện nào đó khi chính phủ thực hiên đánh thuế trong thị trường

tự do cạnh tranh đáp ứng được mục tiêu thuế tối ưu

2.1.2 Thị trường độc quyền.

Có hai cách đánh thuế là đánh thuế theo sản lượng và đánh thuế không theo sản lượng

a Đánh thuế theo sản lượng:

Thuế theo sản lượng là một loại chi phí biến đổi

Trước khi có thuế điều kiện sản xuất của xí nghiệp được thể hiện bằng đường AC1 và MC1

Để tối đa hóa lợi nhuận, xí nghiệp sẽ sản xuất ở sản lượng Q1, ấn định giá bán là P1, tổng lợi nhuận là diện tích P1C1BA

B

Sản lượng Giá

Trang 6

Nếu thuế tính trên mỗi sản phẩm là t đồng thì chi phí trung bình và chi phí biên ở tất cả các mức sản lượng tăng thêm t Trên đồ thị đường AC1 và đường MC1 dịch chuyển lên trên một đoạn

b Đánh thuế không theo sản lượng:

Thuế không theo sản lượng còn được gọi là thuế khoán hay thuế cố định, nó là một chi phí cố định

Như trên, trước khi có thuế, chi phí sản xuất của xí nghiệp thể hiện qua đường AC1 và MC1,

xí nghiệp sẽ sản xuất ở sản lượng Q1, ấn định giá bán P1, tổng lợi nhuận tối đa đạt được là diện tích P1C1BA

E

B

Trang 7

Sau khi chính phủ khoán một mức thuế là T trong một đơn vị thời gian, thì chi phí biên

không đổi vẫn là MC1, còn chi phí trung bình tăng lên AC2 (với AC2 = AC1+T/Q) Xí nghiệp vẫn

sản xuất ở sản lượng Q1, giá bán là P1, tổng lợi nhuận là P1C2CA

Như vậy, khi chính phủ áp dụng thuế khoán người tiêu dùng không bị ảnh hưởng vì giá cả và

sản lượng không thay đổi, nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống đúng bằng khoản thuế

(T)

Nhận xét:

Trong thị trường độc quyền, khi chính phủ thực hiện thuế khoán người tiêu dùng không chịu

ảnh hưởng của thuế Do đó, tùy từng giai đoạn mà chính phủ thực hiện đánh thuế theo sản lượng

hoặc không theo sản lượng để thực hiện thuế tối ưu

Trang 8

2.2 Thuế suất

Giả sử chính phủ đánh ux thuế vào hàng hóa X, làm cho nhu cầu giảm từ Xo xuống X1(ΔX) Gánh nặng phụ trội của thuế là diện tích tam giác abc, số thuế chính phủ thu được là diện tích tứ giác hbaj Giả sử chính phủ tăng thuế lên 1 đơn vị, vì vậy mức thuế bây giờ là (ux+1) Khi đó tổng giá cả là Po + (ux+1), nhu cầu giảm Δx (ở mức X2) gánh nặng phụ trội là diện tích tam giác fec, số thuế chính phủ thu được bằng diện tích gfih So sánh hai tứ giác này, chúng ta thấy khi thuế tăng lên, chính phủ thu được số thuế bằng diện tích gfih nhưng lại mất đi ibae

Do đó để chính sách thuế đạt được tối ưu, chính phủ cần quy định một mức thuế suất phù hợp không quá cao cũng không quá thấp

ej

hg

∆x ∆X

Trang 9

2.3 Độ co giãn cung, cầu :

Tác động của thuế phụ thuộc vào độ co giãn của cung và cầu (a) nếu cầu ít co giãn hơn so với cung, gánh nặng thuế đè nặng lên người tiêu dùng (b) nếu cầu co giãn nhiều hơn so với cung gánh nặng thuế đè lên nhà sản xuất

Trong thực tế, các chính phủ vận dụng quy luật này để đưa ra một chính sách thuế phù hợp

để đạt được chính sách thuế tối ưu

2.4 Để thuế tối ưu thì phải chính phủ phải đánh thuế như thế nào?

2.4.1 Thuế hàng hóa tối ưu (thuế gián thu) :

- Quy luật co giãn: Khi đường cầu hàng hóa co giãn cao, nên đánh thuế với thuế suất thấp, ngược lại, khi đường cầu ít co giãn thì đánh thuế với thuế suất cao Tổn thất được tạo ra từ bất kỳ thuế suất nào sẽ gia tăng theo co giãn của cầu, vì thế hiệu quả được cải thiện bằng việc đánh thuế vào hàng hóa không co giãn với thuế suất cao hơn hàng hóa co giãn

- Quy luật đánh thuế trên diện rộng: Tốt hơn nên đánh thuế rộng khắp các loại hàng hóa với mức thuế suất vừa phải hơn là đánh vào một nhóm hàng hóa với thuế suất cao Bởi vì tổn thất từ đánh thuế gia tăng theo bình phương thuế suất, chính phủ nên trải dài đánh thuế trên diện rộng, không nên đánh thuế vào một nhóm hàng hóa với thuế suất cao

Giá Giá

Q1 Q0 Số lượng

Số lượng

S

DS

D

Trang 10

2.4.2 Thuế thu nhập tối ưu ( thuế trực thu) :

Để đánh thuế thu nhập tối ưu, Mô hình của Edgeworth đưa ra ba giả thuyết:

- Dựa vào số thu thuế được yêu cầu, mục tiêu đặt ra là phải làm cho tổng mức thỏa dụng của các cá nhân tăng lên càng cao càng tốt Nếu gọi Ui là mức thỏa dụng của người thứ I và W là phúc lợi xã hội thì hệ thống thuế cần phải tối đa hóa: W= Tổng Ui ( i chạy từ 1 đến n); Trong

đó, n là số lượng người trong xã hội

- Mọi cá nhân đều có hàm thỏa dụng giống nhau và chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của

họ Các hàm thỏa dụng thể hiện mức thỏa dụng biên của thu nhập giảm dần Khi thu nhập tăng thì mức thỏa dụng của các cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, nhưng với tỷ lệ giảm dần

- Tổng thu nhập khả dụng là cố định

 Để tối đa hóa phúc lợi xã hội thì mức thỏa dụng biên thu nhập của mỗi người là như nhau Khi hàm thỏa dụng giống nhau, độ thỏa dụng biên thu nhập sẽ bằng nhau nhưng với điều kiện thu nhập bằng nhau Điều này hàm ý cho việc xây dụng chính sách thuế là: thuế nên thiết kế sao cho sự phân phối thu nhập sau thuế thật công bằng

Cụ thể, nên lấy bớt đi thu nhập từ người giàu bởi vì mức thỏa dụng biên bị mất đi của

họ nhỏ hơn độ thỏa dụng biên của người nghèo Nghĩa là, Thuế thu nhập nên đánh theo hình thức lũy tiến từng phần

Trang 11

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CẢI CÁCH TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM

HƯỚNG TỚI THUẾ TỐI ƯU

1 Thuế gián thu: Thuế GTGT :

Việc áp dụng thuế GTGTViệc áp dụng thuế GTGT với số lượng thuế suất ít ( 4 thuế suất: 0%; 5%; 10% và 20%) đã tạo điều kiện đơn giản hóa và nâng cao hiệu qủa quản lý thuế

Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu nên khắc phục được nhược điểm đánh thuế trùng lắp của thuế doanh thu; thuế được hoàn với hàng hóa xuất khẩu sẽ phát huy tốt tác dụng khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế; góp phần tích cực bào vệ hàng sản xuất trong nước; tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa thực hiện tốt chế độ hóa đơn để khấu trừ thuế GTGT đầu vào

Luật thuế GTGT được thông qua giữa năm 1997 là thời kỳ nền kinh tế - xã hội của Việt Nam tăng trưởng khá Nhưng Luật thuế lại được triển khai vào đầu năm 1999, thuộc thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực có ảnh hưởng không tốt đến sản xuất, kinh doanh của Việt Nam, hầu hết các ngành kinh tế gặp nhiều khó khăn

Như nhận định ở trên, Luật thuế giá trị gia tăng được triển khai vào đầu năm 1999, thuộc thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực có ảnh hưởng không tốt đến sản xuất, kinh doanh của Việt Nam Mặt dù giai đoạn 1998 – 1999 chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng như Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 102/1998/NĐ-CP ngày 21/12/1998 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 28/1998/NĐ-CP, Nghị định số 78/CP ngày 20/08/1999 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 102/1998/NĐ-CP ngày 21/12/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng, Thông tu 102/CP ngày 30/08/1999 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Nghị số 78/1999/NGCĐ-CP ngày 20/08/1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 102/1998/NGCĐ-CP ngày 21/12/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng, nhưng hầu hết các ngành kinh

tế gặp nhiều khó khăn đặc biệt là giai đoạn 2000 – 2005

– Luật thuế: được Quốc hội được sửa đổi vào các năm 2003 và 2008

– Nội dung cải cách:

 Luật Thuế giá trị gia tăng đã giảm thuế suất từ 4 mức trước đây (0%, 5%, 10%, 20%) xuống còn 3 mức (0%, 5%, 10%), bỏ mức thuế suất cao 20% Bãi bỏ mức thuế suất 20%

 Mở rộng đối tượng được áp mức thuế suất 0% để khuyến khích xuất khẩu dịch vụ

Trang 12

 Bãi bỏ khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo tỷ lệ % nhằm ngăn chặn việc lợi dụng khấu trừ thuế khống để chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước.

 Một số quy định khác

– Thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng tiến bộ đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng

do nó có nhiều ưu điểm mà đặc biệt quan trọng là nó khắc phục được vấn đề đánh thuế trùng lặp của thuế DT trước đây

2 Thuế trực thu: Thuế TNDN và Thuế TNCN :

2.1 Thuế TNDN:

Giai đoạn 1996-2000 thực hiện cải cách về thuế: Thuế TNDN thay thế thuế lợi tức

Khái niệm “ thuế lợi tức” thường được hiểu là loại thuế đánh trên lợi tức kinh doanh Trong kinh tế thị trường, các khoản thu của doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú, bao gồm cả lợi tức kinh doanh và các khoản thu không phải từ kinh doanh như các khoản thu về chuyển nhượng vốn, tài sản, chuyển giao công nghệ, Vì vậy cần thiết phải đổi tên “thuế lợi tức” thành thuế TNDN

Việc ban hành Luật thuế TNDN nhằm bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập

đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh trong cơ chế thị trường

Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước tiết kiệm vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh qua các chế độ miễn giảm thuế

Từng bước thu hẹp sự khác biệt về chính sách thuế để đảm bảo công bằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế

Hệ thống hóa những quy định ưu đãi về thuế trong nhiều luật khác nhau, bảo đảm sự rõ ràng, thống nhất trong việc thực hiện các chế độ ưu đãi thuế

– Luật TNDN được ban hành áp dụng từ 1/1/1999 Luật này áp dụng cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả hộ cá thể và nhóm kinh doanh; hộ gia đình;

cá nhân kinh doanh; cá nhân hành nghề độc lập; cá nhân có tài sản cho thuê; cá nhân nước ngoài kinh doanh có thu nhập phát sinh trong nước Luật được Quốc hội sửa đổi vào các năm 2003 và 2008

– Nội dung cải cách:

 Điều chỉnh từ 3 mức thuế suất phân biệt ngành nghề: 25%; 35%; 45% xuống còn 1 mức thuế suất từ 32% năm 1999, xuống 28% (năm 2003) và 25% năm 2008

 Bãi bỏ một số nội dung thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…

Trang 13

 Giảm mức thuế suất ưu đãi đối với doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

2.2 Thuế TNCN :

Ngày 4/9/1990, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã công bố dự thảo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân trước khi ban hành

Đối tượng tính thuế được chia thành 2 loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Trong Pháp lệnh thuế thu nhập cũng có quy định thuế suất ổn định đối với thu nhập không thường xuyên thuộc diện đánh thuế từ dịch vụ chuyển giao công nghệ là 5% Trúng thưởng xổ số kiến thiết cũng được điều chỉnh chỉ thu thuế đối với trường hợp được trúng từ 10 triệu đồng/lần trở lên với thuế suất thống nhất là 10%

– Tiền thân là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Sau nhiều lần cải cách luật này, đến năm 2007 Quốc hội ban hành luật thuế thu nhập cá nhân thay thế thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

– Luật thuế thu nhập cá nhân hiệu lực từ ngày 1/1/2009 và được sửa đổi bổ sung năm 2010– Nội dung điều chỉnh :

 Nâng mức khởi điểm chịu thuế từ 5 triệu sang 4 triệu đồng thời xét đến trường hợp khấu trừ gia cảnh

 Mở rộng khoảng cách mức thu nhập chịu thuế trong từng bậc thuế suất

– Việc xây dựng và áp dụng thuế thu nhập cá nhân là một bước cải cách lớn trong giai đoạn này, đáp ứng với tiến trình đổi mới quản lý kinh tế của nhà nước, quá trình hội nhập kinh tế của đất nước và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay Với việc ban hành Luật thuế quan trọng này, hệ thống thuế của chúng ta đang hướng đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới một hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn

21/11/2007, chính thức áp dụng từ 01/01/2009, đánh dấu một bước hoàn thiện trong hệ thống thuế của Việt Nam.

– Việc tổ chức kê khai và khấu trừ thuế TNCN tại nguồn trước khi chi trả thu nhập cho người lao động đã đảm bảo được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế TNCN cho nhà

nước Mặc dù có chính sách miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009 và trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái do khủng hoảng, nhưng số thuế TNCN năm 2009 vẫn cao hơn so với những năm trước đó Hơn nữa, việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đã làm cho cả người

có thu nhập và cơ quan chi trả thu nhập đều phải tự tìm hiểu, nắm rõ nội dung của Luật và các văn bản liên quan để thực thi, qua đó nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành luật pháp thêm một bước

Ngày đăng: 18/12/2014, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w