Ngày nay với xu hướng nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới. Với việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tố chức Thương mại Thế giới (WTO ) đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong nước. Trong bối cảnh như vậy việc tham gia vào thị trường thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải hiểu rõ về luật pháp quốc tế
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài:
Chế độ pháp lý về hợp đồng xuất khẩu và thực tiễn áp dụng tại
công ty gạch ốp lát Hà Nội.
Sinh viên thực hiện: Trần sỹ Quảng
Giáo viên hướng dẫn: Ths Đỗ Kim Hoàng.
Khoa : Luật kinh tế
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay với xu hướng nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới Vớiviệc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tố chức Thương mại Thế giới(WTO ) đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong nước.Trong bối cảnh như vậy việc tham gia vào thị trường thế giới đòi hỏi các doanhnghiệp Việt Nam phải hiểu rõ về luật pháp quốc tế Trong thực tế vì thiếu hiểu biết
về pháp luật quốc tế nhất là pháp luật về thương mại quốc tế mà nhiều doanh nghiệpViệt Nam đã chịu thiệt thòi khi phát sinh tranh chấp với doanh nghiệp nước ngoài
Do đó việc tìm hiểu về pháp luật thương mại quốc tế là rất quan trọng, nhất là trongquá trình ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu Xuất phát từ thực tế trên chuyên
đề này tập trung nghiên cứu về: Chế độ pháp lý của hợp đồng xuất khẩu hàng hoá
và thực tiễn áp dụng tại công ty gạch ốp lát Hà Nội.
Với mong muốn áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, chuyên đề này tậptrung tìm hiểu một số vấn đề pháp lý của hợp đồng xuất khẩu và thực tiễn áp dụngtrong công tác ký kết và thực hiện của công ty gạch ốp lát Hà Nội, đồng thời đưa ranhững kiến nghị đối với công ty và nhà nước nhằm nâng cao chất lượng của côngtác ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu của công ty
Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm 3 chương
Chương I: Chế độ pháp lý về hợp đồng xuất khẩu hàng hoá
Chương II: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá tại công ty
Gạch ốp lát Hà Nội
Chương III: Những giả pháp chủ yếu nhằm hoàn thiên và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật trong ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá tại công tyGạch ốp lát Hà Nội
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3CHƯƠNG I CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
1 Sự cần thiết và ý nghĩa của hoạt động kinh tế đối ngoại
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng không một quốc gianào có thể phát triển nhanh nếu thực hiện chính sách “đóng cửa”, tự cấp, tựtúc.Những quốc gia có tốc độ phát triển cao đều là những nước biết dựa vào kinh tếđối ngoại để thúc đẩy kinh tế trong nứoc phát triển, biết sử dụng thành tựu của cuộccách mạng khoa học kỹ thuật để hiện đại hoá nền sản xuất, biết khai thác các nguồnlực bên ngoài để phát huy nguồn lực trong nước
Hoạt động kinh tế đối ngoại có nhiều chức năng quan trọng, nhưng có thể kháiquát ở các chức năng sau:
-Tổ chức quá trình lưu thông hàng hoá, dịch vụ trong nước với nước ngoài, thoảmãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân về hàng hoá theo số lượng, chấtlượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí thấp
-Thông qua quá trình lưu thông hàng hoá, ngoại thương thực hiện chức năng tiếptục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông
-Thông qua hoạt động trao đổi hàng hoá trong nước với nước ngoài cũng như thựchiện các dịch vụ, ngoại thương thực hiện chức năng kết nối sản xuất với thị trường
và kết nối nền sản xuất trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mởcửa nền kinh tế
-Chuyển hoá giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xãhội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước, qua đó ngoại thương đáp ứngtốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống, nâng cao giá trị sử dụng của người tiêudùng
Những chức năng trên của kinh tế đối ngoại được thực hiện thông qua hoạt độngcủa các doanh nghiệp, của đội ngũ cán bộ kinh doanh Để thực hiện chức năng này
Trang 4có hiệu quả kinh tế đối ngoại cần sự quản lý của nhà nước Nhà nước quản lý ngoạithương theo một cơ chế thích hợp cho từng thời kỳ phát triển.
Chính sách ngoại thương của Việt Nam
Thời kỳ trước đổi mới,từ năm 1986 tở về trước, chính sách ngoại thương củaViệt Nam bị chi phối bởi nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoại thương.Mọihoạt động xuất nhập khẩu đều do các tổng công ty thuộc bộ Ngoại Thương trên cơ
sở đã được cấp trên phê duyệt
Cơ chế quản lý tập trung, bao cấp đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngoạithương, đặc biệt là xuất khẩu, và phát triển hàng xuất khẩu.Nhằm khắc phục tìnhtrạng trì trệ của nền kinh tế, hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần VI đã đề
ra một số biện pháp cải tiến cơ chế quản lý hoạt động ngoại thương, đặc biệt là quản
lý xuất nhập khẩu.Thực hiện chủ trương mở cửa để hội nhập với nền kinh tế khuvực và trên thế giới trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay với chính sách đổi mớihoạt động nền kinh tế nước ta đã có những bước biến đổi về chất Ngoại thương(đặc biệt là xuất khẩu) được đề cao, được coi là một trong 3 chương trình trọngđiểm của Việt Nam.Chuyển hoạt động ngoại thương từ cơ chế tập trung, bao cấpsang hạch toán kinh doanh, mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp chocác cơ sơ sản xuất thuộc các thành phần kinh tế.Thị trường ngoài nước được mởrộng theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại
Chiến lược ngoại thương của Việt Nam thời kỳ 2001-2010.
Căn cứ vào đường lối kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm
2001-2010, xu hướng phát triển nền kinh tế và thị trường thế giới thập niên đầu thế kỷXXI cũng như từ thực tiễn các nước, đại hội Đảng lần IX đã đề ra những đường lốicho hoạt động kinh tế đối ngoại Mục tiêu cho hoạt động xuất, nhập khẩu được nêu
ra trong giai đoạn 2001-2010 là: Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, gópphần đẩy nhanh CHH-HĐH tạo việc làm, thu ngoại tệ, chuyển dịch cơ cấu sản xuấttheo hướng nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo các sản phẩm cóhàm lượng công nghệ và chất xám cao.Về nhập khẩu, chủ trương nhập khẩu thiết bị
Trang 5và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất,nhất là công nghệ tiên tiến, đảm bảo cán cânthương mại ở mức hợp lý, tiến tới cân bằng kim nghạch xuất, nhập khẩu Mở rộng
và đa dạng hoá thị trường, phương thức kinh doanh, hội nhập thắng lợi vào nền kinh
tế khu vực và thế giới
2 Hợp đồng xuất khẩu.
2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Trao đổi hàng hoá, đã có lúc là hình thức chủ yếu của hoạt động thương mại quốc tế Hiện nay mặc dù có nhiều hình thức thương mại mới, nhưng trao đổi hàng hoá vẫn chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế, các hình thức hoạt động thương mại khác được hình thành sau này có vai trò hỗ trợ cho việc xuất, nhập khẩu hàng hoá Chính vì vậy trước đây cũng như hiện nay hợp đông mua bán hàng hoá quốc tế đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế, đặc biệt là đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Việc làm rõ định nghĩa “ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế “ có ý nghĩapháp lý và thực tế hết sức quan trọng, bởi định nghĩa này gắn liền với việc áp dụngluật để điều chỉnh quan hệ của các bên trong hợp đồng Nếu hợp đồng là hợp đồngmua bán hàng hóa thông thường, (hợp đồng nội địa) thì sẽ áp dụng luật trong nướcđiều chỉnh, nếu là hợp đồngmua bán hàng hoá quốc tế thì nó sẽ được điều chỉnhbằng luật thương mại quốc tế
Trong các văn bản pháp lý của Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “ hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế”, mà chỉ sử dụng thuật ngữ “ hợp đồng mua bánhàng hoá với thương nhân nước ngoài” Dưới góc độ pháp lý, hai thuật ngữ “ hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế” và “ hợp đồng mua bán với thương nhân nướcngoài có cùng một bản chất, đó là có sự tham gia của thương nhân nước ngoài haynói cáh khác hợp đồng có yếu tố nước ngoài.Trong luật Thương mại 2005, điều 20quy định: Mua bán hang hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu,nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu
Trong Công ước LaHaye 1964 , quy định: Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
Trang 6hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc việc trao đổi ý chí ký kếthơp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau.
Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đã giántiếp định nghĩa khi quy định: Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng muabán hàng hoá dược ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các nước khác nhau
Ở nước ta trước đây loại hợp đồng này được thể hiên trong khái niệm “ hợpđồng mua bán ngoại thương” Điều 1,Quyết định 127-BNgT/XNK ngày 18/3/1986của bộ ngoại thương quy định: Hợp đồng mua bán ngoại thương là những cam kếtgiữa một bên là tổ chức xuất nhập khẩu của Việt Nam với một bên là khách hàngnước ngoài nhằm thiết lập , thay đổi, đình chỉ,mối quan hệ nghĩa vụ và quyền lợitrong lĩnh vực mua bán trao đổi hàng hoá, mua bán phát minh sáng chế kỹ thuật,cung ứng dịch vụ gia công
Quy chế tạm thới của bộ Thương Nghiệp số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991hướng dẫn ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương đã định nghĩa “ hợp đồng muabán hàng hoá ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế ”.Như vậy trong pháp luật Việt Nam chưa có một khái niêm rõ ràng và thông nhất vềhợp đồng mua bán hang hoá quốc tế
2.2 Nhưng biểu hiện của yếu tố nước ngoai trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Theo PICC thì “ tính quốc tế của hợp đồng có thể xác định bằng nhiều cách.Những cách này được công nhận trên phạm vi luật pháp quốc tế và luật pháp quốcgia, từ việc căn cứ vào nơi kinh doanh hoặc nơi cư trú của các đối tác cho đến việc
áp dụng những tiêu chuẩn có tính tổng quát hơn, như việc đánh giá hợp đồng “ cóquan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia”, “ liên quan đến sự lựa chọn giữa luật củacác nước khác nhau” hoặc “Có ảnh hưởng đến các quyền lợi trong buôn bán quốctế”( lời nói đầu của PICC)
Những biểu hiện của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế được xác định là:
Trang 7- Các bên tham gia hợp đồng ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế làcác thương nhân có quốc tịch khác nhau và có trụ sở thương mại ở các nước khácnhau
- Hàng hoá- đối tượng của hợp đồng được chuyển dịch qua biên giới quốc gia hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau -Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việcchuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua các nước khácnhau
-Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên trong quan hệhợp đồng
-Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế và các tậpquán quốc tế khác về thương mại và hàng hải
3 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế các bên thường liệt kê vào tronghợp đồng tất cả những gì mình muốn như thời gia, địa điểm giao hàng Tuy nhiên
dù chi tiết đến đâu cũng không thể lường trước được những vấn đè có thể phát sinhtrong quá trìng thực hiện hợp đồng ( như việc hợp đồng có thể soạn thảo bằngnhững ngôn ngữ khác nhau, dẫn đến có những khái niệm được các bên hiểu khácnhau…).Do đó việc xác định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế chịu sự điềuchỉnh của luật nào là rất quan trọng Điều này có thể được các bên xác định tronghợp đồng hoặc xác định theo nguyên tắc lựa chọn luật áp dụng.Hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế có thể chịu sự điều chỉnh của các nhuồn luật khác nhau như cácđiều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, pháp luật của cá quốc gia…
3.1 Điều ước quốc tế:
Điều ước quốc tế là các cam kết của các quốc gia trong các lĩnh vực nhấtđịnh.Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế định nghĩa: “Điều ước quốc tế
là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh” Luật ký kết , gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam 2005 quyđịnh tại điều 2.1: “Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
Trang 8hoặc gia nhập là thoả thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh nhànước hoặc nhân danh chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với mộthoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luạt quốc tế khôngphụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, hiệp ước, thoả thuận, nghịđịnh thư, bản nghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.”
Dựa vào chủ thể tham gia thì điều ước quốc tế được phân thành hai loại: Điềuước quốc tế song phương và điều ước đa phương
Dựa vào nội dung của điều ước có thể phân thành: Điều ước kinh tế thươngmại, điều ước chính trị quân sự, điều ước quốc tế về lãnh thổ biên giới
Một điều ước quan trọng trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế là công ướccủa Liên hợp quốc về mua bán quốc tế dựoc ký kết ngày 11-4-1980 tại Viên, Áo Điều ước quốc tế về kinh tế thương mại thường được chia làm hai loại:
-Các điều ước quốc tế quy định những quy tắc pháp lý chung mang tính chỉđạo đối với các hành vi thương mại như hiệp định GAAT/WTO
-Các điều ước quốc tế quy định một cáh trực tiếpcá quyên và nghĩa vụ của cácchủ thể tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế như công ước Viên
Nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế:
Theo nguyên tắc chung điều ước quốc tế được áp dụng trong những trường hợpsau:
-Khi quốc gia của chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế ký kết hay thamgia điều ước quốc tế tương ứng Điều 5.1 của luật Thương Mại Việt Nam quyđịnh:Trường hợp mà điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tếhay có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của điều ướcquốc tế đó.Như vậy có thể thấy điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lý cao hơn hiệulực pháp lý của luật quốc gia
-Khi quốc gia của các chủ thể trong hợp đồng không tham gia ký kết hay phêchuẩn điều ước quốc tế, nhưng các bên thoả thuận áp dụng điều ước quốc tế để điềuchỉnh
Trang 9Ngoài ra điều ước quốc tế còn có thể được áp dụng trong trường hợp, nếu chỉ cóquốc gia của một trong hai chủ thể tham gia điều ước quốc tế nhưng các chủ thể củahợp đồng thoả thuận áp dụng luật của quốc gia này (Điều1.b công ước Viên 1980) Trên thực tế trong nhiều trường hợp, các quy định của điều ước quốc tế được ápdụng không thống nhất Để áp dụng thống nhất các điều ước quốc tế cần có sự giảithích chúng một cách thống nhất Hiện nay ngoài Liên minh châu Âu trên thế giớichưa có một toà án hay cơ quan quốc tế nào được thành lập để giải quyết nhữngtranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại quốc tế giữa các thương nhân.Dovậy để cá quy phạm của các điều ước quốc tế về thương mại phát huy hết hiệu quảcủa mình thì việc áp dụng và giải thích chúng một cách thống nhất có ý nghĩa vôcùng quan trọng trên cả lý thuyết và thực tiễn.
3.2 Tập quán thương mai quốc tế.
Tập quán thương mại là những quy tắc xử sự, phổ biến được hình thành lâu đờitrong thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế
Như vậy tập quán thương mại quốc tế có những đặc điểm sau:
-Là quy tắc xử sự được hình thành từ lâu đời;
-Có tính phổ biến, tức là được áp dụng rộng rãi trong hoàn cảnh tương tự
Các tập quán thương mại quốc tế cũng có thể trở thành nguồn luật điều chỉnh đốivới các hợp đồng thương mại quốc tế, nếu được các bên thoả thuận áp dụng tậpquán và đưa chúng vào hợp đồng Nếu các tập quán đã được dẫn chiếu vào hợpđồng sẽ có hiệu lực bắt buộc với các chủ thể ký kết Điều1.8 của PICC quy định:
“Các bên trong hợp đồng cần phải tuân theo những tập quán mà họ đã nhất trí vàcác quy ước đã được xác định và ngầm hiểu.Các bên trong hợp đồng nên tuân theonhững tập quán phổ biến và thiết thực trong hoạt động mua bán của cá chủ thểthuộc cùng lĩnh vực buôn bán trừ khi việc áp dụng tập quán đó vào hợp đồng này làphi lý”
Ngoài ra tập quán thwog mại quốc tế được áp dụng trong trường hợp dù cácbên không thoả thuận về việc áp dụng nó trong hợp đồng, tuy nhiên tập quán được
Trang 10toà án hay trọng tài công nhận với tư cách là nguồn điều chỉnh quan hệ giữa các bêntheo hợp đồng xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của vụ việc.
Một tập quán thông dụng trong buôn bán quốc tế được Phòng thương mạiquốc tế (ICC) tổng kết, soạn thảo và ban hành là các điều kiện thương mại quốc tế(Incoterms-International Commercial Terms) Các bản Incoterms được biên soạn 10năm một lần, các phiên bản mới ra đời không thay thế các phiên bản cũ, doIncoterms không có giá trị bắt buộc áp dụng Bản Incoterms 2000 là bản Incotermsmới nhất gồm 4 nhóm và 13 điều kiện.Tuy nhiên không phải vấn đề nào cũng đượcgiải quyết trong Incoterms
Những vấn đề mà Incoterms giả quyết đó là:
- Khi nào người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng (rủi ro khi nào đượcchuyển từ người bán sang người mua)
- Ai là người làm thủ tục thông quan xuất nhập khẩu
- Ai là người chụi chi phí bảo hiểm
- Ai là người chụi chi phí vận tải
Những vấn đề mà Incoterms không giải quyết là:
- Khi nào quyền sở hữu chuyển từ người bán sang người mua
- Những trường hợp được miễn trách
- Phạt hợp đồng
Hiện nay trong hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam ngàycàng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn
3.3.Tiền lệ pháp về thương mại (Án lệ):
Tiền lệ pháp về thương mại là các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn xét
xử của toà án.Tiền lệ pháp ít được sử dụng trong việc ký kết và thực hiện hợp đồngthương mại quốc tế.Thông thường tiền lệ pháp được sử dụng trong việc giải quyếttranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế mà chủ thể của hợp đồng làcác bên theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ
Ở nước ta tiền lệ pháp không được công nhận là các nguồn luật điều chỉnh,nhưng do sự thiếu vắng của một số văn bản luật và dưới luật, việc xét xử các tranh
Trang 11chấp về kinh tế thương mại thường dựa vào công văn hướng dẫn của toà án nhândân tối cao làm cơ sở giải quyết các tranh chấp tương tự.
3.4 Luật quốc gia:
Luật quôc gia cũng là một nguồn luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ hợpđồng trong mua bán hàng hoá quốc tế, bên cạnh tập quán thương mại quốc tế, điềuước quốc tế và án lệ
Các quy phạm pháp luật trong luật quốc gia được chia làm 2 nhóm: Các quyphạm bắt buộc và các quy phạm nội dung Các quy phạm bắt buộc có hiệu lực pháp
lý trong mọi trường hợp, không phụ thuộc vào việc luật áp dụng cho hợp đồng làluật của quốc gia nào, điều ước quốc tế, hay tập quán thươg mại quốc tế Ví dụ,thương nhân Việt Nam ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá với chủ thể nước ngoài,các bên thoả thuận luật áp dụng cho hợp đồng là luật quốc gia của chủ thể nướcngoài,mặc dù luật quốc gia của chủ thể nước ngoài cho phép hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế được ký kết bằng mọi hình thức kể cả bằng lời nói nhưng để hợpđồng có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam ,thì hợp đồng phải ký kết bằng văn bảntheo quy định của pháp luật Việt Nam
Đối với các quy phạm nội dung, tức là các quy phạm quy định các quyền vànghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thì việc áp dụng quy phạm này xuất phát từ:
- Sự thoả thuận của các bên
- Theo nguyên tắc xung đột pháp luật.nếu các bên không thoả thuận luật ápdụng thì luật áp dụng là luật của nước liên quan gần nhất
4.Hình thức của hợp đồng.
Theo quy định của các điều ước quốc tế và của nhiều nước thì hình thức củahợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể là bằng văn bản, bằng lời nói, hoặc nhânchứng Điều11Công ước Viên quy định: Hợp đồng mua bán không cần phải được
ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hìnhthức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách kể cả bằnglời khai của nhân chứng Tại điều1.2 của PICC cũng quy định “Sự tồn tại của một
Trang 12hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kỳ hình thức nào kể cả bằng nhânchứng”.
Theo pháp luật Việt Nam, thì hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được kýkết bằng văn bản (Điều 27 Luật Thương Mại 2005) Như vậy các đơn vị xuất nhậpkhẩu của Việt Nam khi tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu cần ký kết hợp đồngbằng văn bản.Việc quy định như vậy sẽ bảo vệ được thương nhân Việt Nam- nhữngngười còn ít hiểu biết về luật pháp quốc tế trong quá trình ký kết và thực hiên hợpđồng
II CHẾ ĐỘ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU
1.Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Để hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có hiệu lực thì phải thoả mãn các điều kiệnsau:
1.1.Điều kiện về chủ thể
Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lý.Vềphía Việt Nam, theo nghị định 12/2006/NĐ-CP nhày 23/1/2006, phải là doanhnghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đăng ký
mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh thành phố Doanh nghiệpkhông được phép xuất, nhập khẩu những mặt hàng trong danh mục hàng cấm xuất,nhập khẩu Đối với các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu nhưng có điều kiện thidoanh nghiệp phải xin được hạn ngạch (trường hợp hàng thuộc diện nhà nước quản
lý bằng hạn nghạch) hoặc xin được giấy phép (trường hợp hàng thuộc diện nhànước quản lý bằng giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu)
1.2.Điều kiện về hàng hóa
Hàng hoá-đối tượng của hợp đồng phải là hàng được phép xuất, nhập khẩutheo các văn bản pháp luật hiện hành.Theo quyết địnhcủa thủ tướng chính phủ số12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006, quy định:
- Các mặt hàng cấm xuất khẩu gồm: Vũ khí đạn dược, vật liệu nổ., trang thiết bị
kỹ thuật quân sự…
Trang 13- Các mặt hàng cấm nhập khẩu gồm: Vũ khí đạn dược, vật liệu nổ, các loại hoáchất độc…
1.3.Điều kiện về hình thức của hợp đồng.
Điều 27.2 Luật Thương mại Việt Nam quy đinh: Mua bán hàng hoá quốc tếphải được thực hiện trên cơ sở hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hìnhthức khác có giá trị pháp lý tương đương Hình thức của hợp đồng phải là văn bản
Đó có thể là bản hợp đồng có chữ ký của hai bên, cũng có thể là thư từ, điện tín,điện chữ, thư điện tử,…
2.Ký kết hợp đồng.
2.1Cách thức ký kết hợp đồng
Hợp đồng có thể ký kết bằng hai phương thức sau:
- Ký kết bằng phương thức trực tiếp (Đàm phán trực tiếp): Người đại diện có
thẩm quyền của các bên gặp nhau, cùng bàn bac, thương lượng về nội dung hợpđồng, khi điều khoản cuối cùng được thống nhất các bên có thể ký trực tiếp vào hợpđồng Ưu điểm của phương thức này là các bên tham gia ký kết có điều kiện bànbạc, thống nhất kỹ lưỡng từng điều khoản của hợp đồng, tránh được sai sót hoặchiểu nhầm ý định của nhau.Tuy nhiên phương thức này có nhược điểm là các bênphải chịu chi phí khá lớn cho việc đi lại, ăn, ở Đàm phán trực tiếp được tiến hànhtrên cơ sở các bên đưa ra những đề nghị cho nhau.Các bên đưa ra yêu cầu của mìnhđồng thời có sự nhượng bộ phù hợp đối với các điều kiện của hợp đồng tương lai
mà mình đưa ra.Trong các cuộc đàm phán thường có sự tham gia của các chuyêngia (chuyên gia kỹ thuât, luật pháp, tài chính…) và phiên dịch của cả hai bên, tuynhiên những người nay chỉ đóng vai trò tư vấn, bởi vì chỉ có các bên mới có quyềnđưa ra quyết định cuối cùng
Trong đàm phán trực tiếp, các bên phải hành động một cách trung thực, thiện chí,
và phải có nghĩa vụ giữ bí mật cuộc đàm phán
Việc tham gia đàm phán không bắt buộc các bên phải ký hợp đồng là đối tượngcủa đàm phán, nghĩa là một trong các bên có quyền kết thúc cuộc đàm phán trongtrường hợp họ không thể đạt được mục đích của mình nếu tiếp tục cuộc đàm phán
Trang 14Trong đàm phán trực tiếp không cho phép kéo dài cuộc đàm phán mà không có chủđịnh ký kết hợp đồng (ví dụ, vì mục đích cản trở bên kia ký kết hợp đồng với đốithủ cạnh tranh với mình) Người nào có hành động như vậy sẽ được coi là lạmdụng lòng tin của đối tác, và được coi là thực hiện hành vi có lỗi khi ký kết hợpđồng.Khi đó bên bị thiệt hại có thể có quyền yêu cầu phía bên kia bồi thường thiệthại.Trong trường hợp này có thể được coi như trường hợp một bên biết trước đượcrằng họ không thể biết thực hiện hợp dồng đã ký kết, nhưng không thông báo chophía bên kia biết.
- Ký kết bằng phương thức gián tiếp: Các bên không nhau mà trao đổi qua qua
tài liệu giao dịch như công văn, đơn đặt hàng…Nhờ những phương tiện như fax,internet, telex, các bên không cần phải gặp nhau cũng có thể ký hợp đồng một cáchnhanh chóng
2.2 Trình tự ký kết hợp đồng:
Trình tự ký hợp đồng theo phương thức gián tiếp gồm hai giai đoạn: chào hàng
và chấp nhận chào hàng
2.2.1 Chào hàng: Chào hàng là đề nghị ký kết hợp đồng của một bên (bên bán hoặc
bên mua) được gửi cho một người xác định hoặc một nhóm người trong đó có tốithiểu những điều kiện của hợp đồng dự kiến, có quy định và không quy định thờihạn trả lời
Theo điều 14 Công ước Viên một đề nghị ký kết hợp đồng được coi là chào hàngnếu có đủ các điều kiện sau:
- Phải đề nghị ký kết hợp đồng
- Phải được xác định đầy đủ chính xác Theo đó một đề nghị là đủ chính xác khi
nó nêu rõ hàng hoá và ấn định số lượng, giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyđịnh thể thức xác định những yếu tố này
- Phải thể hiện được ý định của người chào hàng là sẽ bị ràng buộc trong trườnghợp chào hàng được chấp nhận.Yêu cầu này thể hiển rõ sự khác biệt giữa chào hàngvới quảng cáo hay yêu cầu chào hàng
Trang 15Một đề nghị mang tính chất chào hàng khi nó là sự thể hiện bắt buộc ký kếthợp đồng trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng
Chào hàng được coi là có hiệu lực khi bên được chào hàng nhận được.Chàohàng có thể được rút lại hoặc bị huỷ bỏ nếu như thông báo về sự thu hồi chào hàngđến nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chàohàng (Điều 16.1 công ước Viên), hoặc thông báo về việc huỷ chào hàng đến ngườiđược chào trước hoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15.2 công ước Viên)
Tuy nhiên chào hàng không thể bị thu hồi hay huỷ bỏ trong trường hợp sau:
- Nếu trong chào hàng có quy định thời gian trả lời
- Trong chào hàng ghi rõ là chào hang không triệu hồi
- Nếu như người được chào hàng đã có một thời gian hợp lý để coi chào hàngnhư là một chào hàng không thể bị thu hồi và họ đã xử sự theo chiều hướng đó(Điều16.2 công ướcViên)
Chào hàng luôn mất hiệu lực trong các trưòng hợp:
2.2.2 Chấp nhận chào hàng.
Chấp nhận chào hàng là thông báo của bên được chào hàng cho bên chào hàng
về việc chấp nhận toàn bộ các điều kiện nêu trong chào hàng Như vậy chấp nhậnchào hàng là sự thể hiện ý chí của người được chào hàng về việc đồng ý ký kết hợpđồng trên cơ sở những điều kiện nêu trong chào hàng.Chấp nhận chào hàng phải rõràng , không được thay đổi bất cứ một điều kiện nào của chào hàng Nếu bên nhậnchào hàng yêu cầu sửa đổi bổ sung một trong những nội dung chủ yếu của chào
Trang 16hàng thì hành vi đó dược coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào hàngmới.Trong trường hợp sự trả lời có cjứa những thay đổi hay bổ sung nhung khônglàm thay đổi nội dung cơ bản của chào hàng thì vẫn được coi là chấp nhận chàohàng nếu như bên chào hàng không thông báo ngay những thay đổi này cho phíabên kia (Điều 19.2 công ước Viên).Khi đó điều kiện của hợp đồng sẽ là những điềukiện đã được thay đổi.Khoản 2, điều 19 công ước Viên quy định những thay đổi bổsung liên quan đến giá cả, phương thức thanh toán, khối lượng và chất lượng củahàng hoá, địa điểm và thời gian giao hàng, phạm vi trách nhiệm của một bên trướcbên kia cũng như thủ tục giả quyết tranh chấp được coi là những thay đổi cơ bản sovới điều kiện của chào hàng.
Chấp nhận chào hàng được thực hiện ngoài quy định trong chào hàng được coi làkhông có hiệu lực trừ trường hợp bên chào hàng thông báo ngay cho bên được chàohàng về việc chấp nhận của mình (Điều 21.1 công ước Viên, điều 397.1, đoạn 1, Bộluật dân sự Việt Nam 2005).Tuy nhiên cần phả phân biệt trường hợp nói trên vớitrường hợp khi sự trả lời được thực hiện trong thời gian quy định nhưng người chàohàng chậm nhận được sự trả lời vì một lý do nào đó.Khi đó người chào hàng phảithông báo ngay cho bên kia rằng sự trả lời của họ không có hiệu lực, nếu không thìhợp đồng coi như được ý kết bình thường (Điều 21.2 công ước Viên, điều 397.1,đoạn 2, bộ luật dân sự Việt Nam 2005)
2.3.Thời điểm ký kết hợp đồng
Trong trường hợp hai bên đàm phán trực tiếp thì theo pháp luật của mtj sốnước hợp đồng được coi là đã ký kết khi các bên đạt được thoả thuận cề các điềukhoản cơ bản của hợp đồng, còn những điều kiện khác thì xuất phát từ quy phạmpháp luật, tập quán thương mại hay những thông lệ khác
Pháp luật của một số nước khác thì lại cho rằng nếu các bên tiến hành đàmphán với mụ đicks ký kết hợp đồng cụ thể, thì hợp đồng được coi là được ký kết khicác bên đã đạt được thoả thuận về tát cả các điêu kiện là đối tượng của đàmphán.Luâth thương mại Việt nam 1997, điều 55 cũng quy định hợp đồng mua bánhàng hoá được coi là đã ký kết từ thời điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng
Trang 17Trong phưong thức ký kết gián tiếp thì hợp đồng được coi là đã được ký kết khichào hàng được chấp nhận tức là chấp nhận chào hàng có hiệu lực (điều 23, côngước Viên) Điều 404.2, Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định , hợp đồng được coi
là đã giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
Thời điểm ký kết hợp đồng cũng được coi là thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trừkhi các bên thoả thuận một thời điểm khác hoặc vào một thời điểm mà một điềukiện của hợp đồng được thực hiện, ví dụ vào thời điểm mở L/C, hoặc thời điểm cóquota
3.Những nôi dung chủ yếu của hợp dồng
Trước đây phấp luật Việt Nam quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải
có những nội dung chủ yếu theo quy dịnh , nhưng hiện nay điều đó là không bắtbuộc, hợp đồng nay có thể ký kết với nội dung mà các bên tự thoả thuận Tuy nhiên
để quá trình thực hiện hợp đồng dược thuận lợi và tránh các tranh chấp xảy ra saunày thì nội dung của hợp đồng cần có các điều khoản về:
-Tên hàng: Vì đây là hợp đồng mua bán có nhân tố nước ngoài nên tên gọi
hàng hoá rất đa dạng Do đó trong điều khoản này, hàng hoá cần phải ghi một cáchđầy đủ rõ ràng chính xác, kèm theo tên thưogn mại, tên khoa học, tên hàng kèmtheo địa danh sản xuất, tên hàng hoá kèm theo tên hãng sản xuất, tên hàng kèm theocông dụng của chúng.Nếu đối tượng của việc mua bán gồm nhiều mặt hàng, chủngloại hàng hoá khác nhau thì phải ghi rõ danh mục của các mặt hàng đó.Danh mụccủa các loại hợp đồng này có thể coi là phụ lục của hợp đồng
-Số lượng :Số lượng hàng hoá là một trong những điều khoản quan trọng của
hợp đồng bởi vì nó liên quan đến việc xác định rõ đối tuợng của hợp đồng mua báncũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên.Việc lựa chọn đơn vị đo lường phảicăn cứ vào tính chất của hàng hoá và tập quán thương mại quốc tế đối với các mặthàng cụ thể
Dựa vào tính chất của hàng hoá có thể dùng các đơn vị phổ biến như: kg, tấn đốivới các mặt hàng như ngũ cốc đường…; lit, m3 đối với các loại hàng như gỗ, chất
Trang 18lỏng và các loại hàng hoá khác cần xác định bằng thể tích Đối với một số loại hàngthì có thể sử dụng đơn vị tính như: bao nhiêu cái, bao nhiêu chiếc, bao nhiêu kiện…Ngoài ra, các bên cần phải thoả thuận rõ trong hợp đồng, là có hay không tínhtrongj lượng bao bì vào khối lượng của hàng hoá.Trong thực tiễn mua bán hàng hoáquốc tế bao giờ cũng nói rõ hai loại trọng lượng, đó là trọng lượng bao bì và trọnglượng tinh.
- Quy cách chất lượng: Trong thực tiễn mua bán hàng hoá có nhiều cách
xác định chất lượng của hàng hoá ,như:
+ Chất lượng được xác định theo mẫu hàng: theo đó chất lượng của hàng hoá được
xác địn theo mẫ của người bán đưa ra trước đó.Cách xác định này thường được ápdụng đối với các loại hàng đặc thù không có một tiêu chuản quốc tế thống nhất haykhông thể mô tả được: ví dụ như hàng thủ công mỹ nghệ
+ Chất lượng được xác định theo tiêu chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền, như
tiêu chuẩn về kích thước,công suất, phương pháp sản xuất, ví dụ, theo btiêu chuẩncủa VINACONTROL
+ Chất lưọng được xác định theo quy cách của hàng hoá hay tài liệu kỹ thuật, như
theo sơ đồ bản vẽ, bản thuyêt trình về tính năng tác dụng của hàng hoá
-Giá cả:Giá cả thường được xác định trên cơ sở giá quốc tế và xuất phát từ
điều kiện giao hàng.Giá cả trong hơpự đồng phải được biểu thị rõ về đơn giá, tổngtrị giá, đồng tiền tính giá và đồng tiền thanh toán, Thông thường giá hàng hoá đượcxác định bằng một loại ngaọi tệ mạnh như đồng USA của Mỹ hay đồng EURO củachâu Âu.Giá cả cần phải được quy định rõ, đúng và chính xác Trong hợp đồng maubán hàng hoá quốc tế, điều kiện cơ sở của giá có vai trò quan trọng trong tính toán
và xác định giá Nó sẽ ấn định phạm vi của các bên trong thi hành hợp đồng Ví dụ,nếu các bên chọ điều kiện cơ sở là FOB thì giá hàng hoá là giá hàng côngj với chiphí vận chuyển, nếu điều kiện cơ sở là CIF thì bên bán còn phải tính thêm vào giáhàng chi phí thuê tàu, mua bảo hiểm hàng hoá để vận chuyển hàng hoá tới cảng đíchquy định trong hợp đồng
Trang 19-Phương thức thanh toán: Điều khoản về thanh toán trong hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế bao gồm phương thức, thời hạn, địa điểm thanh toán.Haiphương thức thanh toán thường được sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hoáquốc tế là: Phương thức nhờ thu ( Collection of payment) phương thức tín dụngchứng từ ( Docu-mentary Credits), phwong thức ghi sổ, phương thức chuyển tiền…Ngoài ra thời hạn thanh toán cũng cần phả được quy định hết sức rõ ràng và chặtchẽ trong hợp đồng Thời hạn thanh toán thường, được xác định bởi một khoảngthời gian cụ thể, rõ ràng Ví dụ: người mua phải thanh toán trong khoảng thời gian
20 ngày làm việc của ngân hàng tính từ ngày hàng được giao cho người vận chuyển
-Địa điểm và thời gian giao hàng: Thời gian giao hàng là thòi hạn mà bên
bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua Thời ạhn giao hàng có thểđược quy định là giao hàng trong một khoảng thời gian nhất định, giao một lần,giao một chuyến, giao thành nhiều chuyến, hoặc thời hạn cuối cùng mà hàng phảigiao
Địa điểm cần được các bên xác định rõ trong hợp đồng vì việc lựa chọn địa điểmgiao hàng có liên quan chặt chẽ đến phương thức vận chuyển hàng hoá và địa điểmnay thường tuỳ rhuộc vào điều kiện cơ sở.Ví dụ: trong hợp đồng mua bán theo điềukiện CIF trách nhiệm giao hàng của bên bán hoàn thành khi hàng hoá được giao lêntàu ở cảng đi
III THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU.
1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng.
Sau khi hợp đồng đã được xác lập và có hiệu lực pháp lý thì các bên phải thực hiênđúng nghĩa vụ mình cam kết theo những nguyên tắc:
- Nguyên tắc thực hiện đúng nghĩa vụ mình đã cam kết
- Nguyên tắc thiện chí và trung thực Điều 1.7 của PICC quy định các bêntrong hợp đồng phải hành đồng phù hợp với tinh thần thiện chí và trung thực trongcác giao dịch thương mại quốc tế Nghĩa vụ giao dịch theo nguyên tắc thiện chí vàtrung thực của các bên là một đặc tính bắt buộc mà các bên không được loại bỏhoặc hạn chế sử dụng nó trong hợp đồng
Trang 202 Thực hiện hợp đồng về nội dung.
Để thực hiện một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì doanh nghiệp cầnphải thực hiện những bước sau
Vì là hợp đồng có mua bán hàng hoá quốc tế nên đàu tiên, doanh nghiệp cầnphải làm những thủ tục là điều kiện đẻ hợp đồng có giá trị pháp ký, trước khi đi vàonghĩa vụ giao hàng như:
- Xin giấy phép xuất nhập khẩu hoạc quota ( với trường hợp cần giấy phéphoặc có hạn ngạch)
- Mở thư tín dụng ( nếu trong hợp đồng quy định phương thức thanh toán này) Sau đó các bên tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ khác của hợp đồng như:
- Thuê tàu, mua bảo hiểm hàng hoá
- Giao/ nhận hàng
- Làm thủ tục hải quan
- Kiểm tra hàng hoá
- Thanh toán hợp đồng
- Thông báo cho đối tác
- Các nghĩa vụ khác khi có yêu cầu
IV TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1 Các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế khôngphải lúc nào các bên cũng đạt được mục đích đề ra khi ký kết hợp đồng Điều này cónghĩa là một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ củamình và gây ra thiệt hại cho phía bên kia.Trong những trường hợp này pháp luaatj tất
cả các nước cũng như các văn bản pháp lý quốc tế quy định những biện pháp chế tàiđối với bên vi phạm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho bên bị thiệt hại.Tuy nhiên đểkết luận một bên hợp đồng có vi phạm những nghĩa vụ không thì cần phải xem xét cácyếu tố:
- Có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng
- Bên vi phạm có lỗi
- Có thiệt hại
Trang 21- Thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu có nguyên nhân là hành vi trái phápluật của bên vi phạm hợp đồng.
2.Các hình thức trách nhiêm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Điều 292 của Luật Thương Mại 2005 quy định về các loại chế tài trong thương mại,
và các loại chế tài này còn được quy định cụ thể trong các điều ước quốc tế
2.1.Buộc thực hiên đúng hợp đồng
Điều 297 của luật Thương mại Việt Nam 2005 định nghĩa: Buộc thực hiệnđúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợpđồng hoặc dùng các biện pháp khác đẻ hợp đồng đuợc thực hiện và bên vi phạmphải chịu chi phí phát sinh
Điều 7.1.1 của PICC định nghĩa: Không thực hiện hợp đồng là việc một bênkhông hoàn thanh một hay nhiều nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, kể cả việc thựchiện không đúng quy cách hoặc thực hiện chậm
Mục 2 của PICC cũng quy định về quyền yêu cầu thực hiên hợp đồng Điều7.2.2 của PICC quy định: Khi một bên có nghĩa vụ thực hiện một công việcnhưng không thực hiện, bên kia có thể yêu cầu bên bị vi phạm thực hiện.Và theoPICC ( mục 2), thì yêu cầu này có thể là yêu cầu thanh toán, sửa chữa hoặc đổivật…Điều 46.1, điều 47 của công ước Viên cũng có quy định tuơng tự
Buộc thực hiện đúng hợp đồng luôn là biện pháp ưu tiên thực hiện trước khi ápdụng các biện pháp khác.Người mua có quyền yêu cầu người bán thực hiện đúngnghĩa vụ hợp đồng bằng các cách sau:
+ Nếu vi phạm là chậm giao hàng thì buộc thực hiện nghĩa vụ giao hàng
+ Nếu giao hàng thiếu thì yêu cầu phải giao đủ
+Yêu cầu thay thế hàng hoá không phù hợp với loại hàng hoá khác nếu sựkhông phù hợp là nghiêm trọng.Tuy nhiên yêu cầu này chỉ có hiệu lực nếu ngườimua tuân thủ thời hạn thông báo do các bên thoả thuận trong hợp đồng
+ Nếu người bán không giao hàng cùng loại đúng quy định thay cho hàng hoákhông phù hợp thì người mua có quyền mua hàng mới thay thế và bên vi phạm phải
có nghĩa vụ thanh toán
Trang 22+ Nếu người mua tự sửa chữa những khuyết tật của hàng hoá thì người bán phải
có nghĩa vụ thanh toán những chi phí liên quan đến việc sửa chữa khuyết tật chongười mua (Điều 297.3, luật Thương mại 2005)
Khi thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, ngưòi mua có thể chongười bán một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ của mình(Điều 298 luật Thương mại 2005, Điều 47 63 công ước Viên 1980)
2.2.Phạt vi phạm.
Điều 300, Luật Thương mại Việt Nam 2005 định nghĩa:” Phạt vi phạm là việcbên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồngnếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tạiđiều 294.”
Phạt vi phạm thực hiện hai chức năng:
- Thứ nhất, đó là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
- Thứ hai, đó là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Trong các văn bản pháp luật thương mại quốc tế thường không có quy định đẻđiều chỉnh loại quan hệ này,do đó các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế khi ký kết hợp đồng thường thoả thuận điều kiện phạt vi phạm
Phạt vi phạm được áp dụng trong các trường hợp:
là nguời bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm trả số tiền mà hai bên đã thoảthuận.;
- Bên có quyền không cần phải chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại;
Trang 23- Có thể tránh được chi phí phát sinh khi tiến hành chứng minh thiệt hại, mức
độ của thiệt hại
Số tiền bị phạt có thể được quy định trong hợp đồng hoặc do trọng tài hoặc toà
án quyết định
2.3.Buộc bồi thường thiệt hại.
Điều 302 Luật Thương mại Việt Nam định nghĩa: Bồi thường thiệt hại là việcbên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng
Điều 7.4.1 của PICC quy định”: Bất kỳ việc không thực hiện nghĩa vụ nàocũng cho phép bên bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoặc chỉ yêu cầu bồi thườngthiệt hại hoặc đồng thời với những yêu cầu có các biện pháp khác., trừ khi việckhông thực hiệ này được miễn trừ trách nhiệm theo PICC” Số tiền bồi thường thiệthại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi bên bi vi pham đáng lẽđược hưởng nếu không có hành vi vi phạm (điều 302.2 luật thương mại 2005) Sốtiền bồi thường thiệt hại không cao hơn giá trị tổn thất và khoản lợi đáng lẽ đượchưởng.Theo điều 74 Công ước Viên thì mức bồi thường không cao hơn mức tổnthất và khoản lợi được hưởng mà bên kia vi phạm đã dự liệu được hoặc đáng lẽ phải
dự liệu được vào lúc ký hợp đồng
Bồi thường thiệt hại phải tuân thủ theo nguyên tắc: thiệt hại phải được bồithường đầy đủ Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh:
- Bên bị thiệt hại phải được đền bù đầy đủ để có thể khôi phục lại lợi ích vậtchất bị tổn thất
Trang 24- Bên bị thiệt hại không được phép nhận sự đền bù vượt ra ngoài phạm vi cầnthiết để khắc phục lợi ích vật chất bị tổn thất của mình.
Như vậy mục đích của việc bồi thường thiệt hại là đặt bên bị thiệt hại vào vị trí
lẽ ra họ phải có nếu phía bên kia thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
2.4.Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Điều 308 của luật Thương mại 2005 định nghĩa: Tạm ngừng thực hiện hợpđồng, là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng
Như vậy một bên có thể tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong các trường hợp:
- Khi xảy ra vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thựchiện hợp đồng
- Khi có một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng
Khi tạm ngừng thực hiện hơpj đồng thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực, và cùng vớiviệc tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thườngthiệt hại
2.5.Đình chỉ việc thực hiện hợp đồng.
Điều 310 của Luật Thương mại Việt Nam 2005 định nghĩa : Đình chỉ việcthực hiện hợp đồng là, việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Một bên có thể đình chỉ thực hiện hợp đòng trong các trường hợp:
- Khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉhợp đồng
- Khi một bên vi phạmcơ bản nghĩa vụ của hợp đồngửcTong trường hợp mộtbên đình chỉ hợp đồng theo quy định thì bên đã thưcj hiện nghĩa vụ có quyềnyêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng, và bên bị viphạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định
2.6.Huỷ bỏ hợp đồng.
Trong thực tiễn hoạt động thương mại, huỷ hợp đồng là biện pháp chế tàiđược áp dụng khi việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không còn ýnghĩa.Theo pháp luật Việt Nam,( điều 312 luật Thương mại 2005) thì chế tài huỷhợp đồng được áp dụng trong trường hợp xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã
Trang 25thoả thuận là điều kiện để huỷ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợpđồng.Theo điều 7.3.1 của PICC quy định: Mỗi bên có thể chám dứt hợp đồng khibên kia không thực hiện nghĩa vụ của mình và nghĩa vụ ấy là một nghĩa vụ quantrọng ( vi phạm nghiêm trọng).
Khi áp dụng chế tài huỷ hợp đồng pháp luật (điều 315 luật thương mại 2005)quy định bên huỷ hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết về việc huỷ hợp đồng,nếu không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên huỷ hợp đồng phảibồi thường thiệt hại nếu có.Trong trường hợp chưa kịp thông báo huỷ hợp đồng chobên vi phạm nhưng bên vi phạm đã thực hiện nghĩa vụ thì bên vi phạm mất quyềnhuỷ hợp đồng.Ví dụ, khi người mua chưa kịp tuyên bố huỷ hợp đồng do ngưòi bán
vi phạm nghĩa vụ giao hàng nhưng người bán đã giao hàng thì lúc đó người mua sẽmất quyền huỷ bỏ hợp đồng
Việc huỷ hợp đồng sẽ đã tới một số hậu quả pháp lý.Quy định của pháp luậtViệt Nam (điều 314 luật Thương mại 2005) về vấn đề này tương tự quy đinhj củapháp luật quốc tế mà cụ thể là quy định của công ước Viên 1980 (điều 81).Theo đóviệc huỷ hợp đồng giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ của mình, trừ nghĩa vụ sau khihuỷ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp
Khi hợp đồng bị huỷ, bên nào đã thực hiện toàn bộ hay một phần nghĩa vụ hợpđồng có thể đồi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình Đồng thờibên bị vi phạm có quyền yêu cầu bòi thường thiệt hại theo quy định
V.TRANH CHẤP VÀ VIỆC GIẢ QUYẾT TRANH CHẤP
Tranh chấp trong mua bán hàng hoá quốc tế là tranh chấp phát sinh khi mộttrong các bên không thực hiên hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.Giảiquyết tranh chấp là việc điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa các bên dựa trênnhững căn cứ và phương thức khác nhau do các bên lựa chọn Các bên cần lựa chọnhình thức giả quyết tranh chấp thuận tiện nhất, nhanh chóng và ít tốn kémnhất.Trước khi ký kết hợp đồng các bên cần phải nghĩ đến điều này và phải lựachọn một trong các hình thức giải quyết tranh chấp để đưa vào điều khoản của hợpđồng Thông thường , trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, thoả thuận về việc
Trang 26lựa chọn hình thức giả quyết tranh chấp dễ dàng đạt được hơn là sau khi tranh chấp
đã phát sinh
1.Thương lượng giữa các bên.
Trong thực tiễn, khi tranh chấp xảy ra không phải lúc nào các bên cũng đuatranh chấp cho cơ quan tài phán giải quyết ngay, mà thông thường các bên giảiquyết bằng cách tự thương lượng với nhau
Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng có các ưu điểm sau:
- Đây là cách thức nhanh nhất để các bên có thể đạt được mục đích bảo vệquyền lợi của mình
- Với cách thức này thì thủ tục đơn giản và các bên không phải chịu chi phí nhiều Hiệu lực pháp lý của thương lượng: Đối với thương lượng độc lập , thì kết quảthương lượng được coinhư một thoả thuận mới về vấn đè tranh chấp , các bên phảithi hành một cách tự nguyện thoả thuận đó theo quy định của luật áp dụng về nghĩa
vụ thực hiện hợp đồng
Nếu thương lượng được tiến hành trong khuôn khổ tố tụng trọng tài hay tốtụng tư pháp, pháp luật nhiều nước quy định trọng tài viên, thẩm phán, theo yêu cầucủa các bên có thể ra văn bản công nhận kết quả thương lượng, văn bản này có giátrị pháp lý như một quyết định trọng tài hay toà án (điều 35, Quy tắc tố tụng củatrung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, điều 30 Luật mẫu UNCITRAL…)
2.Hoà giải.
Các bên có thể giải quyết tranh chấp phát sinh của minh bằng con đường hoàgiải, tuy nhiên hoà giải chỉ có thể có dựoc kết quả khi có điều kiện và hoàn cảnhthuận lợi.Thông thường các bên chỉ đưa ra thoả thuận hoà giải vaòi hợp đồng khiquan hệ của họ thân thiện đến mức đẻ họ có thể hy vọng rằng, tranh chấp có thểđược giải quyết bằng con đường hoà bình
Trong phưong pháp giải quyêt tranh chấp này, các bên cùng nhau đưa tranhchấp cho người thứ ba do các bên lựa chọn giải quyết với mục đích cố gắng đạtđược thoả thuận để thoả mãn quyền lợi của cả hai bên, tuy nhiên thoả thuận đạtđược không có hiệu lực pháp lý bắt buộc cho các bên
Trang 27Hoà giải duới góc độ pháp lý, được đặc trưng bởi những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hoà giải luôn mang tính chất tự nguyện và có thể kéo dài chừng
nào mà các bên còn quan tâmđến quá trình hoà giải
- Thứ hai, Các bên có ảnh hưởng không những đến thủ tục hoà giải mà còn
đến việc xác định các quy phạm được hoà giải viên áp dụngkhi đưa ra quyếtđịnh hoà giải
- Thứ ba, Bản chất của hình thức giải quyết tranh chấp bằng hào giải chính là
sự hoà giải, vì sau khi hoà giải thành, mỗi bên đều không cho mình là ngườithua cuộc và đều hài lòng với kết quả hoà giải
- Thứ tư, quyết định của hoà giải không có hiệu lực pháp lý bắt buộc với các bên và
việc thực hiện quyết định hoà giải phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên
3.Giải quyết các tranh chấp theo thủ tục trọng tài.
Điều 2.1 của pháp lệnh trọng tài định nghĩa: Trọng tài thương mại làphương thức giải quyết trnh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại dwocj cácbên thoả thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục tố tung do pháp lệnh nay quyđịnh
Như vậy sẽ không có trongj tài nếu không só thoả thuận giữa các bên vềviệc sử dụng hình thức này để giải quyết tranh chấp phát sinh.Thoả thuận giữa cácbên có thể được thể hiện bằng hình thức “điều khoản trọng tài”, trong hợp đồng Giải quyêt tranh chấp bằng trọng tài thương mại có các ưu điểm so với giải quyếttranh chấp bằng toà án, đó là:
Khi giải quyết tranh chấp bằng toà án thì:
- Có thể các bên gặp khó khăn do không biết rõ thủ tục tố tụng của toà ánnước ngoài
- Thủ tục tố tụng và quá trình giải quyết tranh chấp bắt buộc phải tiến hànhbằng ngôn ngữ của quốc gia khác, điều này báet buộc phải dịch toàn bộchứng cứ tài liệu ra ngôn ngữ khác
- Sự tồn tại của nhiều cấp xét xử sẽ có khả năng kéo dàiquá trình giải quyếttranh chấp và do đó sẽ tăng chi phí
Trang 28Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có ưu điểm sau:
- Khi giao tranh chấp cho trọng tài viênn do các bên lựa chọn chon các bên cóthể yên tâm hơn , bởi vì các bên nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khácnhau, pháp luật của các quốc gia này cũng không giống nhau
- Theo hình thức này thì các bênn có thể coa nảh hưởng đến thành phần trọngtài, đến thủ tục giải quyết tranh chấp
- Đây là phương thức giải quyết nhanh nhất, ít tốn kém, thủ tục đơn giản,quyết định của trọng tài mang tính chung thẩm, trừ một số trường hợp đặcbiệt
- Khi thông qua quyết định, trọng tài thương mại thường tính đến ý chí của cácbên được thể hiện trong hợp đồng
4.Giải quyêt tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại toà.
Giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án, là một trong những phương thứcgiải quyết được quy định trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới và cả ở ViệtNam
Theo phương thức này thì các bên sẽ thoả thuận giẩi quyết tranh chấp tại toà
án nứơc nào.Trong khi lựa chọn các bên cần phải lưu ý đến thẩm quyền, tính kháchquan của toà án được lựa chọn, hiệu lực thi hành bản án ở các nước liên quan đến
vụ kiện…Trong quá trình xet xử, toà án sẽ lụă chọn luật mà các bên đã thoả thuậntrong hợp đồng để xét xử, nếu các bên không có thoả thuận thi toà án sẽ áp dụng cácngyên tắc xung đột pháp luật để xác định luật áp dụng
Bước cuối cùng là công nhận và thi hành bản án, đây cũn là bước khó khănnhất , vì hiệ nay chưa có một điều ước quốc tế nào về công nhận và thi hành bản ánnước ngoài, như công ước NewYork 1958 đối với trọng tài Điều này làm choTrọng tài trở thành phương thức giải quyết tranh chấp được ưa chuộng hơn toà án
Trang 29CHƯƠNG II
THƯC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY GẠCH ỐP LÁT HÀ NỘI.
I.KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY.
1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty gạch ốp lát Hà nội tiền thân là xí nghiệp gạch ngói Hữu Hưng trực thuộc Liên hiêp các xí nghiệp Sành sứ thuỷ tinh, được thành lập tháng 6/1959 theo quyết định số094A/BXD-TCLĐ, đến tháng 8/1994được đổi tên thành công ty gốm xây dựng Hữu Hưng, là đơn vi trực thuộc Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng Việt Nam
Tên doanh nghiệp : Công ty gạch ốp lát Hà NộI
Tên giao dịch quốc tế : Ha Noi Ceramic Tiles Company
Địa chỉ : Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại : 04 8743043
Fax : 04 8542889
Ngành nghề kinh doanh: - Công nghiệp sản xuất gạch ngói;
- Sản xuất kinh doanh gạch ốpvà lát nền tráng men( ceramic);
- Kinh doanh vận tải hàng hoá;
- Kinh doanh các sản phẩm vật liệu xây dựngVốn điều lệ : 861.000.000 VND
Trang 30độc lập, phát huy năng lực trong sản xuất kinh doanh Được thành lập trong giaiđoạn nền kinh tế đất nước đang phát triển mạnh mẽ tạo cho Công ty nhiều cơ hội
và thach thức mới.Cơ sở ban đầu của công ty khá thuận lợi, với tổng diện tích là22.600m2, bao gồm hệ thống kho bãi, nhà xưởng, văn phòng làm việc và hai dâychuyền sản xuất gach hoan toàn tự đông, được nhập từ châu Âu Các sản phẩm củacông ty như gach ốp nền và gạch ốp tường mang nhãn hiệu Vigracera đã có chỗ dựavững chắc trên thị trường
*Các giai đoạn phat triển của công ty.
Giai đoạn từ năm 1994 đến 1999.
Trong 3 năm từ 1994 đến 1997 với tổng đầu tư 130 tỷ đồng, Công ty đã có 2
dây chuyền sản xuất tự động ,với tổng công suất 3 triệu m2 /năm, gồm: Dây chuyềncủa hãng Welko, Công hoà liên bang Đức và dây chuyền sản xuất số II của hãngNassetti, Italia
Đầu năm 1998, Công ty đã tổ chức sắp xếp lại phòng ban cho đến phân xưởng sảnxuất đồng thời thành lập phòng KCS ( Kiểm tra chất lượng sản phẩm), trên cơ sởtách ra từ phòng kỹ thuật của công ty nhằm tăng cường công tách kiểm tra, kiểmsoat việc thực hiện quy trình công nghệ Bên cạnh đó, công ty đã thực hiện chặt chẽviệc gắn trách nhiệm của người lao động với chất lương sản phẩm, thực hiện việcgiao định mức tiêu hao vật tư nguyên liệu, nâng cao chất lương sản phẩm Nhưng
do cơ cấu của công ty sản phẩm của công ty còn nghèo nàn, mẫu mã sản phẩm cònhạn chế nên đã dẫn đến sản lượng và doanh thu tiêu thụ còn thấp so với sản lượngsản xuất Do đó để nâng cao sức cạnh tranh, công ty đã liên tục đề ra những biệnpháp, kế hoạch trước mắt và lâu dài để kịp thời chấn chỉnh mọi mặt, phấn đấu đạtmục tiêu đề ra
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay:
Từ năm, 2000 đến nay được sự chi đạo quan tâm sâu sắc của các đồng chílãnh đạo công ty, cùng sự năng động , đoàn kết nhất trí , sự lao động sáng tạo vàmiệt mài hăng say lao động của tập thể cán bộ công nhân viên, công ty đã hoàn
Trang 31thành vượt chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh Tổng sản lương sản xuất hàngnăm của công ty liên tuc tăng.
Năm 2003, sản lương nhập kho của toàn công ty đạt 6.381.556m2 tăng 2,66%
so với kế hoạch và tăng 9,25% so với năm 2002.( tương ứng với mức tăng540.469m2 )
Công ty đã chủ động đi tìm nguồn nguyên liệu, có trữ lưọng lớn, thành phần ổnđịnh và có kế hoạch khai thác sớm.Các nguyên liệu men, màu nhập ngoại, phụ tùngthay thế đựoc tính toán va lập kế hoạch chi tiết, nhờ đó công ty có thể chủ độngtrong quá trình sản xuất và thay thế sửa chữa bảo dưỡng Cùng với đó, công ty cũngchủ động trong đàm phán với các nhà cung cấp để giảm giá nguyên liệu đầu vào,góp phần giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Với muc tiêu phát triển không ngừng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường,Công ty đã triển khai ,nghiên cứu và phát triển thành công các loại gach ốp lát vớicác kích thước mẫu mã đa dạng, đặc biệt là các loaị sản phẩm men mát theo phongcách Tây Ban Nha, mang tính thẩm mỹ cao, có khả năng chống trơn trượt và chốngtrầy xước cao thich hợp với các công trình sang trọng và hiện đại Các sản phẩmgạch ốp lát cao cấp của công ty mang nhãn hiệu Vigracera-Hà nội ,không nhữngđược tiêu thụ rộng rãi tại khắp các tỉnh thành mà còn được xuất khẩu đến nhiềunước trên thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc; Thái Lan, Ấn độ, Đài Loan…
2 Chức năng nhiệm vụ của công ty và đặc điểm sản xuất của công ty.
2.2.Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trang 32Sản phẩm của công ty có mẫu mã đa dạng, kích cỡ phong phú, bao gồm gạch lát nền và gạch viền.
Để sản xuất các loại sản phẩm tên công ty đã dùng các loai nguyên liệu chủ yếunhư:
+ Nguyên liệu xương, bao gồm: Đất sét, Đolomít; Đát cao lanh; Quartz;STTP + Nguyên liệu làm men, màu trang trí
+ Nhiên liệu: Dầumỡ, dầu hoả, gá ,hoá lỏng
+ Vật tư bao bì: Vỏ hộp , nẹp, kẹp, dây đai, dung, dich dạ quang Nilon,axeton Quá trình sản xuất gạch men được thực hiện trên dây chuyền công nghệ sảnxuất hiện đại của nước ngoài, được thể hiện, qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
Chứa nguyên liệu
Chế biến nguyên vật liệu để làm xưong
Trang 333.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty: Do đặc điểm của công ty, là một doanh
nghiệp nhà nước, là đơn vị trực thuộc của tổng công ty nên mô hình bộ máy quản lýdược tổ chức theo mô hình trực tuyến chứ năng bao gồm: Giám đốc, phó giám đốc,
Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty có thể được khái quát như sau
Giám
đốc
PGĐ kinh doanh
PGĐ thiết bị
PGĐ sản xuất
Phòng kinh doanh
Phân xưởng cơ điện
Phân xưởng
Phòng kỹ thuậtsản xuất
Phòng hành chính
Phòng tài chính kế toán
Phòng kế hoạch sản xuất
Phòng tổ chức lao động