1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế

34 574 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 216,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vìthế, chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế được thực hiện theo nghị định số 738/TTg ngày10/4/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về lập hợp đồng kinhdoanh, qui định mối

Trang 1

Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế

Biên tập bởi:

Nguyễn Đức Cảnh

Trang 3

MỤC LỤC

1 Đặc điểm hình thành và phát triển của hợp đồng kinh tế

2 Khái quát về hợp đồng kinh tế

3 Chế độ hợp đồng kinh tế

4 Chế độ thực hiện hợp đồng kinh tế

5 Trách nhiệm pháp lý trong hợp đồng kinh tế

Tham gia đóng góp

Trang 4

Đặc điểm hình thành và phát triển của hợp đồng kinh tế

Do đặc điểm của nền kinh tế ở các giai đoạn khác nhau mà đặc điểm hình thành và pháttriển của hợp đồng kinh tế cũng khác nhau trong các giai đoạn sau :

Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ khôi phục nền kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân (1954 - 1959)

Thời kỳ này nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế hoạt động đan xen lẫn nhau Vìthế, chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế được thực hiện theo nghị định số 738/TTg ngày10/4/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về lập hợp đồng kinhdoanh, qui định mối quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh giữa các đơn vị kinhdoanh của Nhà nước, hợp tác xã, công ty hợp doanh và tư doanh

Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh là rất coi trọng ý chí tự do, tự nguyện, bình đẳng,thật thà, cùng có lợi của các đương sự tham gia hợp đồng trong nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên, phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước như : hợp đồng phải đăng

ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quyền huỷ bỏ hợp đồng bị hạn chế.v.v

Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung (1960 - 1974)

Là thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân đã căn bản hoàn thành Nhànước chủ trương phát triển nền kinh tế theo kế hoạch , chịu sự điều hành của Nhà nước

Vì thế, chế độ hợp đồng kinh doanh cũng được thay đổi Điều lệ tạm thời về chế độ hợpđồng kinh tế do Chính phủ ban hành theo Nghị định số 004/TTg ngày 4/1/1960 quy địnhmột kiểu hợp đồng mới, hợp đồng được ký kết trên cơ sở kế hoạch Nhà nước

Đặc điểm của điều lệ tạm thời là nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa các xínghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước Coi ký kết hợp đồng kinh tế là kỷ luật Nhànước trong quan hệ kinh tế và chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế trong phạm vi chỉ tiêu

kế hoạch Nhà nước, đồng thời cũng không được tự ý thương lượng điều chỉnh hợp đồngkinh tế nếu không có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Do đó, chế độhợp đồng kinh tế được chia làm hai loại : hợp đồng nguyên tắc và hợp đồng cụ thể

Bên cạnh đó, Điều lệ tạm thời - cũng qui định việc thành lập Hội đồng trọng tài với tưcách là cơ quan tài phán Nhà nước có chức năng giải quyết các tranh chấp trong việc kýkết và thực hiện hợp đồng kinh tế

Trang 5

Như vậy, chế độ hợp đồng kinh tế thường kỳ này là công cụ pháp lý của việc thực hiện

kế hoạch Nhà nước, với bản chất mang đậm yếu tố kế hoạch còn yếu tố tài sản là thứyếu

Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ thực hiện chủ trương cải tiến quản lý kinh

Đặc điểm chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này là : Hợp đồng kinh tế được ký kết ngaysau khi có sổ kiểm tra kế hoạch và sau đó được điều chỉnh lại khi Nhà nước gao chỉ tiêu

kế hoạch chính thức, việc ký kết hợp đồng kinh tế căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoặc văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên, bêncạnh đó các đơn vị kinh tế còn có thể ký kết các hợp đồng kinh tế ngoài chỉ tiêu pháplệnh, vì thế mà chủ thể của hợp đồng kinh tế được mở rộng hơn, thể loại hợp đồng cũngđược đa dạng hơn nhiều

Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (từ năm 1989 đến nay)

Sau đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chếquản lý kinh tế cũng được chuyển đổi hoàn toàn theo nền kinh tế Chính vì thế, chế độhợp đồng kinh tế - cũng được chuyển đổi Tren cơ sở đó, pháp lệnh hợp đồng kinh tế doHội đồng Nhà nước , thông qua ngày 25/9/1989 được ban hành

Đặc điểm của pháp lệnh hợp đồng kinh tế gồm :

+ Hợp đồng kinh tế được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ,cùng có lợi và không trái pháp luật

+ chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế là tất cả các pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinhdoanh, ngoài ra còn được mở rộng trong một số trường hợp đặc biệt

+ Chủ thể có quyền tự quyết trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế

+ Thể loại hợp đồng kinh tế được đa dạng hoá, bên cạnh đó còn qui định một số hợpđồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh áp dụng đối với các doanh nghiệp Nhà nước hoạt

Trang 6

động theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước giao và chính phủ cũng có văn bản qui định riêng(Quyết định số 18/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng bộ trưởng)

Như vậy, những điểm đổi mới của chế độ hợp đồng kinh tế thời kỳ này đã đáp ứng yêucầu của cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, bước đầu xây dựng nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN

Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu chế độ hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh hợp đồng kinh

tế ngày 25/9/1989

Trang 7

Khái quát về hợp đồng kinh tế

Khái niệm hợp đồng kinh tế

Trong các mối quan hệ xã hội có những quan hệ được các bên thoả thuận thiết lập nhằmmục đích làm phát sinh những đổi thay chấm dứt quyền và nghĩa vụ - giữa các bên vớinhau Những mối quan hệ thuộc loại này được gọi chung là quan hệ hợp đồng Cũngnhư vậy quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế được gọi là quan hệ hợp đồng kinh tế Trong khoa học pháp lý, hợp đồng kinh tế thường được hiểu theo hai nghĩa Đó là nghĩakhách quan và chủ quan

- Theo nghĩa khách quan (tức là dưới góc độ ý chí Nhà nước ) : hợp đồng kinh tế là tổnghợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tếphát sinh trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các bên chủ thể kinh doanh với nhau(còn gọi là chế độ hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng kinh tế) Chế độ hợpđồng kinh tế của nước ta mang đặc thù của pháp luật xã hội chủ nghĩa nó bao gồm cácquy phạm pháp luật về nguyên tắc ký kết tư cách chủ thể tham gia; trình tự và thủ tục kýkết hợp đồng kinh tế; các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũng như các nguyên tắc

và nội dung thực hiện; các điều kiện và cách thức giải quyết hậu quả của việc thay đổi,huỷ bỏ, đình chỉ và thanh lý hợp đồng kinh tế; quyền và nghĩa vụ của các bên trong việcthực hiện hợp đồng kinh tế; trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , sự thay đổi của quan hệ kinh tế, chế độ hợp đồngkinh tế cũng được thay đổi và phát triển

- Theo nghĩa chủ quan (tức là theo ý chí của các bên ký kết hợp đồng) : "Hợp đồng kinh

tế là sự thoả thuận bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về thựchiện công việc sản xuất trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu , ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự qui định rõ ràng vềquyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình" (Điều 1

- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989) Theo nghĩa này, hợp đồng là sự thốngnhất ý chí của các chủ thể hợp đồng kinh tế

Như vậy, xét về thực chất hợp đồng kinh tế , cũng như các loại hợp đồng khác, đều là

sự thay đổi giữa các chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể trong các quan hệ cụ thể Tuy nhiên, có một số điểm khác nhau giữa hợpđồng kinh tế với các loại hợp đồng khác về tư các chủ thể, mục đích, hình thức ký kết,thực hiện

Trang 8

Đặc điểm hợp đồng kinh tế

Những thay đổi cơ bản trong nền kinh tế cũng như chế độ quản lý kinh tế theo sự thayđổi những qui định của chế độ hợp đồng kinh tế để phù hợp với tình hìh diễn biến mớitrong các quan hệ kinh tế Vì thế, những qui định của pháp luật về hợp đồng kinh tế hiệnnay có các đặc điểm để chúng ta phân biệt với những qui định hợp đồng kinh tế trướcđây Đồng thời cũng phân biệt với các loại hợp đồng khác Những đặc điểm đó là :

Đặc điểm về mục đích của hợp đồng kinh tế

Hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm mục đích kinh doanh Mục đích này được thể hiệntrong nội dung công việc mà các bên thoả thuận trong hợp đồng như là : thực hiện hoạtđộng sản xuất , trao đổi hàng hoá, dịch vụ Điều đó có nghĩa là hợp đồng kinh tế phảigắn với quá trình sản xuất và tái sản xuất của các chủ thể kinh doanh, trong đó ít nhấtmột bên ký hợp đồng phải có mục đích kinh doanh còn bên kia có thể không có mụcđích kinh doanh nhưng không có mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt Đặcđiểm này dùng để phân biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự, hơn nữa mục đíchkinh doanh là đặc trưng của các quan hệ kinh tế

Đặc điểm về chủ thể hợp đồng kinh tế :

Theo Điều 2 - pháp lệnh hợp đồng kinh tế, thì hợp đồng kinh tế được ký kết giữa cácbên : pháp nhân với pháp nhân; pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quiđịnh của pháp luật Như vậy theo qui định này thì chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế phải

là chủ thể có điều kiện tổ chức, phải là pháp nhân và luôn phải là một bên ký kết, cònbên kia có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh

Cá nhân có đăng ký kinh doanh được hiểu là cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Đặc điểm về hình thức hợp đồng kinh tế

Hợp đồng kinh tế có thể ký kết dưới hình thức văn bản hợp đồng hoặc tài liệu giao dịch(như công văn, điện báo, đơn chào hàng, đặt hàng) Ngoài ra các bên có thể ký kết cácvăn bản phụ lục hợp đồng cụ thể hoá các điều kiện trong hợp đồng hoặc biên bản bổsung những điều khoản mới thoả thuận vào văn bản hợp đồng Phụ lục hợp đồng và biênbản bổ sung có giá trị pháp lý như hợp đồng kinh tế

Phân loại hợp đồng kinh tế

Dựa trên những căn cứ khác nhau mà hợp đồng kinh tế được phân thành nhiều loại khácnhau

Trang 9

Căn cứ và tính chất của quan hệ hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm các loại sau:

* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức :

Là loại hợp đồng được xác lập trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền, các chủ thể kinh doanh có thể thoả thuận với nhau lập ra một cơ sở kinh tế - kỹthuật mới để thực hiện mục đích chung Hợp đồng này không phản ánh quan hệ hànghoá tiền tệ, không mang tính chất đền bù Các bên chủ thể có thể thoả thuận góp vậtchất, góp sức lao động để lập ra cơ sở kinh doanh mới Song chủ thể của loại hợp đồngnày phải có tư cách pháp nhân đầy đủ Tuỳ theo tính chất của tổ chức, hợp đồng khôngchỉ có 2 bên chủ thể mà có nhiều bên cùng tham gia

Căn cứ vào thời hạn thực hiện hợp đồng, hợp đồng kinh tế chia làm 2 loại :

Như vậy, tuỳ theo đối tượng của hợp đồng, tính chất của mối quan hệ, giá cả thịtrường mà các chủ thể có thể ký kết hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn

3.3 Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng, hợp đồng kinh tế gồm :

* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh :

Là những hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh do cơ quanNhà nước có thẩm quyền giao cho các doanh nghiệp Nhà nước Việc ký kết hợp đồngkinh tế giữa những đơn vị kinh tế được giao nhiệm vụ kế hoạch là nghĩa vụ, là kỷ luật

Trang 10

của Nhà nước Hợp đồng này mang tính kế hoạch cao, vì thế, tính tự nguyện và bìnhđẳng giữa các chủ thể của hợp đồng bị hạn chế Tuy nhiên, trong cơ chế mới loại hợpđồng này không còn được áp dụng phổ biến nữa mà chỉ những doanh nghiệp Nhà nướchoạt động công ích mới thực hiện nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước giao.

* Hợp đồng kinh tế thông thường :

Loại hợp đồng này được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng cólợi Việc ký kết hợp đồng là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh tế , không một tổchức hay cá nhân nào được áp đặt ý chí của mình cho các đơn vị kinh tế khác Trong cơchế mới này, loại hợp đồng này được áp dụng rất phổ biến

Căn cứ vào nội dung giao dịch của quan hệ hợp đồng gồm:

* Hợp đồng mua bán hàng hoá

Là hợp đồng mà theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá và quyền sở hữu đốivới hàng hoá đó cho bên mua theo đúng điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng, cònbên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và thanh toán tiền hàng Quan hệ hợp đồng này làquan hệ trao đổi hàng hoá, gọi là quan hệ hàng hoá - tiền tệ

* Hợp đồng vận chuyển hàng hoá

Là hợp đồng mà theo đó bên vận tải hàng hoá có nghĩa vụ vận chuyển hàng hoá nhấtđịnh đến địa điểm đã ấn định để giao cho bên nhận hàng, còn bên thuê vận chuyển cónghĩa vụ trả cho bên vận tải một khoản tiền nhất định gọi là cước phí vận chuyển

* Hợp đồng xây dựng cơ bản :

Là hợp đồng kinh tế trong đó bên nhận thầu có nghĩa vụ xây dựng và bàn giao cho bêngiao thầu toàn bộ công trình theo đúng đồ án thiết kế và thời hạn như đã thoả thuận tronghợp đồng, còn ben giao thầu có nghĩa vụ bàn giao mặt bằng xây dựng , các bản thiết kế

và đầu tư xây dựng đúng tiến độ đồng thời có nghĩa vụ nghiệm thu công trình và thanhtoán cho bên nhận thầu Hợp đồng này mang tính chất đền bù

* Hợp đồng dịch vụ :

Là hợp đồng kinh tế theo đó bên cung cáp dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện hành vi nhấtđịnh phù hợp với ngành nghề đã đăng ký để thoả mãn nhu cầu của bên thuê dịch vụ vàđược hưởng khoản tiền công nhất định gọi là phí dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ có nghĩa

vụ tiếp nhận kết quả dịch vụ và thanh toán cho bên thuê dịch vụ phí như đã thoả thuận.Tóm lại, trên đây là những hợp đồng kinh tế cụ thể được áp dụng phổ biến trong thựctiễn đời sống kinh tế của nước ta hiện nay

Trang 11

Nguồn văn bản hiện hành của chế độ hợp đồng kinh tế

1- Nghị định số 735/TTg ngày 10/4/1960 ban hành điều lệ về hợp đồng kinh doanh

2- Nghị định 04/TTg ngày 04/1/1960 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh

tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước

3- Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế

Trang 12

Chế độ hợp đồng kinh tế

Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế

Theo điều 3 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế : "Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ chính đángcủa các bên tham gia quan hệ hợp đồng, bảo vệ lợi ích của xã hội, việc ký kết hợp đồngkinh tế được pháp luật quy định, phải tuân theo những nguyên tắc nhất định được quyđịnh trong chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế" thì ký kết hợp đồng kinh tế phải tuân thủcác nguyên tắc sau :

Nguyên tắc tự nguyện

Nguyên tắc này là quyền tự do ý chí (tự do khế ước) của các chủ thể kinh doanh đượcpháp luật cho phép để làm phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế mà không có sự áp đặt ýchí của các bên với nhau hoặc của tổ chức, cá nhân khác nhau Việc tham gia hợp đồnghay không là do các bên toàn quyền định đoạt Mọi sự ép buộc ký kết hợp đồng kinh tếgiữa bên này đối với bên kia - đều làm cho hợp đồng kinh tế vô hiệu.Do đó, tự nguyện lànguyên tắc bắt buộc phải có và cũng là nguyên tắc của hầu hết các loại hợp đồng Theonguyên tắc này , việc ký kết hợp đồng kinh tế phải là mong muốn thực sự của các bêntham gia nhằm đạt được mục đích nhất định Theo đó, các bên có quyền lựa chọn bạnhàng, lựa chọn địa chỉ cung ứng vật tư, thời điểm ký kết hợp đồng cũng như nội dung

ký kết Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ được coi là hình thành và có giá trị pháp lý nếu

có sự thoả thuận giữa các bên được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên

Tại điều 4 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế qui định : "Ký kết hợp đồng kinh tế là quyềncủa các đơn vị kinh tế Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được áp đặt ý chí củamình cho đơn vị kinh tế khi ký kết hợp đồng Không một đơn vị nào được phép lợi dụng

ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động trái pháp luật" Đây là một quy định thể hiện sựđổi mới rõ rệt của chế độ hợp đồng kinh tế , nhằm đảm bảo thực sự quyền tự chủ, tự do

ký kết hợp đồng, đó là "quyền của các chủ thể - chứ không phải là "nghĩa vụ" của họnhư trước đây

Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhànước, bởi vì theo loại hợp đồng này bị chỉ tiêu pháp lệnh chi phối rất cao Và hiện nay,quyền tự do giao kết hợp đồng kinh tế chỉ bị giới hạn bởi các điều kiện sau :

- Việc ký kết hợp đồng kinh tế phải phục vụ hoạt động kinh doanh đã đăng ký, tức làcác chủ thể chỉ được hoạt động kinh doanh trong phạm vi chức năng của mình

- Các bên không được lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt động tráipháp luật , có nghĩa các bên không được làm những gì mà pháp luật cấm

Trang 13

- Việc ký hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là bắt buộc, tức là các đơn

vị kinh tế Nhà nước giao cho chỉ tiêu pháp lệnh thì có nghĩa vụ ký kết hợp đồng kinh tế

để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh đó

Như vậy, có thể thấy rằng hiện nay Nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ hợp đồngkinh tế bằng pháp luật chứ không dùng mệnh lệnh hành chính như trước đây nữa

Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi

Theo nguyên tắc này, khi ký kết hợp đồng kinh tế , các chủ thể hợp đồng có quyền vànghĩa vụ ngang nhau mà pháp luật qui định để thoả thuận những vấn đề mà các bênquantâm nhằm đạt được mục đích cuối cùng là thiết lập quan hệ hợp đồng kinh tế, hay nóicách khác , các chủ thể có vai trò như nhau dù họ có địa vị pháp lý khác nhau

Biểu hiện của nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên được thể hiệnngay trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế Các bên đều có quyền đưa rayêu cầu của mình và cũng có quyền chấp nhạn hay không chấp nhận ý kiến của bên kia.Thực hiện nguyên tắc này không phụ thuộc quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý của cácchủ thể hợp đồng, bát kể họ thuộc thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý, thì khi

ký hợp đồng điều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi trên cơ sở thoảthuận và phải chịu trách nhiệm vật chất nếu vi phạm hợp đồng đã ký kết Quan hệ hợpđồng kinh tế chỉ được coi là hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về tất cảcác điều khoản trong hợp đồng

Tuy nhiên, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ ở đây phải song hành với tư tưởng hai bêncùng có lợi nhưng không nhất thiết các bên phải lợi ích như nhau mà mỗi bên đều cólợi ích riêng theo mục đích của mình, đồng thời, nó đòi hỏi các bên phải biết tôn trọnglợi ích của nhau, không thể để lợi ích của bạn hàng lấn át lợi ích của mình và ngược lạikhông để lợi ích của mình lấn át lợi ích của bạn hàng Vì thế, đây chính là tư tưởng giúpcho quan hệ được làm ăn lâu dài

Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất và không trái pháp luật

- Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản có nghĩa là nếu có vi phạm hợp đồng kinh tế, thìbên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại (nếu

có thiệt hại xảy ra) cho bên bị vi phạm bằng chính tài sản của mình mà không phụ thuộcvào cơ quan, tổ chức, cá nhân có lỗi đã gây ra vi phạm đó, trừ các trường hợp miễmgiảm trách nhiệm vật chất Có nghĩa là, khi hợp đồng kinh tế được ký kết thì các bênphải có nghĩa vụ thực hiện đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng Nguyêntắc này được qui định trong Điều 29 - Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Điều 21 Nghị định17/HĐBT đã dẫn Đây là một điểm mới của hợp đồng kinh tế theo pháp luật hiện hành.Trước đây, trong thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp, nếu trong quan hệ hợp đồng kinh tế

Trang 14

mà có vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm không chịu trách nhiệm với bên kia mà chịutrách nhiệm trước Nhà nước như là một hình thức vi phạm kỷ luật Nhà nước.

- Nguyên tắc không trái pháp luật đòi hỏi chủ cụ thể, hình thức thủ tục ký két và nộidung hợp đồng kinh tế phải hợp pháp (tuân thủ đúng các quy định của pháp luật) Mọivấn đề kể trên mà trái vơi squy định của pháp luật đều làm cho hợp đồng đó trở thành vôhiệu và có thể gây ra thiệt hại về mặt vật chất cho các bên và cho cả Nhà nước Đây lànguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ trật tự kỷ cương pháp luật, nângcao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực hợp đồng kinh tế Các bên được tự

do thoả thuận ý chí nhưng điều đó không có nghĩa các bên muốn thoả thuận với nhau vềđiều gì cũng được í chí đó phải phù hợp với pháp luật

Chủ thể hợp đồng kinh tế

Những tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tham gia hợp đồng kinh tế có quyền

và nghĩa vụ đối với nhau gọi là chủ thể hợp đồng kinh tế Theo điều 2 pháp lệnh hợpđồng kinh tế , chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế phải là pháp nhân với pháp nhân hoặcpháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Như vậy,trong quan hệ hợp đồng kinh tế pháp nhân là một bên chủ thể ký kết hợp đồng, còn benkia có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh

Pháp nhân phải là tổ chức có các điều kiện sau :

+ Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận.+ Có cơ cấu tổ chức thống nhất

+ Có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật môt cách độc lập (điều 94, Bộ luậtdân sự)

Cá nhân có đăng ký kinh doanh được hiểu là cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đó là các hộ kinh doanh cá thẻ đượcqui định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của Chính phủ, hoặc các doanhnghiệp tư nhân, công ty hợp doanh theo quy định của luật doanh nghiệp 12/6/1999

Như vậy, những hợp đồng được ký kết giữa các cá nhân với nhau không được gọi là hợpđồng kinh tế và nếu tranh chấp xẩy ra sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Tuy nhiên, theo qui định tại điều 42 , 43 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và thông tư số 11/TT/PL ngày 25/5/1992 của Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn ký kết và thực hiệnhợp đồng kinh tế mở rộng điều kiện cho phép pháp nhân có thể xác lập hợp đồng kinh

Trang 15

tế với tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn đầu tư ở Việt Nam, các doanh nghiệp không

có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh) , hộ kinh doanh cá thể,người làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ngư dân

ca thể nếu nội dung của hợp đồng không nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng, thuê laođộng

Để hình thành quan hệ hợp đồng kinh tế thì phải có sự tham gia ký kết của các bên chủthể hợp đồng kinh tế Thay mặt cho các bên chủ thể hợp đồng kinh tế đó cần phải cómột người đại diện để ký kết hợp đồng kinh tế Theo điều 9 - Pháp lệnh hợp đồng kinh

tế thì đại diện ký kết hợp đồng kinh tế có hai loại :

* Đại diện thương nhân :

Đó là người đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh Đối với pháp nhân, đại diện hợp pháp của pháp nhân là người được bổ nhiệm hay đượcbầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó và hiện đang giữ chức vụ gì đó (Điều 52 Nghịđịnh 17/HĐBT ) Đối với doanh nghiệp tư nhân là chủ doanh nghiệp hoặc người đượcdoanh nghiệp thuê làm giám đốc Đối với cá nhân là chính người đó, đối với hộ kinhdoanh cá thể, hộ kinh tế gia đình là chủ hộ

Người đứng tên đăng ký kinh doanh là người đứng tên xin cấp giấy phép đăng ký kinhdoanh , được cấp giấy kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan có tên

* Đại diện theo uỷ quyền

Là người được đại diện đương nhiên uỷ quyền thay mình ký kết hợp đồng kinh tế theoquy định của pháp luật Việc uỷ quyền này phải được thể hiện bằng văn bản Trướckhi ký kết hợp đồng kinh tế , người được uỷ quyền phải trình giấy uỷ quyền cho bênđối tác kiểm tra uỷ quyền có thể theo vụ việc hoặc thường xuyên Người uỷ quyền phảichịu trách nhiệm về việc uỷ quyền của mình Người được uỷ quyền chỉ được hành độngtrong phạm vi uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba

Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế

Để tuân thủ pháp luật, đảm bảo sự quảnlý của Nhà nước, đảm bảo lợi ích của các bên kýkết hợp đồng, theo Điều 10 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì việc ký kết hợp đồng kinh tếphải dựa vào các căn cứ sau :

Định hướng kế hoạch Nhà nước, các chính sách , chế độ, các chuẩn mực kinh tế

kỹ thuật hiện hành.

Đây là những mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc từngngành kinh tế kỹ thuật hoặc cho từng địa phương xác định cho từng thời kỳ, và cũng là

Trang 16

căn cứ để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Hay nói cáchkhác đây là căn cứ mang tính pháp lý thể hiện sự tuân thủ pháp luật của hợp đồng kinhtế.

Nhu cầu thị trường, đơn chào hàng, đơn đặt hàng của bạn hàng

Các hoạt động kinh tế , quan hệ kinh tế trong nền kinh tế bị quy luật giá trị, quy luật cungcầu chi phối Điều đó đòi hỏi hợp đồng kinh tế phải luôn luôn phù hợp với thị trường thìmới phát huy được vai trò của nó Là cái cầu nối giữa sản xuất với thị trường; giúp chosản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường tức là giúp cho cung cầu gặp nhau Vì vậy, đòi hỏicác chủ thể hợp đồng kinh tế khi ký kết hợp đồng kinh tế phải lấy nhu cầu thị trường đểlàm căn cứ nội dung hợp đồng cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên Đây là căn cứmang tính thực tiễn thể hiện nhu cầu thực sự của việc ký kết hợp đồng kinh tế, bảo đảmtính khả thi của hợp đồng

Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động kinh tế của mình.

Nhà nước qui định căn cứ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh để tránh tình trạngcác chủ thể kinh doanh ký kết hợp đồng kinh tế chỉ vì lợi ích riêng mà bất chấp phápluật, bất chấp khả năng và thực lực của mình Đây cũng là căn cứ vào khả năng về vốn,vật tư, năng suất lao động hiệu quả sản xuất kinh doanh của họ để làm cơ sở quyết địnhcho những cam kết trong hợp đồng được thực hiện

Căn cứ vào chức năng hoạt động kinh tế tức là căn cứ vào nội dung hoạt động trong cácngành nghề , lĩnh vực mà doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh

- Như vậy, đây là căn cứ để chứng minh địa vị pháp lý hợp pháp của các tổ chức kinh

tế, đồng thời khẳng định tính thực tiễn bảo đảm của hợp đồng

Tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng đảm bảo tài sản của cac bên cùng ký kết.

Căn cứ này chứng minh hoạt động của các bên chủ thể tiến hành không trái với quy địnhcủa pháp luật và đảm bảo nguyên tắc trực tiếp, chịu trách nhiệm tài sản theo qui địnhcủa pháp luật Đây là căn cứ rất quan trọng đối với việc đảm bảo hiệu lực của hợp đồngkinh tế , tránh tình trạng vi phạm hợp đồng, chiếm dụng vốn của nhau

Nội dung của hợp đồng kinh tế

Nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ những gì mà hai bên thoả thuận, thể hiện vànghĩa vụ của các bên ràng buộc với nhau trong quan hệ hợp đồng

Trang 17

Thông thường về mặt pháp lý, nội dung của hợp đồng kinh tế được thể hiện ở ba loạiđiều khoản.

Một là, điều khoản thường lệ - Là những điều khoản mà nội dung đã được pháp luật quiđịnh mà nếu các bên không ghi vào hợp đồng thì coi như mặc nhiên thừa nhận và phải

có trách nhiệm thực hiện các qui định đó như đã thoả thuận Ngược lại nếu ghi vào hợpđồng thì không được thoả thuận trái với quy định đó Ví dụ : Điều khoản về khung phạt

vi phạm hợp đồng kinh tế, về bồi thường thiệt hại.v.v

Như vậy, các bên tham gia có thể thoả thuận hay không thoả thuận các điều khoảnthường lệ thì hợp đồng vẫn hình thành khi đã có đủ các điều khoản chủ yếu

Hai là, điều khoản chủ yếu : Là những điều khoản cơ bản quan trọng nhất của hợp đồng

mà bắt buộc các bên phải thoả thuận và ghi vào hợp đồng, nếu không thì hợp đồng sẽkhông có giá trị pháp lý Theo điều 12 pháp lệnh hợp đồng kinh tế (đã dẫn) các điềukhoản chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao gồm :

- Ngày, tháng, năm ký hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài khoản và ngân hàng giaodịch của các bên; họ tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh doanh

Điều khoản này gọi là điều khoản hình thức của hợp đồng, là điều khoản chủ yếu màthiếu nó thì văn bản hợp đồng không có giá trị pháp lý, mà vấn đề pháp lý nổi bật nhằmđảm bảo cho hợp đồng các bên ký kết tuân theo chế độ hợp đồng kinh tế đó là điều kiện

về địa vị pháp lý của các bên tham gia hợp đồng kinh tế

- Đối tượng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lượng, khối lượng hoặc giá trị quy ước đãthoả thuận: Điều khoản này nhằm trả lời câu hỏi cái gì? và bao nhiêu? khi các bên thamgia ký kết hợp đồng kinh tế

- Chất lượng, chủng loại, qui cách, tính đồng bộ của sản phẩm, hàng hoá hoặc yêu cầu

kỹ thuật của công việc, theo các quy định về quản lý chất lượng sản phẩm thì chất lượngsản phẩm bao gồm các mặt như phẩm chất, qui cách , chủng loại, bao bì đóng gói kể cảmàu sắc Như vậy, các hàng hoá, công việc trong hợp đồng đã được xác định bởi cáctiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, qui cách và chủng loại của Nhà nước thì cácbên tham gia phải lấy đó làm cơ sở của việc ký kết, nếu thấy khác thì cần phải lấy đólàm cơ sở của việc ký kết, nếu thấy khác thì cần phải sửa đổi còn đối với các sản phẩm,hàng hoá, công việc trong hợp đồng mà chưa có tiêu chuẩn chất lượng cụ thể thì nhấtthiết phải ghi rõ trong hợp đồng việc thoả thuận về chất lượng hàng hoá hoặc yêu cầu

kỹ thuật công việc

- Giá cả: Điều khoản này là điều khoản mà các bên thoả thuận về đơn giá, các phụ phí,

tỷ lệ phần trăm hoa hồng Khi thoả thuận điều khoản này các bên có thể thoả thuận cảkhả năng điều chỉnh giá khi đó biến động giá cả của thị trường

Ngày đăng: 28/11/2014, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w