1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng kinh tế trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế hiện nay

35 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn kiện Đại hội Đảng VI 6/1986 đã đề ra: "Giai đoạn này là giai đoạn phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng, có sự điều tiết của Nhà nớc theo đ

Trang 1

Lời nói đầu

Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đó đi lên cũng nh đảm bảo cho chế độ đó tồn tại là phát triển do vậy mục tiêu phát triển nền kinh tế là rất quan trọng (6/1986)

Trong văn kiện Đại hội Đảng VI (6/1986) đã đề ra: "Giai đoạn này là giai

đoạn phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng,

có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng XHCN" và hàng loạt các văn bản pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế đã đợc Nhà nớc ta ban hành, trong đó

có pháp luật HĐKT đợc Hội đồng Nhà nớc ban hành (nay là UBTVQH) thông qua ngày 25/9/1989 Có hiệu lực từ ngày 19/9/1989 Có thể nói với t cách là kiến trúc thợng tầng, pháp lệnh HĐKT năm 1989 đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xoá bỏ cơ chế kinh tế cũ thiết lập cơ chế kinh tế mới, là sự phát triển chung của nền kinh tế nớc ta Cho đến nay chúng ta đã đi qua một chặng đ-ờng phát triển hơn mời năm và đã có nhiều thay đổi trong nền kinh tế và hệ thống pháp luật Mặt khác, các quan hệ kinh tế đang ngày càng trở nên đa dạng hoá và phức tạp khiến cho nhiều quy định pháp lệnh HĐKT và các văn bản pháp luật hớng dẫn thi hành trở nên không còn phù hợp Bên cạnh đó sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã xuất hiện nhiều điểm không thống nhất với nhau nh Bộ Luật dân sự và Luật Thơng mại Nó làm giảm hiệu quả việc điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội và còn một số vấn đề mâu thuẫn trong HĐKT

Trong nền kinh tế thị trờng, hệ thống pháp luật nói chung mà trớc hết là hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng có vai trò tạo ra khuôn khổ pháp lý nhất định

và là hành lang cho các chủ thể kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời pháp luật là công cụ để quản lý nền kinh tế

Trang 2

Với công cuộc đổi mới nền kinh tế nh hiện nay cũng nh đổi mới pháp luật

về HĐKT em đã chọn đề tài: "Hợp đồng kinh tế trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế hiện nay".

Bằng phơng pháp luận CNXHKH, phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng với một số phơng pháp nghiên cứu so sánh phân tích, sẽ cố gắng chỉ

ra những quan điểm bất cập trong pháp luật HĐKT hiện hành và một số kiến nghị đối với việc sửa đổi pháp luật về HĐKT

Trên cơ sở đó bản báo cáo này tập trung vào những vấn đề sau:

- Khái quát pháp luật về HĐKT;

- Yêu cầu đổi mới pháp luật về HĐKT;

- Đổi mới pháp luật về HĐKT

Tuy nhiên đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhng đây là một

đề tài khó, đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có trình độ hiểu biết rộng về mọi lĩnh vực liên quan đến HĐKT Với trình độ còn hạn hẹp của một sinh viên, chắc chắn bản báo cáo này sẽ còn nhiều thiết sót, Vì vậy rất mong các thầy cô giáo và các bạn sẽ bổ sung thêm ý kiến cùng tôi để hoàn thiện nội dung đề tài này

Trang 3

Ch ơng I Khái quát pháp luật về hợp đồng kinh tế

I Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về hợp

đồng kinh tế ở nớc ta

Pháp luật về HĐKT nói riêng hay hợp đồng nói chung không phải đơng nhiên mà có, mà nó phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài của quan hệ kinh tế Ban đầu, hợp đồng biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những ngời giữ hàng hoá tồn tại một cách khách quan, sau đó mối quan hệ kinh tế đó trở thành một quan hệ pháp luật khi đợc pháp luật tác động vào Do đó để tìm hiểu sự ra

đời của HĐKT cần tìm hiểu sự ra đời của hợp đồng nói chung (hay chính là Hợp

ngời giữ hàng hoá ở đây là tự nguyện, từ đó có nguyên tắc tự do khế ớc, nghĩa là

Trang 4

Là một loại Hợp đồng chuyên biệt, HĐKT có nguồn gốc từ hợp đồng dân

sự, HĐKT chỉ xuất hiện trong chủ nghĩa xã hội khi có những điều kiện nhất

định

Thứ nhất: Có sự trao đổi hàng hoá trên cơ sở sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Thứ hai: Có một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

Hai điều kiện này không còn đơn thuần mang tính dân sự và chúng đợc

điều chỉnh bằng một ngành luật mới đó là ngành luật kinh tế

Hợp đồng kinh tế ra đời sớm nhất ở Liên Xô, sau đó lan ra các nớc XHCN khác ở nớc ta HĐKT ra đời cùng với việc bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

1960 - 1965 xây dựng CNXH Có thể nói với t cách là thợng tầng kiến trúc, pháp luật về HĐKT của nớc ta đã luôn gắn liền và phản ánh đợc bớc phát triển khác nhau của nền kinh tế

Trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về HĐKT ở nớc ta có thể đợc chia làm hai thời kỳ Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ đổi mới kinh tế

1 Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung

Thời kỳ này kéo dài từ năm 1954 đến năm 1989 là thời kỳ đánh dấu các bớc phát triển của pháp luật về HĐKT đặc biệt là 3 văn bản sau:

- Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh doanh ban hành kèm theo NĐ 735/TTg (10/4/1957);

- Điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT ban hành kèm theo NĐ04/TTg (4/1/1960);

Trang 5

- Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP (10/3/1975).

ở nớc ta có thể nói: Bản pháp luật đầu tiên đề cập đến HĐKT đó là sắc lệnh

97 - Sắc lệnh ngày 22/05/1950 của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành sửa đổi về dân sự xoá bỏ tuyệt đối hoá quyền dân sự t nhân Điều 12 sắc lệnh này quy định "Khi lập khế ớc mà có sự tổn thất do bóc lột của một bên vì

điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ớc có thể coi là vô luận" Bằng

quy định này của Sắc lệnh, Nhà nớc ta đã thừa nhận việc ký kết hợp đồng nói chung, trong đó có các Hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế nói riêng, giữa t nhân với nhau càng cần phải có sự can thiệp của Nhà nớc

Vào cuối năm 1950 nền kinh tế nớc ta là một nền kinh tế nhiều thành phần Kinh tế quốc doanh tuy giữ vai trò chủ đạo nhng cha lớn mạnh kinh tế tập thể còn yếu Kinh tế t bản còn ở trình độ thấp, kinh tế công - nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn rất rộng lớn Kinh tế t bản và t doanh vẫn còn tồn tại để điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tế khác nhau Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về HĐKT kinh doanh số

735 TTg 10/4/1957 Theo điều lệ này, HĐKT đợc ký kết nhằm mục đích phát triển kinh doanh công thông nghiệp góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nớc trên nguyên tắc tự nguyện hai bên cùng có lợi và có lợi cho kinh tế phát triển quốc dân Nh vậy, mặc dù tự do cá nhân trong giao kết hợp đồng đợc tôn trọng song nhng vẫn luôn đề cao vai trò quản lý của mình, điều này đợc thể hiện rõ trong quy định về đăng ký hợp đồng "Hợp đồng kinh doanh nếu ký kết giữa 2 đơn vị kinh tế Nhà nớc với nhau thì hợp đồng phải đợc đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền" cơ quan công thơng tỉnh hoặc cơ quan hành chính huyện.

Có thể nói điều lệ tạm thời về HĐKD là văn bản đợc đặt nền móng cho sự

ra đời của chế độ HĐKT Trong chừng mực nhất định việc ban hành văn bản này

đã góp phần huy động khả năng của mọi thành phần kinh tế vào công cuộc phát

Trang 6

triển kinh tế đất nớc theo hớng thống nhất cũ tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Đến Hiến pháp năm 1959 đã xác định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nớc ta Đại hội lần thứ 3 của Đảng cũng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 - 1965 để xây dựng công nghiệp hoá Bắt đầu công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế TBTN đã cơ bản hoàn thành kinh tế cá thể trong Nhà nớc đã chuyển hoá dần thành kinh tế tập thể thông qua phong trào hệ thống hoá Nhà n-

ớc, nền kinh tế chỉ còn lại 2 thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể

Các tiền đề cho sự ra đời của HĐKT đã có, hơn nữa Điều lệ tạm thời về HĐKD với nguyên tắc ký kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đó không còn phù hợp nữa Trong bối cảnh đó Thủ tớng Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT kèm theo Nghị định 04 TTg ngày 4/1/1960

Theo điều lệ này: HĐKT có 2 đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất: HĐKT đợc xây dựng trên cơ sở kế hoạch Nhà nớc, nhằm thực

hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc

Thứ hai: Chủ thể của HĐKT bị hạn chế chỉ trong phạm vi các tổ chức kinh

tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nớc, trong đó đại diện các cơ quan Nhà nớc

đ-ợc ký hợp đồng dài hạn mang tính nguyên tắc đại diện tổ chức kinh tế quốc doanh ký HĐKT ngắn hạn cụ thể Điều này thể hiện một cơ chế quản lý chủ yếu theo chiến lệnh chỉ huy trém xuống, báo cáo dới lên, lãi nộp Ngân sách, lỗ xin trên

Việc xử lý vi phạm hợp đồng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không đợc đề cập đến

Lần đầu tiên khái niệm hợp đồng kinh tế đợc sử dụng trong bản điều lệ này

có thể coi là thời điểm ra đời của HĐKT ở nớc ta Mặc dù có tên gọi điều lệ tạm

Trang 7

thời, nhng bản điều lệ này cũng đã đợc sử dụng trong 15 năm từ 1960 - 1975 trong suốt thời gian đó chúng ta ở trong điều kiện chiến tranh không tập trung vào việc xây dựng và hệ thống hoá pháp luật.

Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP - 10/3/1975)

ở giai đoạn này HĐKT đã trở thành công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nớc

để quản lý nền kinh tế

HĐKT theo điều lệ này có 2 đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Việc ký kết Hợp đồng đã bắt buộc, là kỷ luật của Nhà nớc Tính

bắt buộc này do tính pháp lệnh của kế hoạch Nhà nớc quy định việc thay đổi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc Vì vậy, các vi phạm HĐKT đều bị xử lý hết sức nghiêm khắc

Thứ hai: Về thẩm quyền xử lý tranh chấp HĐKT, bản điều lệ này đã giao

cho hai cơ quan: Đó là cơ quan quản lý cấp trên của các đơn vị kinh tế là cơ quan trọng tài kinh tế

Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy HĐKT trong giai đoạn này mang tính

kế hoạch, hành chính, tập trung bao cấp rõ nét

2 Thời kỳ đổi mới kinh tế

Pháp lệnh về HĐKT do Hội đồng Nhà nớc (nay là UBTVQH) thông qua ngày 25/9/1989 của Hiệu lực 29/9/1989

Pháp lệnh về HĐKT ra đời trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý kinh tế do

Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra Xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN

Pháp lệnh HĐKT điều chỉnh các quan hệ HĐKT đợc thiết lập giữa các đơn

Trang 8

nhằm mục đích kinh doanh và đợc xây dựng trên cơ sở sự thống nhất ý trí giữa các bên Nh vậy, về nguyên tắc, việc ký kết HĐKT trong thời kỳ này không phải theo chỉ tiêu pháp lệnh, việc ký kết và thực hiện HĐKT theo chỉ tiêu pháp lệnh tuân theo những quy định riêng Các chủ thể của HĐKT cũng đợc mở rộng và các chế tài ít khắt khe hơn, nội dung của pháp lệnh này sẽ đợc nghiên cứu ở các phần sau.

II Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng kinh tế

1 Khái niệm

Hiện nay, trong khoa học pháp lý khái niệm hợp đồng đợc hiểu theo hai nghĩa chủ quan và khách quan

a Theo nghĩa khách quan (hay còn gọi là nghĩa rộng)

HĐKT là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ HĐKT giữa các đơn vị kinh tế (còn gọi là chế độ pháp lý về HĐKT)

Trong đó quy định các nguyên tắc ký kết HĐKT, điều kiện chủ thể của HĐKT, thủ tục trình tự ký kết HĐKT, các điều kiện và giải pháp hậu quả của việc thay đổi, huỷ bỏ, đình chỉ HĐKT, trách nhiệm vi phạm HĐKT

Nh vậy, theo nghĩa khả quan này thì pháp luật nói chung là chế độ pháp luật

về HĐKT nói riêng luôn luôn phải có những thay đổi theo kịp và phù hợp với sự phát triển của quan hệ kinh tế hay chính xác hơn cũng phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất,

b Theo nghĩa chủ quan (hay gọi là nghĩa hẹp)

Điều 1: Pháp lệnh HĐKT ban hành ngày 25/9/1989 quy định:

"HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất - trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu

Trang 9

ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình".

Nh vậy theo nghĩa này thực chất HĐKT là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể

ký kết, đó là mối quan hệ ý chí đợc xác lập một cách tự nguyện, bình đẳng thông qua các hình thức bằng văn bản trong tài liệu giao dịch giữa các bên nh công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận Đây là một điểm khác với hợp đồng dân sự Theo quy định tại điểm 400 BLDS (có hiệu lực từ ngày 01/07/1996) thì hình thức của hợp đồng dân sự rất rộng, có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng những hành vi cụ thể Khi pháp luật không quy định

đối với các loại hợp đồng đó phải đợc giao kết bằng một hình thức nhất định

Vậy tài sản lại có sự khác nhau này? Nh chúng ta đã biết nếu bất kỳ một loại hợp đồng nào khi đợc ký kết bằng văn bản nó đều có thể là căn cứ vào các bên thực hiện hợp đồng và là căn cứ để cơ quan nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra

t cách pháp nhân khi ký kết hợp đồng của các bên, đồng thời cũng là căn cứ để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp nếu có Mặt khác, đối với HĐKT thờng có giá trị lớn và thậm chí rất lớn, cho nên, để tránh tình trạng các chủ thể lợi dụng việc ký kết để chiếm đoạt cho bản thân nên chúng ta phải quy định HĐKT đợc

ký kết bằng các văn bản Hơn nữa, một HĐKT thờng tơng đối dài về mặt thực tế

mà nói nếu không đợc thực hiện bằng các loại hình văn bản thì các chủ thể cũng

có thể sẽ quên mất một trong một số những chi tiết nhỏ hay những điều khoản nếu có trong Hợp đồng, gây thiệt hại cho các bên gặp khó khăn do việc thực hiện Hợp đồng dẫn đến những tranh chấp đáng tiếc

2 Đặc điểm

Khi nghiên cứu các quy định này, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm của HĐKT sau:

Trang 10

Đặc điểm về hình thức: Hợp đồng phải đợc thể hiện dới hình thức văn bản tài liệu giao dịch.

Đặc điểm về mục đích: Mục đích của hợp đồng phải là mục đích kinh doanh

Đặc điểm về chủ thể: Chủ thể của Hợp đồng là pháp nhân và cá nhân có

đăng ký kinh doanh, trong đó ít nhất một bên tham gia quan hệ Hợp đồng phải là pháp nhân Ngoài ra, Điều 42 và 43 Pháp lệnh cũng cho phép một số loại chủ thể khác có thể giao kết HĐKT đó là ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộ nông dân, ng dân, cá thể và các tổ chức cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam

Trang 11

Ch ơng II Yêu cầu đổi mới pháp luật về hợp đồng kinh tế

I Cơ sở lý luận của việc sửa đổi pháp luật về hợp đồng kinh tế

Cùng với sự ra đời và phát triển kinh tế các quan hệ xã hội vốn đang trở nên ngày càng đa dạng và phức tạp, nhiều quy định của pháp luật về hợp đồng kinh

tế đã tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp nữa Đây là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển của xí nghiệp Đã đến lúc phải sửa đổi pháp luật về HĐKT cho phù hợp với giai cấp thực tế, tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế phát triển thuận lợi và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Pháp luật là một trong những bộ phận cơ bản kiến trúc thợng tầng xã hội nó luôn luôn phù hợp với cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Nếu pháp luật phù hợp với các điều kiện kinh tế nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngợc lại

Tuy nhiên, ngoài việc phải phù hợp với các điều kiện kinh tế - cơ sở hạ tầng, pháp luật còn phải thống nhất trong nội tại bản thân nó Nói một cách đơn giản thì trong một chỉnh thể pháp luật, các văn bản pháp luật phải thống nhất với nhau, không đợc mâu thuẫn hay chồng chéo với nhau Có nh vậy pháp luật mới phát huy đợc hiệu quả của nó mới có thể thi hành trên thực tế, nếu không pháp luật chỉ tồn tại trên giấy tờ mà không có giá trị thực tiễn nào

Qua đó chúng ta có thể xem xét những thay đổi cơ bản của các điều kiện kinh tế, pháp luật, những tiền đề cho sự hình thành pháp luật về HĐKT so với thời gian pháp luật về HĐKT trong cơ chế mới hình thành (1989 - 1990)

Trang 12

1 Điều kiện kinh tế

Từ khi xây dựng nền kinh tế thị trờng đến nay chúng ta đã đi đợc một chặng

đờng hơn mời năm và có rất nhiều thay đổi về nền kinh tế, trong đó có những thay đổi căn bản và có ảnh hởng trực tiếp đến pháp luật về HĐKT

Về lực lợng sản xuất đó có những bớc phát triển mạnh mẽ, hàng hoá sản xuất và ngày càng nhiều, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2%, lạm phát giảm từ chỗ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% năm 1995

Từ đó không đủ lơng thực cho tiêu dùng trong nớc đến nay chúng ta đã có thể xuất khẩu khoảng 2 triệu tấn gạo mỗi năm đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang lại nhiều kết quả to lớn và nhiều công trình quan trọng đợc xây dựng, tạo điều kiện phát triển cho nền kinh tế

Về quan hệ sản xuất cũng đã đợc điều chỉnh phù hợp đã có những bớc tiến dài trong việc thay đổi cơ chế quản lý những tồn tại của cơ chế kinh tế cũ đã đợc xoá bỏ, đợc biểu hiện rõ sự thay đổi lớn trong cơ cấu thành phần kinh tế

Nền kinh tế thị trờng đã đợc hình thành nh thị trờng hàng hoá, thị trờng sức lao động và một số thị trờng khác cũng đang trong quá trình hình thành nh thị tr-ờng bất động sản, thị trờng vốn, v.v

Những chuyển biến này dẫn đến một hệ quả tất yếu là các quan hệ kinh tế

đang ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đòi hỏi pháp luật với t cách là kiến trúc thợng tầng cần phải điều chỉnh cho phù hợp, tránh cản trở sự phát triển của các quan hệ kinh tế, đồng thời đảm bảo cho các quan hệ kinh tế phát triển lành mạnh theo định hớng của Nhà nớc

Trang 13

2 Điều kiện pháp luật

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, pháp luật nớc ta cũng đã có những bớc tiến lớn, rất nhiều văn bản pháp luật mới đã đợc hình thành trong đó trớc tiên cần phải kể đến Hiến pháp 1992 đợc Quốc hội thông qua ngày 14/4/1992

Có hiệu lực từ ngày 17/4/1992, Hiến pháp 1992 đã quy định những vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng đối với công cuộc đổi mới kinh tế đất nớc thể hiện

rõ quan điểm của Đảng và Nhà nớc về kinh tế thị trờng thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại hình chủ thể đại diện cho các thành phần kinh tế khác nhau (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế t bản, t nhân, kinh tế t bản Nhà nớc (Điều 16) Hiến pháp Ngoài ra còn quy định tại các Điều 58, 57, 22 của Hiến pháp 1992)

Văn bản quan trọng thứ 2 phải kể đến BLDS đợc Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 Đây là Bộ luật đồ sộ nhất của nớc ta từ trớc đến nay Bao gồm 883 điều trong đó có nhiều quy định rõ nét đến Hợp

đồng Nh khái niệm hợp đồng dân sự các chủ thể của hợp đồng, trình tự ký kết, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, Có thể nói đã là những quy định có giá trị pháp lý cao, thể hiện một trình độ lập pháp đã phát triển hơn trớc rất nhiều pháp luật về HĐKT hoàn toàn có thể áp dụng hay tham khảo những quy định này để xây dựng các quy định của mình

Luật thơng mại đợc quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực từ ngày 1/1/1998 Đây là lần đầu tiên một đạo luật về thơng mại đợc Nhà nớc ta ban hành, nó thể hiện quan tâm xây dựng một nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, theo định hớng XHCN, Luật Thơng mại đã quy định khá chi tiết về hoạt động thơng mại các hành vi thơng mại Trong đó có Hợp đồng thơng mại Mặc dù có nhiều tranh cãi xung quanh sự ra đời của Luật Thơng mại nhng có thể nói đây là những quy định cần thiết để điều chỉnh các quan hệ thơng mại, một loại quan hệ đặc thù và rất phát triển trong nền kinh tế thị trờng

Trang 14

Ngoài ra còn kể đến các đạo luật và các văn bản hớng dẫn trong hệ thống pháp luật kinh tế nh Luật Doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua ngày 12/06/1999 có hiệu lực từ ngày 1/1/2000, luật đầu t nớc ngoài, luật khuyến khích

đầu t trong nớc, các Nghị định của Chính phủ về thị trờng chứng khoán, đăng ký kinh doanh, giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm các Thông t,

Tất cả những văn bản pháp luật đó đã đợc giải quyết phần nào trong nền kinh tế thị trờng và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển Nhng mặt khác cần phải đặt ra những vấn đề cần đợc đổi mới, giải quyết để đảm bảo các quyền của các chủ thể trong kinh doanh, tránh sự mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật chuyên ngành, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật kinh tế Đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa luật kinh tế, luật dân

sự, luật thơng mại nói chung và giữa hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp

đồng thơng mại nói riêng

II Cơ sở thực tiễn của việc sửa đổi pháp luật về hợp đồng kinh tế

Thực tiễn thi hành pháp luật về Hợp đồng kinh tế tại thời điểm hiện nay cho thấy có nhiều quy định đã tỏ ra không còn phù hợp Một số quy định đã lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của các quan hệ kinh tế, mặt khác xuất hiện nhiều quan điểm không thống nhất giữa pháp luật về HĐKT và các văn bản pháp luật khác có liên quan Do đó việc thực hiện pháp luật HĐKT đã gặp nhiều vớng mắc, thậm chí có nhiều trờng hợp chủ thể kinh doanh không ký kết HĐKT theo quy định của pháp luật về HĐKT

1 Thực tiễn ký kết và thực hiện HĐKT

- Khi ký kết HĐKT các chủ thể kinh doanh thờng bị nhầm lẫn giữa HĐKT, Hợp đồng dân sự và Hợp đồng thơng mại

Trang 15

- Quy định về hình thức của Hợp đồng phải bằng văn bản hoặc bằng tài liệu giao dịch giữa các bên, làm cho nhiều Hợp đồng đã ký kết mang bản chất của Hợp đồng kinh tế lại bị coi là Hợp đồng dân sự.

- Các quy định về chủ thể ký kết HĐKT nhiều khi không tuân thủ các quy

định của HĐKT nguyên nhân một phần là do các chủ thể kinh doanh và cũng có trờng hợp là do những bất cập của pháp luật gây nên

* Chẳng hạn nh ký kết HĐKT không đúng phạm vi kinh doanh theo đăng

ký kinh doanh Vi phạm loại này xảy ra rất phổ biến hiện nay, đặc biệt đối với những Hợp đồng thuê nhà, địa điểm kinh doanh mà bên cho thuê không có chức năng kinh doanh trong lĩnh vực này

* Ngời ký kết không thẩm quyền ký kết, đây là trờng hợp ngời ký kết Hợp

đồng không phải là đại diện đơng nhiên của chủ thể có quyền ký kết Hợp đồng nhng lại không đợc uỷ quyền bằng văn bản

* Hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa hai bên đều không phải là pháp nhân, loại vi phạm này thờng xảy ra trong trờng hợp các bên ký kết là đơn vị thành viên của các Tổng Công ty và các Ngân hàng chuyên doanh và một số Công ty thành viên có t cách pháp nhân và một số Công ty thành viên không có t cách pháp nhân do đó rất dễ nhầm lẫn khi ký kết HĐKT Khi ký kết dạng này cũng không đợc coi là HĐKT theo quy định của Điều 2 Pháp lệnh HĐKT hiện hành Tuy nhiên nếu coi là HĐDS thì cũng không đúng, bởi vì Công ty thành viên này mặc dù không có t cách pháp nhân nhng cũng là chủ thể kinh doanh Điều 22 Hiến pháp 1992 quy định quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia kinh doanh trớc pháp luật Vì vậy việc quy định buộc 1 trong 2 bên tham gia hợp đồng phải

là pháp nhân là không phù hợp với thực tiễn và trái với quy định của Hiến pháp

Tuy nhiên những trờng hợp trên ngoài vấn đề chủ thể còn có những trờng hợp do sự thay đổi chủ thể của quan hệ Hợp đồng nên đã dẫn đến có nhiều cách

Trang 16

- Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ HĐKT, Pháp lệnh HĐKT hiện hành đã quy định 3 biện pháp bảo đảm thực hiện Hợp đồng là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh, nhng lại quy định phạt vi phạm là biện pháp trách nhiệm tài sản khi có thiệt hại xảy ra mà không quy định nó là một biện pháp bảo đảm thực hiện Hợp đồng Trên thực tế trong các Hợp đồng kinh tế các bên vẫn thoả thuận với nhau về phạt vi phạm nh một biện pháp bảo đảm thực hiện Hợp đồng.

2 Thực hiện và giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế

Mặc dù ban hành các văn bản để hớng dẫn giải quyết tranh chấp, nhng do những hạn chế của các văn bản và tính cục bộ trong việc ban hành văn bản và giá trị pháp lý cha cao của các văn bản hớng dẫn nên quá trình giải quyết tranh chấp gặp rất nhiều vớng mắc

Qua báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1999, số 40BC/VP ngày 11/3/2000 của Toà án NDTC cho ta thấy việc giải quyết tránh chấp HĐKT của các cơ quan có thẩm quyền hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn Nhng không thể phủ nhận rằng có nhiều nguyên nhân mang tính chủ quan trong những khó khăn này nh: Trình độ và tinh thần trách nhiệm của những ngời có thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn thấp, ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể kinh doanh cha cao, việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật cha đợc chú trọng, Nh-

ng cũng dễ dàng nhận thấy rất nhiều trờng hợp là do những nguyên nhân khách quan gây nên, đó là do trong pháp luật HĐKT hiện hành còn tồn tại nhiều điểm không hợp lý và không rõ ràng

Từ việc phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn cho chúng ta thấy đợc thực

tế đang đòi hỏi phải sửa đổi pháp luật về HĐKT càng sớm càng tốt và phải giải quyết đợc những bất cập của pháp luật về HĐKT cả về lý luận và thực tiễn đặc biệt là:

Trang 17

+ Khắc phục những bất hợp lý trong các quy định của pháp luật về HĐKT, tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế phát triển, tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp về HĐKT;

+ Giải quyết triệt để mối quan hệ giữa 3 loại Hợp đồng: HĐKT, HĐDS, HĐTM,

Ngày đăng: 04/07/2016, 03:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Luật kinh tế - Khoa học - ĐH QG Hà nội năm 1997 Khác
2. Giáo trình Luật thơng mại Việt Nam. Khoa Luật - ĐH QG Hà nội năm 1998 Khác
3. Giáo trình Nhà nớc và pháp luật Đại cơng. Khoa Luật ĐH QG năm 1997 Khác
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam Khác
5. Báo cáo tổng kết công tác ngành toà án năm 1999 của TAND tối cao Khác
10. Hoàn thiện cơ sở pháp lý của cơ chế kinh tế thị trờng ở nớc ta.Đỗ Ngọc Thịnh - Tạp chí luật học số 2/1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w