1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài giảng kinh tế học chương 15 lạm phát

13 556 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 369,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giả

Trang 1

CHƯƠNG 15 LẠM PHÁT

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng rộng lớn đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Một ví dụ hết sức nổi bật về lạm phát là thời kỳ siêu lạm phát

mà nước Đức đã trải qua vào đầu những năm 1920 Người ta cho rằng, siêu lạm phát đã phá huỷ toàn bộ hệ thống chính phủ dân chủ mà nước Đức đã nỗ lực xây dựng sau thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và tạo cơ sở cho sự tăng cường quyền lực của Đảng phát xít do Hitler đứng đầu Một loạt các nước Mỹ La-tinh đã lâm vào lạm phát rất cao trong những năm 1980 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ bùng nổ vào năm 1982 Việt Nam cũng như phần lớn các nước trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kế hoach hoá tập trung sang kinh tế thị trường đều trải qua lạm phát cao

Trong phần đầu của chương chúng ta sẽ đề cập đến định nghĩa và cách đo lường lạm phát Sau đó, chúng ta sẽ giới thiệu các lý thuyết giải thích nguyên nhân gây ra lạm phát Một lý thuyết về lạm phát chỉ thực sự có í nghĩa, khi nó giải thích được thực tế là lạm phát thường xuyên biến động và liên kết được sự tăng/giảm lạm phát với sự tăng/giảm của các biến độc lập hay các nhân tố quyết định lạm phát Trong phần cuối của chương, chúng ta sẽ bàn về những tổn thất mà lạm phát gây ra cho xã hội và mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp

I Khái niệm và đo lường

1 Khái niệm

Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất

thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ,

mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh

Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định

Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong thời

kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không Người dân vẫn có thể trở nên khá giá hơn khi thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc

độ tăng giá

Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do

đó có thể gây ra lạm phát Chúng ta sẽ xét một tình huống như được mô tả trong Bảng 9-1

Trang 2

Trong mỗi trường hợp, chúng ta giả thiết chỉ có một cú sốc xuất hiện vào thời kỳ 3 mà trước

đó mức giá được ổn định ở mức 100 Trong trường hợp thứ nhất, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau đó giảm 50% trong thời kỳ 4 và lại ổn định trong các thời kỳ tiếp theo Như vậy, từ thời kỳ 4 giá cả trở lại mức ban đầu giống như trước khi cú sốc tác động đến nền kinh

tế Trong trường hợp thứ hai, mức giá tăng 100% trong thời kỳ 3, sau đó ổn định trong các thời kỳ tiếp theo Vấn đề trở nên phức tạp hơn trong trường hợp thứ ba, khi mức giá tăng 50% trong thời kỳ 3, sau đó tăng chậm lại trong các thời kỳ tiếp theo do mọi người điều chỉnh một phần theo sai số dự báo về lạm phát Trong trường hợp này mức giá chung tăng liên tục

và gây ra lạm phát kéo dài nhưng giảm dần theo thời gian

Bảng 9-1 Tác động của một cú sốc đến tỷ lệ lạm phát

Trường hợp 1 Trường hợp 2 Trường hợp 3 Thời kỳ

Mức giá Lạm phát Mức giá Lạm phát Mức giá Lạm phát

Trong thực tế, việc phân biệt được các sự kiện chỉ xảy ra một lần nhưng có ảnh hưởng kéo dài với sự gia tăng liên tục được lặp lại của mức giá trong mỗi thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ thường chỉ điều chỉnh chính sách trước các cú sốc kéo dài, còn các mất cân đối tạm thời thường để thị trường tự giải quyết

Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chung liên tục giảm

Khi đó, sức mua của đồng nội tệ liên tục tăng

2 Đo lường lạm phát

Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo công thức sau:

πt = 100%

P

P P

1 t

1 t

Trong đó:

πt : tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quí, hoặc năm)

P t : mức giá của thời kỳ t

P t-1 : mức giá của thời kỳ trước đó

Rõ ràng là để tính được tỷ lệ lạm phát, trước hết các nhà thống kê phải quyết định sử dụng chỉ

số giá nào để phản ánh mức giá Như chúng ta đã biết từ Chương 2 là người ta thường sử

dụng chỉ số điều chỉnh GDP (D) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để đo lường mức giá chung

Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống, thì rõ ràng chỉ số

Trang 3

giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn Trong thực tế, các số liệu công bố chính thức về lạm phát trên toàn thế giới đều được tính trên cơ sở CPI

3 Phân loại lạm phát

Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm phát Việc phân loại lạm phát theo tính chất sẽ được đề cập khi bàn về tác động của lạm phát, còn trong mục này chúng ta sẽ phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát Theo tiêu thức này các nhà kinh tế thường phân biêt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát

Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm và nhìn chung

có thể dự đoán trước được vì tương đối ổn định Đối với các nước đang phát triển lạm phát ở mức một con số thường được coi là vừa phải Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh

tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trong bối cảnh đó, mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch và ký các hợp đồng dài hạn tính bằng tiền vì họ tin rằng giá và chi phí của hàng hóa mà họ mua và bán sẽ không đi chệch quá xa

Lạm phát phi mã Lạm phát trong phạm vi hai hoặc ba con số một năm thường được gọi là

lạm phát phi mã Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đổi mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách

Nhìn chung lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh

tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải

Siêu lạm phát Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao Định nghĩa cổ điển về siêu

lạm phát do nhà kinh tế người Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên Trong khi lạm phát 50% một tháng có thể không thực sự gây ấn tượng, nhưng nếu tỷ

lệ lạm phát này được duy trì liên tục suốt 12 tháng thì tỷ lệ lạm phát cả năm sẽ lên tới khoảng 13.000 phần trăm Theo định nghĩa này, cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu lạm phát Một trường hợp được nghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ Nhất Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mác vào tháng 1 năm 1921 lên đến 70.000.000 mác chỉ trong chưa đầy hai năm sau Giá cả của các thứ khác cũng tăng với tốc độ tương tự Từ tháng Giêng năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000 Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tới nền kinh tế Đức đến mức

nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai

Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến, hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ Vào những năm 1980, các cú sốc bên ngoài và cuộc khủng hoảng nợ của thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạm phát ở một số nước

Mỹ La-tinh

Trang 4

Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách quá lớn Hơn nữa, một khi lạm phát cao đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trở nên không thể kiểm soát được: lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần trăm so với GDP, làm tăng thâm hụt ngân sách và chính phủ sẽ phải dựa nhiều hơn vào phát hành tiền mà điều này đến lượt sẽ đẩy lạm phát dâng lên cao hơn Dựa trên các bằng chứng lịch sử, dường như

là thâm hụt ngân sách kéo dài được tài trợ bằng phát hành tiền trong khoảng từ 10-12 % của GDP sẽ gây ra siêu lạm phát1

II Các nguyên nhân gây ra lạm phát

Điều gì gây ra lạm phát là một câu hỏi phổ biến, song các nhà kinh tế vẫn còn những bất đồng Có nhiều lý thuyết giải thích về nguyên nhân gây ra lạm phát mà dưới đây chúng ta sẽ giới thiệu những lý thuyết chính

1 Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên Thực ra đây cũng là một cách định nghĩa về lạm phát dựa vào nguyên nhân gây

ra lạm phát: lạm phát được coi là do sự tồn tại của một mức cầu quá cao Theo lý thuyết này nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất Tuy nhiên để cho định nghĩa này có sức thuyết phục thì cần phải giải thích tại sao chi tiêu lại liên tục lớn hơn mức sản xuất Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các thành tố của tổng cầu

Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu dùng, giá cả của

những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại Tương tự, lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên

Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm

1 Sachs, J.D and Larrain, F (1993), Macroeconomics in the Global Economy, Harvester Wheatsheaf, New

York

E0

AD0 AD1

AS0

P

P2

P1

P0

E2

AD2

Y 0 Y*Y 2 Y

Trang 5

Hình 9-1 Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Tuy nhiên, hàng xuất khẩu tác động tới

lạm phát trong nước theo một cách khác: khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để cung

ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước Ngoài ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định,

vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng2 Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái

Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu Như minh họa trong hình 9-1, sự gia tăng của một thành tố nào

đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải Do đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát Rõ ràng lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh tế nếu như nền kinh tế còn nhiều

nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD 0 đến AD 1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản lượng và việc làm sẽ tăng đáng kể Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng

cung trở nên rất dốc như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD 1 đến AD 2 Khi

đó, sự gia tăng tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng

lên rất ít

2 Lạm phát do chi phí đẩy

Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh

tế Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation)

Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mở rộng tiền tệ

Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao, chúng ta có thể nhận định rằng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

2 Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, khi dòng vốn từ nước ngoài chảy vào sẽ làm tăng cung về ngoại tệ Để ngăn cản đồng nội tệ lên giá, ngân hàng trung ương cần tung nội tệ ra để mua ngoại tệ Kết quả là dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương tăng, đồng thời cung tiền cũng tăng

Trang 6

nguồn thu từ thuế, thì thay đổi thuế gián thu dường như có tác động mạnh hơn tới lạm phát

Hình 9-2 Lạm phát do chi phí đẩy

Đối với các nền kinh tế nhập khẩu nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu mà nền công nghiệp trong nước chưa sản xuất được, thì sự thay đổi giá của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổi hoặc tỷ giá hối đoái biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm phát trong nước Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm giá mạnh trên thị trường tài chính quốc tế, thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ

Những yếu tố nêu trên có thể tác động riêng rẽ, nhưng cũng có thể gây ra tác động tổng hợp, làm cho lạm phát có thể tăng tốc Nếu chính phủ phản ứng quá mạnh thông qua các chính sách thích ứng, thì lạm phát có thể trở nên không kiểm soát được, như tình hình của nhiều nước công nghiệp trong thập niên 1970 và đầu thập niên 1980

3 Lạm phát ỳ

Trong các nền kinh tế hiện đại trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu hướng ổn định theo thời gian Hàng năm, mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ Đây là loại lạm phát hoàn toàn được dự tính trước Mọi người đã biết trước và tính đến khi thỏa thuận về các biến danh nghĩa được thanh toán

trong tương lai

Hình 9-3 Lạm phát ỳ

Hình 9-3 cho thấy lạm phát ỳ xảy ra như thế nào Cả đường tổng cung và đường tổng cầu cùng dịch chuyển lên trên với tốc độ như nhau Sản lượng luôn được duy trì ở mức tự nhiên,

trong khi mức giá tăng với một tỷ lệ ổn định theo thời gian

AD0

AS1

AS0

P

P1

E1

Y1 Y* Y

AD2

AD1

AD0

E2

AS2

AS1

AS0

P

P2

P1

E1

Trang 7

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: Lạm phát tăng tốc trong năm 2004

Sau một thời gian dài được kiềm chế ở mức thấp, lạm phát đã bùng lên trong năm 2004 Điều này được coi là một trong những sự kiện kinh tế nổi bật của Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng năm 2004 tăng 9,5%, trong đó, chỉ số giá nhóm lương thực-thực phẩm tăng cao nhất: 15,6% (giá hàng lương thực tăng 14,3%, giá thực phẩm tăng 17,1%); nhóm dược phẩm y tế tăng 9,1%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,4%; các nhóm hàng khác tăng từ 2,2 đến 5,9% Đây là mức tăng giá cao nhất trong 9 năm qua và cũng

là năm đầu tiên kể từ năm 1999 tỷ lệ lạm phát vượt ngưỡng do Quốc hội đề ra (5%) Câu hỏi

đặt ra là tại sao lạm phát ở Việt Nam trong năm 2004 lại tăng đột biến như vậy?

Trước hết, cần phải khẳng định rằng diễn biến lạm phát toàn cầu đã có hưởng quan trọng đến động thái lạm phát ở Việt Nam trong những năm vừa qua Cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, những biến động của giá cả trên thị trường thế giới đã có tác động ngày càng rõ nét đến thị trường trong nước Thực tế cho thấy lạm phát thấp trong giai đoạn 1999 – 2003 không phải do chính sách tài khoá và tiền tệ quá thắt chặt hay do nền kinh tế tăng trưởng quá cao gây ra tình trạng dư thừa hàng hoá, mà nguyên nhân chủ yếu là do xu hướng giảm giá toàn cầu sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á Còn trong năm 2004, bất chấp nền kinh tế tăng trưởng cao hơn, trong khi các chính sách tài khoá và tiền tệ không có sự điều chỉnh đáng kể so với các năm trước, nhưng lạm phát vẫn tăng tốc

Thực ra lạm phát cao trong năm 2004 không phải là hiện tượng riêng có của Việt Nam mà là hiện tượng kinh tế mang tính toàn cầu Hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đều đối mặt với mức lạm phát cao hơn trong năm 20043 Lạm phát cao ở nước ngoài đã lan truyền vào

nền kinh tế Việt Nam qua cả hai kênh: xuất khẩu và nhập khẩu Với kênh xuất khẩu, theo tính

toán của Bộ Thương mại tính trung bình giá hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2004 đã tăng 8% so với năm 2003 Sự gia tăng giá xuất khẩu làm tăng giá thu mua trong nước và góp phần làm tăng mức giá chung trên thị trường nội địa Đồng thời, khi thu nhập của các nhà sản xuất

và kinh doanh hàng xuất khẩu được cải thiện, họ sẽ mua nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn, điều này tiếp tục làm tổng cầu tăng Kết quả là cả mức giá và sản lượng đều tăng lên mức cao hơn Đây là một lý do quan trọng làm cho nền kinh tế trong năm 2004 vừa tăng trưởng nhanh hơn,

vừa trải qua lạm phát cao hơn Còn với kênh nhập khẩu, giá của nhiều vật tư quan trọng nhập

khẩu như: phôi thép, hạt nhựa, hoá chất sản xuất tân dược, xăng dầu, khi đốt hoá lỏng, phân bón hoá học, clinker, phụ liệu ngành dệt may đã tăng mạnh trong năm 2004 Các doanh nghiệp đều tìm cách đưa chi phí cao hơn vào giá cả và do đó đẩy giá nhiều mặt hàng sản xuất trong nước tăng lên

Tuy nhiên, thực tế cho thấy các nước châu Á khác cũng chịu những tác động khách quan bên ngoài tương tự như Việt Nam, nhưng mức lạm phát của họ chỉ thấp hơn 5% Do vậy, lạm phát cao ở Việt Nam trong năm 2004 nhất định phải có sự đóng góp quan trọng của các nhân

tố bên trong mà dưới đây là những lực lượng cơ bản

Thứ nhất, dịch cúm gà lan rộng 57 tỉnh, thành phố, làm cho nước ta thiệt hại hơn 1.300 tỷ

đồng, làm giảm 1% tăng trưởng GDP, làm chết 1/10 đàn gia cầm, đẩy hàng nghìn hộ chăn

3 Lạm phát ở Trung Quốc là 3,4% (năm 2003: 1,2%), Đài Loan là 1,5% (năm 2003: -0,3%), Malaixia là 1,5%

(năm 2003: 1,1%), và Thái Lan là 2,8% (năm 2003: 1,8%)

Trang 8

nuôi đến bờ vực phá sản Do giá thịt gà tăng cao cùng với những quan ngại về sự an toàn sử dụng thực phẩm, người dân đã chuyển mạnh sang sử dụng các loại thực phẩm thay thế (thịt lợn, thịt bò, cá, ) Nhưng do nguồn cung về các thực phẩm này ít co dãn trong ngắn hạn, nên giá của chúng đã tăng mạnh trong năm 2004 Số liệu thống kê cho thấy giá thực phẩm cao là nguồn chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao bất thường trong năm 20044

Thứ hai, Chính phủ vẫn tiếp tục thực hiện nỗ lực kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

trong năm 2004 Nhìn chung, tốc độ tăng của tổng phương tiện thanh toán, dư nợ tín dụng và chi tiêu Chính phủ trong năm 2004 được duy trì ở mức cao tương tự như trong giai đoạn 1999-20035 Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy các nguồn lực nhìn chung đã được sử dụng gần đến giới hạn trên Trong bối cảnh đó nếu không có các khoản đầu tư mới

để tăng năng lực sản xuất, sự gia tăng tổng cầu sẽ chủ yếu làm tăng mức giá mà ít ảnh hưởng đến sản lượng và việc làm Điều này cũng cảnh báo về tiềm năng mà chính sách kích cầu có thể tiếp tục khai thác trong thời gian tới

Thứ ba, tâm lý tăng lương và đưa tiền mới có mệnh giá lớn vào lưu hành cũng tạo yếu tố tâm

lý bất lợi làm tăng tốc độ chu chuyển của tiền và do đó làm tăng giá cả trên thị trường trong nước

Thứ tư, việc điều hành quản lý của Nhà nước còn chưa theo kịp yêu cầu, nhất là trong hệ

thống phân phối lưu thông (điển hình là thép và thuốc chữa bệnh) đã tạo kẽ hở cho các nhà cung ứng thông đồng găm giữ hàng để đầu cơ tăng giá

4 Tiền tệ và lạm phát

Lý thuyết tiền tệ là cách giải thích thuyết phục nhất về nguồn gốc sâu xa của hiện tượng lạm phát Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệ là luận điểm cho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nhiều tác giả khác, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn và đề ra một hình thái mạnh hơn của chủ nghĩa tiền tệ Họ đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa

cung tiền và lạm phát: "Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng"6

Thực ra, kết luận này dựa trên hai điều Thứ nhất, các nhà tiền tệ cho rằng lạm phát gây ra bởi

sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung, và nguyên nhân của sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông Nếu cách giải thích này đúng về mặt lịch sử, thì nó khẳng định rằng lạm

phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ không phải từ phía cung Thứ hai, các nhà tiền tệ giả

thiết rằng mối quan hệ nhân quả bắt nguồn từ cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải ngược lại là giá cả tăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng Để hiểu mối quan hệ đó chúng ta

4 Trong cơ cấu của giỏ hàng tính CPI hiện tại, nhóm hàng thực phẩm chiếm 27% Trong năm 2004, giá của

nhóm hàng này tăng 17,1%, đóp góp 53% vào sự gia tăng của CPI

5 Tốc độ tăng cung ứng tiền tệ và dư nợ tín dụng lần lượt là 25% và 30,4% năm 2002; 21% và 27% năm 2003; 22% và 25% năm 2004 Chi ngân sách năm 2004 tăng 19% so với năm 2003 và vượt dự toán 12% Tuy nhiên,

do thu ngân sách tăng 20,2% so với năm 2003, nên thâm hụt ngân sách vẫn được kiềm chế dưới 5% so với GDP

6 Friedman, M (1970) 'The Counter-Revolution in Monetary Theory', Institute of Economic Affair, Accasioanl Paper, No 33

Trang 9

phải xem xét cơ chế lan truyền Với giả thiết về thị trường cân bằng, và bắt đầu từ vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trong cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trên thị trường tiền tệ Để thiết lập trạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừa được dùng để mua hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượng hàng hoá và dịch vụ được qui định bởi các nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế, do đó xuất hiện dư cầu trên thị trường hàng hoá Điều này, đến lượt nó sẽ gây áp lực làm giá cả tăng lên để thiết lập trạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hoá Trong mô hình tổng cung - tổng cầu, sự gia tăng cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu và làm tăng mức giá do đường tổng cung thẳng đứng trong dài hạn

Điểm khởi đầu cho lý thuyết số lượng là quan sát cho thấy dân cư giữ tiền chủ yếu để mua

hàng hóa và dịch vụ Giả sử Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá của một đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằng P.Y Vì

tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thông tin này để dự đoán số lần mà một tờ

giấy bạc điển hình trao tay trong năm Nếu chúng ta ký hiệu V là tốc độ chu chuyển, tức là số

lần trung bình mà một tờ giấy bạc điển hình được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ trong

một năm, và M là cung tiền, thì số đơn vị tiền tệ trao đổi trong năm cần phải bằng M.V Do

vậy, chúng ta có đồng nhất thức:

M.V = P.Y

Đó là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng (M)

và GDP danh nghĩa (P.Y) Phương trình số lượng cho thấy sự gia tăng lượng tiền trong nền

kinh tế phải được phản ánh ở một trong ba biến số khác: mức giá phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm

Nhìn chung, tốc độ chu chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi đó, lạm phát (P tăng) chỉ có thể xảy ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơn sản lượng (Y): tốc độ tăng

cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các nhân tố khác không thay đổi) Đồng thời, các biện pháp chính sách mà một nước cần thực hiện để giảm lạm phát chính là cắt giảm tốc độ cung ứng tiền tệ Như vậy, theo quan điểm này, chính sách tiền tệ sẽ là chính sách then chốt nhằm kiểm soát lạm phát; và chính sách tài khoá cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát bởi vì thâm hụt ngân sách của chính phủ có xu hướng làm tăng cung tiền

-50

0 50 100

150

200

250

300

350

400

450

500

19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20

Hình 9-4 Tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng tiền hàng năm ở Việt Nam, 1987-2007

Trang 10

Hình 9-4 sử dụng số liệu tăng tiền và tỷ lệ lạm phát hàng năm ở Việt Nam từ năm 1987 đến năm 2007 Số liệu này xác minh mối tương quan dương giữa tỷ lệ tăng tiền và tỷ lệ lạm phát Những năm Việt Nam có tỷ lệ tăng cung tiền cao có xu hướng đi kèm với lạm phát cao, còn những năm có tỷ lệ tỷ lệ tăng cung tiền thấp có xu hướng đi kèm với lạm phát thấp

III Những tổn thất xã hội của lạm phát

Tại sao người dân lại không thích lạm phát? Nếu như thu nhập danh nghĩa luôn tăng cùng với mức giá, thì thu nhập thực tế giữ nguyên không thay đổi Song điều này thường khó xảy ra Tính chất của lạm phát có ảnh hưởng quan trọng đến tổn thất mà lạm phát gây ra cho xã hội Theo tính chất người ta phân biệt lạm phát được dự tính trước và lạm phát không được dự tính trước

1 Đối với lạm phát được dự tính trước

Lạm phát hoàn toàn được dự tính trước là trường hợp lạm phát xảy ra đúng như dự tính từ trước của các tác nhân kinh tế Trong trường hợp này, mọi khoản vay, tiền lương cũng như hợp đồng về các biến danh nghĩa khác nhìn chung được điều chỉnh thích ứng với tốc độ trượt giá Loại lạm phát này gây ra những tổn thất gì cho xã hội?

Thứ nhất, lạm phát hoạt động giống như một loại thuế đánh vào những người giữ tiền và được gọi là thuế lạm phát Tuy nhiên chúng ta cần thận trọng phân biệt thuế lạm phát với

thuế đúc tiền Như chúng ta đã biết thâm hụt ngân sách xảy ra khi chính phủ chi nhiều hơn thu nhập từ thuế Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng đi vay hoặc in tiền Tương tự như thuế, tiền mới phát hành cũng là một nguồn thu của chính phủ bởi vì chi phí phát hành tiền mới rất nhỏ, trong khi chính phủ có thể sử dụng số tiền đó để mua hàng hóa và dịch vụ Thu

nhập mà chính phủ nhận được bằng cách in tiền được gọi là thuế đúc tiền Tuy nhiên, một số

người phải trả cho khoản thu nhập đó của chính phủ Thực ra, khi in tiền mới, chính phủ đã

đánh thuế lạm phát Lượng tiền được cung ứng nhiều hơn thường gây ra lạm phát và do đó

làm giảm giá trị của những đồng tiền đang lưu hành

Có một điều chúng ta cần nhận thức đúng là bản thân thuế không phải là chi phí đối với xã hội, nó chỉ là sự chuyển giao nguồn lực từ các hộ gia đình sang cho chính phủ Nhưng kinh tế học vi mô lại chỉ ra rằng hầu hết các loại thuế đều làm cho mọi người có động cơ thay đổi hành vi để tránh thuế và gây biến dạng các kích thích này làm cho xã hội với tư cách một tổng thể bị tổn thất Giống như các loại thuế khác, thuế lạm phát cũng gây ra tổn thất cho xã hội bởi vì mọi người lãng phí nguồn lực khan hiếm khi tìm cách tránh thuế Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa, và do đó làm giảm cầu tiền Nếu bình quân mọi người giữ ít tiền hơn, họ cần đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền Sự bất tiện của việc giữ ít tiền hơn tạo nên chi phí mòn giày, vì việc đến ngân hàng nhiều hơn làm cho “giày” của bạn chóng mòn hơn Tuy nhiên, không nên hiểu khoản chi phí này theo nghĩa đen của nó: chi phí thực tế

mà bạn bỏ ra để giữ ít tiền hơn không chỉ ở chỗ giày của bạn nhanh mòn, mà là thời gian và

sự tiện lợi mà bạn phải hy sinh khi giữ ít tiền hơn – cái mà bạn không phải trả khi không có lạm phát

Ngày đăng: 23/11/2014, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9-2 Lạm phát do chi phí đẩy - bài giảng kinh tế học chương 15 lạm phát
Hình 9 2 Lạm phát do chi phí đẩy (Trang 6)
Hình 9-3 Lạm phát ỳ - bài giảng kinh tế học chương 15 lạm phát
Hình 9 3 Lạm phát ỳ (Trang 6)
Hình 9-4. Tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng tiền hàng năm ở Việt Nam, 1987-2007 - bài giảng kinh tế học chương 15 lạm phát
Hình 9 4. Tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng tiền hàng năm ở Việt Nam, 1987-2007 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN