1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận chung về bảo hiểm xã hội

28 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 251,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong laođộng, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suygiảm v..v...Khi rơi vào những trường hợp này, cá

Trang 1

Lý luận chung về bảo hiểm xã hội

Biên tập bởi:

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Trang 2

Lý luận chung về bảo hiểm xã hội

Trang 3

MỤC LỤC

1 Bảo hiểm xã hội và sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội

2 Những nội dung cơ bản của bảo hiểm xã hội

3 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội

4 Mối quan hệ giữa bảo hiểm xã hội với chính sách xã hội và chính sách kinh tế

Tham gia đóng góp

Trang 4

Bảo hiểm xã hội và sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội

Sự cần thiết

Con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại v v Đểthoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩmcần thiết Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy

đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy, việc thoả mãn những nhucầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của

họ Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thunhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặccác điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong laođộng, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suygiảm v v Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sốngkhông vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một sốnhu cầu mới mhư: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cầnphải có người chăm sóc nuôi dưỡng v v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống,con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyếtkhác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượnhoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v v Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụđộng và không chắc chắn

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúcđầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết bảo đảm chongười làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang trải những nhu cầu cần thiếtkhi ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế, nhiều khi các trưòng hợp trên không xảy ra

và người chủ không phải chi trả một đồng nào Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc

họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.Vì thế mâuthuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết.Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sốngkinh tế xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sựcan thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ vàgiới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựatrên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ vàthợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Qũy này còn được bổsung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao độngkhi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi

ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình

Trang 5

họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ,sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vìvậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả nănggiải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giớiquan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thếhoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cốlàm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụngmột quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ gópphần đảm an toàn xã hội

Bản chất

- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội màsản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao độngphát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng vàhoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quátrạng thái kinh tế của mỗi nước

- Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn

ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXHvà bên được BHXH Bên tham giaBHXHchỉ có thể là nguười lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động.Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXHthông thường là cơ quan chuyên trách do Nhànước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ cácđiều kiện ràng buộc cần thiết

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH cóthể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn trái với chủ quan của con người như : ốmđau, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể lã trường hợp xảy ra khônghoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản v v Đồng thời những biến cố đó có thểdiễn ra cả trong và ngoài lao động

- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi

ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại Nguồnquỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từphía Nhà nước

- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao độngtrong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã được tổchức quốc tế ILO cụ thể hoá như sau:

Trang 6

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinhsống thiết yếu của họ.

+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật

+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt củangười già, người tàn tật và trẻ em

Chức năng của Bảo Hiểm Xã Hội

BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội của Đảng và Nhànước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ

bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Sự bảo đảmthay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động

sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy địnhcủa BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mấtthu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộcvào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định Đây

là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổchức hoạt động của BHXH

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả người sử dụng lao động Các bêntham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số ngườilao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng những người này thườngchiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số người tham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật sốđông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang.Phân phối lại giữa những người có thu nhập cao và thấp, giữa người khỏe mạnh đang laođộng với những người ốm yếu phải nghỉ việc v v Thực hiện chức năng này có nghĩa

là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâưng cao năng suấtlao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sảnxuất, người lao động được chủ sủ dụng lao động trả lương hoặc tiền công Khi ốm đau,thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập

bị mất Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗdựa Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làmviệc Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quảkinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao độngnâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội

Trang 7

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao độngvới xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao độngvốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian laođộng Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết Đặc biệt,

cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho

họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi choBHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khókhăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định,kinh tế, chính trị xã hội được phát triển và an toàn hơn

Tính chất của Bảo Hiểm Xã Hội

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thểhiện rất rõ Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội được xã hội tổ chứcquản lí, bảo tồn và phân phối lại cho người lao động Thực chất quỹ BHXH là một phầntrong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó người lao động chỉ phải đóng góp một khoảnnhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn.Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầnglớp dân cư trong xã hội Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mởrộng sức lao động, tạo thêm được nhiều điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạothêm được nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch

vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá Hoạt động BHXH không

vì mục tiêu lợi nhận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nềnkinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội BHXH mang tính chất nhân đạo, nhân văn,dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ để dùng vào lúc tuổi già, đau yếu Xét về lâu dài,mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXHphải có trách nhiện bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ đangcòn trong độ tuổi lao động

Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế – xã hộingày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao

Trang 8

Những nội dung cơ bản của bảo hiểm xã hội

Đối tượng của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đãđược thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Tuy BHXH ra đời sớm như vậy nhưngmột số khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng tham gia, đối tượng được bảo hiểm,đối tượng thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi còn có sự nhầm lẫn và có nhiều quanđiểm chưa thống nhất Có nhiều lúc còn lẫn lộn giữa đối tượng BHXH với đối tượngtham gia BHXH

Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc

bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì cácnguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy, đối tượng bảo hiểm xã hộichính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặcmất khả năng lao động, mất việc làm

Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng đượcbảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH (chiếm phần lớn trongcác trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH)

Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người sử dụng laođộng và Nhà nước Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phần họthấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của Nhànước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Đối với Nhà nước thì khác, họ thamgia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức vànhững người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà

cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự

ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội

Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao động còn cóngười sử dụng lao động Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì người sử dụng laođộng phải có trách nhiệm giúp đỡ Điều này có nghĩa là họ phải bỏ ra một khoản chi

Trang 9

phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểmhoàn trả lại.

Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường hợp họ gặp rủi

ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí Nhưng trongtrường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảohiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: bố, mẹ, con, vợ ( chồng)

Phạm vi bảo hiểm xã hội

Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của tổ chức lao động quốc tế ILOphạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:

- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện kiếnnghị đó ở mức độ kác nhau

ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế

độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

Quỹ bảo hiểm xã hội

Khái niệm quỹ BHXH

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước

Trang 10

Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm: người laođộng, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH

và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH

Đặc điểm

- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tàichính quốc gia Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà nướcvới các tổchức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính dân cư

- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn trả Tínhkhông hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối với người đã tham gia BHXH trongsuốt quá trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh con

- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có của nhà nước

là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm lời, đồng thời nó cũngphụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử trong từng thời kìcủa từng quốc gia Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều chế độBHXHđượcthực hiện, và bản thân từng chế độ cùng được áp dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn

về BHXH đối với người lao động càng được nâg caovà họ càng có khả năng tham giavào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội

- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mục tiêu, mục đíchcủa nó là chi trả cho các chế độ BHXH Nhưng mặt khác nó lại mang tính dự trữ vìthông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không được quỹ nàychi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị

- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết kiệm bắtbuộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí Đó cũng là quá trình phânphối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng

Trang 11

- Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phầnnhàn rỗi )

QtBH = ĐLĐ+ ĐSDLĐ+ ĐNN+ TĐT+ TTT+TK

Trong đó : QTBH: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm

ĐLĐ: Đóng góp của người lao động

ĐSDLĐ: Đóng góp của chủ sở hữu lao động

Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì thế, cũng nhưnhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham giađóng góp của Nhà nước Trước hết các luật lệ của Nhà nước về BHXH là những chuẩnmực pháp lí mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, nhữngtranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết Ngoài ra,bằng nhiều hình thức khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêmcho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn

và ổn định

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên.Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH cókhác nhau

Trang 12

Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao động hiệnvẫn còn hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương cánhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn

cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nềnkinh tế quốc để xác định mức đóng góp

Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn

bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình,các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗibên một phần bằng nhau Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹBHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí BHXHv v

Nước ta, từ năm 1962 đến năm 19987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ hai nguồn:các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp, phần còn lại

do ngân sách Nhà nước đài thọ Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập Từ năm

1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lương của đơn vị Saukhi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành rộngrãi Nghị định 43/CP ngày 22/ 06/ 1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theoNghị định 12 /CP ngày 26/ 01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXHđược hình thành từ các nguồn sau đây:

- Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lương của những ngườitham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất và 5%

để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với ngườilao động

- Các nguồn khác

Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cânđối thu chi quỹ BHXH Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa học Trongthực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường

sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định Khi tính phí BHXH, có thể

có những căn cứ tính toán khác nhau:

- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xácđịnh mức phí đóng

- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng

Trang 13

- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mứchưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.

- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại khá phức tạp

vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước Liên quanđến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cânbằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng Mức phí xác định phải được cân đốivới mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất

Phí BHXH được xác định theo công thức:

đủ cho số phát sinh chi trả trong năm Đối với chế độ BHXH dài hạn như : hưu trí, trợcấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v v quá trìnhđóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thờigian nhất định Cho nên sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trảitrong cả thời kì dài Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹBHXH có dự trữ đủ lớn

Mục đích sử dụng quỹ BHXH

Quỹ BHXH bao gồm 3 bộ phận: phí thuần, phí quản lí và phí dự trữ Như vậy quỹBHXH được sử dụng cho 3 mục đích: chi trả, cho các chế độ BHXH cho việc quản lí hệthống BHXH và chi trích lập quỹ dự phòng cho những trường hợp tổn thất lớn

QCBH= CTC+ CQL+ CDP+ CĐT+ CK

Trong đó:

QCBH: tổng chi BHXH

Trang 14

CTC: chi cho bộ máy quản lí

về điều kiện làm việc ngày càng tăng Vì vậy, chi phí cho việc xây dựng cơ bản, muasắm máy móc, trang thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên

Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi dự trữ Thực chất đây là quá trình tích luỹ trongquá trình sử dụng bảo hiểm xã hội Định kì hàng tháng (quý, năm) cơ quan bảo hiểm xãhội tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành lập nên quỹ dự trữ BHXH Quỹnày chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu chi trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ bảohiểm xã hội hoặc lúc đồng tiền mất giá

Nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH

Ngày đăng: 28/11/2014, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w