Các giao dịch mang lại ngoại tệ cho đất nước như xuất khẩu hay bán tài sản cho người nước ngoài được ghi là khoản mục có mang dấu +.. Việc người Việt Nam bỏ tiền ra mua các tài sản nước
Trang 1CHƯƠNG 16 KINH TẾ VĨ MÔ CHO NỀN KINH TẾ MỞ
Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu
của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ
thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản
xuất được quốc tế hoá cao độ Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách
theo hướng mở cửa: giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan,
làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và
kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Để không bị gạt ra ngoài lề của sự
phát triển, các quốc gia đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung đó và tăng cường
sức cạnh tranh kinh tế Trong bối cảnh đó, việc quản lý nền kinh tế của một nước
không thể được quyết định một cách biệt lập và các mô hình kinh tế vĩ mô chỉ thực sự
có ý nghĩa để mô tả các nền kinh tế thực và cung cấp cơ sở cho việc hoạch định và
đánh giá tác động của các chính sách kinh tế một khi có tính đến các khía cạnh quốc
tế của một nền kinh tế Điều này hàm ý nền kinh tế cần được xem xét với tư cách là
nền kinh tế mở, tức nền kinh tế có tương tác với các nền kinh tế khác trên thế giới
Mục đích chính của chương này là giới thiệu những khái niệm then chốt mà các nhà
kinh tế thường sử dụng để mô tả một nền kinh tế mở Chúng ta sẽ đặc biệt nhấn mạnh
đến tỷ giá hối đoái, một công cụ then chốt mà chính phủ có thể sử dụng để tác động
đến hoạt động thương mại với thế giới bên ngoài và nhiều biến số kinh tế vĩ mô quan
trọng khác của các nền kinh tế hiện đại
I Cán cân thanh toán
Phần này giới thiệu tổng quan về cán cân thanh toán quốc tế, một chỉ tiêu kinh tế quan
trọng đối với các nhà hoạch định chính sách trong một nền kinh tế mở Trạng thái của cán
cân thanh toán có ảnh hưởng quan trọng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Trong nhiều
trường hợp, chính phủ buộc phải điều chỉnh các chính sách kinh tế để đối phó với những
mất cân bằng trong cán cân thanh toán đang đe dọa sự ổn định và phát triển của nền
kinh tế
Cán cân thanh toán là một bảng cân đối ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những
giao dịch kinh tế giữa trong nước với thế giới bên ngoài trong một khoảng thời gian
nhất định (thường là một năm) Nó phản ánh giá trị hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh
tế đã xuất khẩu và nhập khẩu cũng như các khoản tiền mà quốc gia đã đi vay hoặc cho
thế giới bên ngoài vay Ngoài ra, sự can thiệp của ngân hàng trung ương vào thị
trường ngoại hối thông qua việc thay đổi dự trữ ngoại tệ cũng được phản ánh trong
cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán được ghi chép dưới dạng một tài khoản Các giao dịch mang lại ngoại tệ
cho đất nước như xuất khẩu hay bán tài sản cho người nước ngoài được ghi là khoản mục
có (mang dấu +) Ngược lại, các giao dịch dẫn đến việc thanh toán ngoại tệ cho thế giới bên
ngoài như nhập khẩu hàng hoá hay mua các tài sản ngoại được ghi là khoản mục nợ (mang
Trang 2dấu -)
Các tài khoản của cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán bao gồm hai tài khoản chủ yếu: tài khoản vãng lai và tài khoản
vốn
Tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai ghi chép các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển
giao vãng lai Tài khoản vãng lai bao gồm ba khoản mục lớn: tài khoản thương mại,
thu nhập nhân tố từ nước ngoài và chuyển giao vãng lai
Thứ nhất, tài khoản thương mại ghi chép thu nhập và thanh toán liên quan đến các
giao dịch thương mại quốc tế
Như đã giới thiệu trong Chương 6, xuất khẩu là những hàng hoá và dịch vụ sản
xuất trong nước được bán ra nước ngoài, còn nhập khẩu là hàng hoá và dịch vụ sản
xuất ở nước ngoài được bán ở trong nước Xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho đất nước
và do đó được ghi là khoản mục có, còn nhập khẩu đòi hỏi phải chi ngoại tệ ra nước
ngoài và do đó được khi là khoản mục nợ Khi Tổng công ty lương thực miền Nam
bán gạo cho Xingapo, thì gạo là xuất khẩu của Việt Nam và nhập khẩu của
Xingapo Khi Boing, nhà sản xuất máy bay của Mỹ, chế tạo và bán 3 chiếc máy
bay Boing 777 cho Tổng Công ty hàng không Việt Nam, thì số máy bay này là
nhập khẩu của Việt Nam và là xuất khẩu của Mỹ
Bảng 10-1 Cán cân thanh toán của Việt Nam, 2002-2005
Đơn vị: triệu USD
2002 2003 2004 2005 Cán cân tài khoản vãng lai -673 -1932 -1565 218
Xuất khẩu hàng hóa & dịch vụ 19654 23421 30352 36618
Nhập khẩu hàng hóa & dịch vụ 21457 26780 33511 38562
Đầu tư trực tiếp ròng từ nước ngoài 2045 1829 1252 2045
Vay trung và dài hạn (ròng) 523 1045 1396 1405
Nguồn: IMF Country Report No 06/423, Table 23
Trang 3Xuất khẩu ròng của một nước chính là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim
ngạch nhập khẩu Việc bán gạo ra nước ngoài làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam
tăng lên, trong khi việc mua máy bay Boing làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam
giảm xuống Do xuất khẩu ròng cho biết về tổng thể một nước là người mua ròng hay
bán ròng trên thị trường hàng hoá và dịch vụ thế giới, nên xuất khẩu ròng còn được
gọi là cán cân thương mại Nếu xuất khẩu ròng dương, tức giá trị xuất khẩu lớn hơn
giá trị nhập khẩu, thì nền kinh tế bán hàng hoá ra thế giới bên ngoài nhiều hơn lượng
mua vào Trong trường hợp này, nền kinh tế có thặng dư thương mại Nếu xuất khẩu
ròng âm, tức giá trị xuất khẩu nhỏ hơn giá trị nhập khẩu, thì nền kinh tế mua hàng hoá
từ nước ngoài nhiều hơn lượng bán ra Trong trường hợp này, nền kinh tế có thâm hụt
thương mại Nếu xuất khẩu ròng bằng không, tức giá trị xuất khẩu bằng đúng giá trị
nhập khẩu, nền kinh tế có cân bằng thương mại
Vậy điều gì quyết định lượng xuất khẩu, nhập khẩu và do đó là cán cân thương mại
của một quốc gia? Chúng ta có thể dễ dàng điểm ra các yếu tố có thể ảnh hưởng đến
xuất khẩu, nhập khẩu và xuất khẩu ròng Dưới đây là những yếu tố chính:
Thị hiếu của người tiêu dùng về hàng trong nước và hàng nước ngoài
Giá cả tương đối giữa hàng trong nước và hàng nước ngoài
Tỷ giá hối đoái mà tại đó mọi người có thể chuyển đổi giữa đồng nội tệ với tiền
nước ngoài
Thu nhập của người tiêu dùng trong nước và người tiêu dùng nước ngoài
Chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hoá từ nước này qua nước khác
Các chính sách của chính phủ đối với thương mại
Do tất cả các biến số này thay đổi theo thời gian, khối lượng thương mại cũng thường
xuyên thay đổi
Thứ hai, số liệu trong khoản mục “Thu nhập nhân tố từ nước ngoài” chủ yếu là thu
nhập từ hoạt động đầu tư quốc tế như tiền lãi, cổ tức và lợi nhuận Thu nhập nhân tố
ròng chính là khoản chênh lệch giữa GNP và GDP của một quốc gia mà chúng ta đã
giới thiệu trong Chương 2
Thứ ba, chuyển khoản quốc tế ghi chép các giao dịch không có đối ứng giữa các quốc
gia Đó là các giao dịch một chiều Giả sử chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam một
số ôtô buýt dùng cho giao thông công cộng Để xử lý các giao dịch không có luân
chuyển tài chính đối ứng này, trong cán cân thanh toán cũng có khoản mục có tên gọi
“Chuyển khoản” Quy ước này cho phép các giao dịch một chiều được chuyển thành
giao dịch 2 chiều chuẩn tắc Các ôtô buýt viện trợ được hạch toán như một khoản
nhập khẩu (ghi Nợ) trong tài khoản của Việt Nam, được ‘thanh toán’ bằng chuyển
khoản (ghi Có) Nhìn chung, tất cả các khoản chuyển khoản có một giá trị kế toán mà
không có khoản đối ứng Chuyển khoản vãng lai bao gồm chuyển tiền, quà tặng bằng
hàng (thực phẩm, thuốc men), các khoản đóng góp cho các tổ chức quốc tế, và khoản
tiền của những người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình
Tài khoản vốn
Cho đến nay, chúng ta đã thảo luận việc dân cư của một nền kinh tế mở tham gia vào
thị trường hàng hoá và dịch vụ quốc tế như thế nào Ngoài ra, dân cư của nền kinh tế
mở còn tham gia vào các thị trường tài chính quốc tế Ví dụ, người Việt Nam có thể
Trang 4dùng 500 triệu đồng để mua một chiếc xe Ford, nhưng cũng có thể dùng số tiền đó để
chuyển sang đôla Mỹ và mua trái phiếu do chính phủ Mỹ phát hành1 Trong khi giao
dịch thứ nhất tạo ra một dòng luân chuyển hàng hoá, thì loại giao dịch thứ hai tạo ra
dòng luân chuyển vốn
Tài khoản vốn ghi chép các giao dịch liên quan đến dòng vốn luân chuyển giữa trong
nước với thế giới bên ngoài Việc người Việt Nam bỏ tiền ra mua các tài sản nước
ngoài được coi là nhập khẩu tài sản quốc tế và do đó được ghi là một khoản mục nợ
trong tài khoản vốn của Việt Nam Ngược lại, việc người nước ngoài mua tài sản của
Việt Nam được coi là xuất khẩu tài sản ra nước ngoài và được ghi là một khoản mục
có
Hãy nhớ lại rằng đầu tư ra nước ngoài có hai dạng Việc VIFON xây dựng một nhà
máy sản xuất mỳ ăn liền tại Hungari là một ví dụ về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Ngược lại, việc một người Việt Nam mua cổ phiếu của một công ty Hungari là ví dụ
về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Trong trường hợp thứ nhất, nhà đầu tư Việt Nam
trực tiếp điều hành hoạt động đầu tư Còn trong trường hợp thứ hai, nhà đầu tư Việt
Nam đóng vai trò thụ động hơn Trong cả hai trường hợp, những người đang sống ở
Việt Nam mua tài sản của một nước khác và như vậy làm tăng dòng vốn của Việt
Nam chảy ra nước ngoài
Dòng vốn luân chuyển giữa các quốc gia chịu sự chi phối của những biến số quan
trọng sau đây:
Lãi suất thực tế trả cho tài sản nước ngoài
Lãi suất thực tế trả cho tài sản trong nước
Nhận thức về rủi ro kinh tế và chính trị của việc nắm giữ tài sản nước ngoài
Các chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới việc người nước ngoài nắm giữ tài
sản trong nước
Cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán là tổng hợp của cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài khoản
vốn Nó biểu thị luồng tiền ròng từ thế giới bên ngoài chảy vào một quốc gia khi các
cá nhân, công ty và chính phủ tiến hành giao dịch trong một khoảng thời gian nhất
định Một quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán khi luồng tiền chảy ra lớn hơn
luồng tiền chảy vào Ngược lại, khi luồng tiền chảy vào lớn hơn luồng tiền chảy ra, thì
quốc gia đó có thặng dư cán cân thanh toán Cán cân thanh toán cân bằng khi khi
luồng tiền chảy vào vừa đúng bằng luồng tiền chảy ra
Tài khoản tài trợ chính thức
Phần cuối cùng trong tài khoản cán cân thanh toán phản ánh những giao dịch về dự
trữ quốc tế do ngân hàng trung ương của quốc gia đó quản lý Đó là tài khoản tài trợ
chính thức Các giao dịch này phản ánh việc tài trợ cho số dư của cán cân thanh toán
Ngân hàng trung ương ở hầu hết các nước đều giữ các ngoại tệ mạnh mà chủ yếu là
đôla Mỹ để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm hạn chế sự biến động bất
1 Hiện tại các công dân Việt Nam không được phép chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư vào tài sản
nước ngoài Tuy nhiên, họ có thể mua ngoại tệ và gửi tiền tiết kiệm trực tiếp bằng ngoại tệ
Trang 5lợi của tỷ giá hối đoái Khoản mục tài trợ chính thức luôn bằng về giá trị và có dấu
ngược lại với cán cân thanh toán
Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm tác động đến tỷ giá
của đồng nội tệ so với ngoại tệ Ví dụ, để giữ giá trị của đồng Việt Nam khỏi bị giảm
giá trên thị trường ngoại hối, Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần phải bán ngoại tệ
hoặc vàng để thu tiền đồng của Việt Nam từ lưu thông về Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chỉ có thể làm được điều đó nếu có dự trữ ngoại tệ và vàng Khi muốn ngăn cản
đồng Việt Nam tăng giá, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tung đồng Việt Nam ra
để mua ngoại tệ Khi đó dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước tăng lên Hoạt động
này sẽ được giới thiệu chi tiết khi đề cập đến các hệ thống tỷ giá hối đoái
II Tỷ giá hối đoái
1 Khái niệm và đo lường
1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) là tỷ lệ trao đổi giữa tiền của
các quốc gia Ví dụ như khi đến các quầy giao dịch ngoại tệ, bạn thấy người ta niêm
yết 16100 đồng/ 1 đôla Mỹ Nếu bạn bán 1 đôla Mỹ thì họ sẽ trả cho bạn 16100 đồng;
hoặc nếu bạn mua 1 đôla Mỹ thì bạn cần trả cho họ 16100 đồng Trong thực tế ngân
hàng sẽ niêm yết giá bán đôla cao hơn giá mua đôla Sự chênh lệch này là một trong
những nguồn thu nhập của ngân hàng Để đơn giản cho việc phân tích, chúng ta sẽ bỏ
qua sự chênh lệch này
Tỷ giá hối đoái có thể được niêm yết theo 2 cách Nếu tỷ giá hối đoái là 16100 đồng
đổi được 1 đôla Mỹ thì nó cũng là 1/16100 (≈ 0,000062) đôla Mỹ đổi được 1 đồng
Trong chương này, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được qui ước là số đơn vị nội tệ đổi lấy
một đơn vị ngoại tệ và ký hiệu là E Với tình huống trên chúng ta sẽ viết như sau:
EVND/USD = 16100
Nếu tỷ giá hối đoái thay đổi sao cho 1 đôla có thể đổi được nhiều tiền đồng hơn thì
chúng ta gọi đó là sự giảm giá của tiền đồng Việt Nam Ngược lại, nếu 1 đôla mua
được ít tiền đồng hơn thì chúng ta gọi đó là sự lên giá của tiền đồng Việt Nam Ví dụ
như khi giá đôla trên thị trường ngoại hối tăng từ 16100 đồng lên 17000 đồng, thì tiền
đồng Việt Nam được coi là giảm giá và đồng đôla được coi là lên giá
Đôi khi chúng ta thấy các phương tiện truyền thông nói rằng tiền đồng Việt Nam
mạnh hay yếu Mô tả này thường chỉ đề cập đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh
nghĩa Khi một đồng tiền lên giá, người ta gọi đồng tiền đó mạnh hơn vì nó có thể mua
được nhiều ngoại tệ hơn Ngược lại, khi một đồng tiền giảm giá, người ta gọi đồng tiền đó
yếu đi
1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế
Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ mà các đồng tiền trao đổi với
nhau Do vậy, sự thay đổi trong tỷ giá đối đoái danh nghĩa có thể làm thay đổi giá
hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu khi tính bằng đồng nội tệ, và do đó có ảnh hưởng
đến sự lựa chọn của người tiêu dùng giữa mua hàng Việt Nam và hàng hóa của nước
Trang 6khác
Tuy vậy, hành vi xuất khẩu, nhập khẩu lại phụ thuộc không chỉ vào tỷ giá hối đoái
danh nghĩa Hành vi này còn phụ thuộc vào giá tương đối trên thị trường trong nước
và ở nước ngoài Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối
giữa trong nước và ở nước ngoài được gọi là tỷ giá hối đoái thực tế (Real Exchange
Rate) Chúng ta có thể tính tỷ giá hối đoái thực tế (ε) theo công thức sau:
Cũng như tỷ giá hối đoái danh nghĩa được biểu thị bằng lượng nội tệ trên một đơn vị
ngoại tệ, tỷ giá hối đoái thực tế được biểu thị bằng lượng hàng hoá trong nước trên
một đơn vị hàng hoá nước ngoài Ví dụ, một chiếc áo jacket giá 800.000 đồng ở Việt
Nam và 100 đôla tại Mỹ, trong khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa là 16.000 đồng đổi một
đôla, thì tỷ giá hối đoái thực tế của áo jacket Việt Nam so với áo jacket Mỹ là:
= (1.600.000 đồng/1 áo jacket Mỹ)/(800.000 đồng /1 áo jacket Việt Nam)
= (1.600.000 đồng/1 áo jacket Mỹ) × (1 áo jacket Việt Nam /800.000 đồng)
= 2 áo jacket Việt Nam/1 áo jacket Mỹ
Như vậy, tỷ giá hối đoái thực tế phản ánh tỷ lệ trao đối giữa hàng hoá của các quốc
gia khác nhau
Vì các nhà kinh tế vĩ mô quan tâm đến nền kinh tế với tư cách một tổng thể, nên họ
chú ý tới mức giá chung, chứ không xem xét từng loại giá riêng biệt Do vậy, thay vì
dùng giá áo jacket để tính tỷ giá hối đoái thực tế, các nhà kinh tế vĩ mô sử dụng chỉ số
giá của mỗi nước:
P
P
E× *
=
ε
Trong đó E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, P là chỉ số giá trong nước, P* là chỉ số giá ở
nước ngoài
Công thức trên cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế cho biết giá tương đối giữa giỏ hàng
hoá và dịch vụ của nước ngoài so với giỏ hàng hoá và dịch vụ trong nước tính theo
một đơn vị tiền chung (ở đây là tính theo đồng nội tệ) Khi ε tăng, đồng nội tệ được
coi là giảm giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài (real depreciation) Khi ε giảm,
đồng nội tệ được coi là tăng giá thực tế so với đồng tiền nước ngoài (real
appreciation)
Tại sao tỷ giá hối đoái thực tế lại quan trọng? Tỷ giá hối đoái thực tế là một nhân tố
quyết định năng lực cạnh tranh quốc tế của một nền kinh tế Nó sẽ quyết định quốc
gia đó sẽ xuất khẩu và nhập khẩu mặt hàng nào và với số lượng là bao nhiêu Ví dụ
như, khi các nhà nhập khẩu nước ngoài quyết định xem nên mua gạo của Việt Nam
hay của Thái Lan, họ sẽ quan tâm xem gạo của nước nào rẻ hơn Tỷ giá hối đoái thực
tế giúp họ có câu trả lời chính xác Trong một ví dụ khác, bạn đang cân nhắc nên đi
ε = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa × Giá nước ngoài
Giá trong nước
16.000 đồng/1 đôla × 100 đôla /1 áo jacket Mỹ 800.000 đồng /1 áo jacket Việt Nam
ε =
Trang 7nghỉ ở Nha Trang hay Pattaya (Thái Lan) Bạn có thể hỏi giá khách sạn ở Nha Trang
(bằng đồng) và giá khách sạn ở Pattaya (bằng bạt) và tỷ giá giữa bạt và đồng Nếu bạn
quyết định sẽ đi nghỉ ở đâu bằng cách so sánh chi phí, thì thực ra bạn đã dựa vào tỷ
giá hối đoái thực tế rồi đấy Đối với tổng thể nền kinh tế thì việc đồng Việt Nam giảm
giá thực tế hàm ý rằng hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trở nên rẻ hơn một cách
tương đối so với hàng hóa và dịch vụ của các nước đối tác Khi đó cả người tiêu dùng
trong nước và nước ngoài đều có xu hướng thay thế hàng của các nước đó bằng hàng
Việt Nam làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam tăng lên Ngược lại, khi đồng Việt
Nam tăng giá thực tế, thì hàng ngoại trở nên rẻ hơn một cách tương đối so với hàng
hóa Việt Nam, làm cho xuất khẩu ròng của Việt Nam giảm xuống
1.3 Tỷ giá hối đoái bình quân
Cho tới thời điểm này, chúng ta đã nói tới tỷ giá hối đoái như là chỉ có một tỷ giá hối
đoái duy nhất Giờ đây, chúng ta cần hiểu khái niệm này một cách chính xác hơn
Trước hết, chúng ta thấy rằng bất cứ một nước nào cũng có nhiều tỷ giá hối đoái song
phương giữa đồng nội tệ với các đồng ngoại tệ khác nhau Đồng Việt Nam (VND) có
thể được dùng để mua đôla Mỹ (USD), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), Nhân dân
tệ Trung Quốc (CNY), v.v Khi nghiên cứu những thay đổi trong tỷ giá hối đoái, các
nhà kinh tế thường sử dụng các chỉ số mang thông tin trung bình về các tỷ giá này
Cũng giống như chỉ số giá tiêu dùng chuyển nhiều loại giá trong nền kinh tế về một
loại giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái chuyển các tỷ giá hối đoái khác nhau thành một
thước đo duy nhất về giá trị quốc tế của đồng nội tệ Trong hầu hết các trường hợp, tỷ
giá hối đoái bình quân (effective exchange rate) được hiểu là số bình quân gia quyền
của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi
tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó Công
thức tính tỷ giá hối đoái bình quân có thể được biểu diễn như sau:
EE = E i×W i
với EE là tỷ giá bình quân, E i là tỷ giá hối đoái song phương với nước i, và W i là tỷ
trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét
2 Thị trường ngoại hối
Chúng ta xét mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ và xem điều gì quyết định tỷ
lệ trao đổi giữa tiền đồng của Việt Nam và đôla Mỹ Ví dụ về hai nước làm cho việc
phân tích trở nên đơn giản hơn, song những nguyên lý chung được áp dụng cho mọi
giao dịch với nước ngoài Theo nghĩa đó, đôla Mỹ được coi là ngoại tệ đại diện, và số
đồng Việt Nam đổi 1 đôla Mỹ được coi là tỷ giá hối đoái đại diện
Vì tiền của một nước được trao đổi với tiền của nước khác trên thị trường ngoại hối,
do đó cầu về đôla Mỹ chính là cung về đồng Việt Nam, trong khi cung về đôla Mỹ
chính là cầu về đồng Việt Nam Vì lý do này một lý thuyết về tỷ giá hối đoái giữa
đôla Mỹ và đồng Việt Nam có thể xem xét hoặc là cầu và cung về đôla Mỹ để trao đổi
với đồng Việt Nam hoặc là cầu và cung về đồng Việt Nam để trao đổi với đôla Mỹ
Tuy nhiên, để tiện cho việc phân tích chúng ta sẽ xem xét cầu và cung về đôla Mỹ để
trao đổi với đồng Việt Nam và tỷ giá được tính bằng số đồng Việt Nam đổi một đôla
Mỹ (EVND/USD)
Trang 82.1 Cung về đôla Mỹ
Cung về đôla Mỹ bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo ra thu
nhập về đôla Mỹ Một nguồn quan trọng của cung về đôla Mỹ trên thị trường ngoại
hối là người nước ngoài hiện tại không có tiền Việt Nam nhưng muốn mua hàng hoá
và dịch vụ của Việt Nam Một công ty Mỹ cần nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam Đó
là một nguồn của cung về đôla phát sinh từ thương mại quốc tế Mỗi người mua nước
ngoài cần bán tiền nước họ và mua tiền đồng để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ
của Việt Nam Ngoài ra, người nước ngoài cũng có thể mua cổ phiếu, trái phiếu, và
bất động sản ở Việt Nam Điều này đòi hỏi họ phải chuyển ngoại tệ thành đồng Việt
Nam Như vậy, cung về đôla Mỹ đơn giản biểu thị những giao dịch trong các tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn tạo ra thu nhập về ngoại tệ (các khoản mục có)
Hình 10.1 biểu diễn thị trường trao đổi giữa tiền đồng Việt Nam và đôla Mỹ Trong
đó tỷ giá hối đoái tính bằng số đồng Việt Nam đổi một đôla Mỹ biểu diễn trên trục
tung và số đồng đôla Mỹ đưa ra thị trường để trao đổi với đồng Việt Nam được biểu
diễn trên trục hoành Khi di chuyển dọc xuống phía dưới theo trục tung, đồng đôla Mỹ
giảm giá trị so với tiền đồng của Việt Nam hay tiền đồng của Việt Nam lên giá so với
đôla Mỹ Trong trường hợp ngược lại, chúng ta nói đồng Việt Nam giảm giá so với
đôla Mỹ
Đường cung về đôla Mỹ biểu thị số đôla Mỹ cần chuyển đổi sang đồng Việt Nam tại
mỗi mức tỷ giá hối đoái Nó là đường dốc lên phản ánh khi đồng đôla Mỹ lên giá so
với đồng Việt Nam, sẽ có nhiều đôla Mỹ hơn được cung ứng để chuyển đổi sang đồng
Việt Nam Sở dĩ như vậy là vì khi đồng đôla Mỹ tăng giá, giá hàng và tài sản của Việt
Nam tính bằng đôla Mỹ giảm Điều này sẽ hấp dẫn người nước ngoài hơn và họ sẽ
mua nhiều hàng và tài sản của Việt Nam hơn và do vậy họ sẽ phải chuyển đổi nhiều
ngoại tệ hơn sang đồng Việt Nam để phục vụ cho mục đích này
2.2 Cầu về đôla Mỹ
Cầu về đôla Mỹ trên thị trường trao đổi giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ đơn giản bắt
nguồn từ các giao dịch quốc tế theo chiều ngược lại so với cung về đôla Mỹ Nó biểu
thị những giao dịch trong tài khoản vãng lai và vốn liên quan đến việc thanh toán
ngoại tệ cho các đối tác nước ngoài (các khoản mục nợ trong cán cân thanh toán) Vậy
ai có nhu cầu về đôla Mỹ? Các công dân và công ty Việt Nam có nhu cầu mua hàng
hay tài sản của nước ngoài sẽ phải cung ứng đồng Việt Nam để chuyển đổi sang đôla
Mỹ
Đường cầu đôla Mỹ là một đường dốc xuống bởi vì khi đồng đôla Mỹ lên giá so với
tiền đồng của Việt Nam, thì hàng ngoại và tài sản ngoại trở nên đắt hơn và ít hấp dẫn
hơn đối với người Việt Nam Chúng ta sẽ mua ít hàng hóa và tài sản ngoại hơn và do
vậy sẽ cần ít đôla Mỹ hơn
2.3 Xác định tỷ giá hối đoái trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi
Trong phần này, chúng ta xét một hệ thống trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn
bởi quan hệ cung cầu trên thị trường tự do cạnh tranh và không có bất kỳ sự can thiệp
nào của ngân hàng trung ương Giống như bất kỳ một loại giá cạnh tranh nào khác, tỷ
giá hối đoái sẽ dao động theo những điều kiện của cầu và cung Giả sử mức giá đôla
Trang 9hiện tại là quá thấp (ví dụ E 1 trong Hình 10-1) Khi đó lượng cầu về đôla vượt quá
lượng cung Do đôla khan hiếm, một số công ty cần đôla để thanh toán các hợp đồng
nhập khẩu không mua được đôla, và họ sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua được đủ số
đôla cần thiết Những hành động như vậy sẽ đẩy giá đôla tăng lên mức E 0 Ngược lại,
nếu hiện tại giá đôla quá cao, chẳng hạn như E 2 Khi đó lượng đôla có nhu cầu thấp
hơn lượng đôla cung ứng Nhiều người cần bán đôla sẽ không bán được và họ sẽ sẵn
sàng hạ giá để bán được đủ số đôla cần thiết Chỉ tại mức tỷ giá E 0 thì quá trình điều
chỉnh mới dừng lại Khi đó, lượng cầu về đôla đúng bằng lượng đôla cung ứng E 0
được gọi là tỷ giá hối đoái cân bằng
Hình 10-1 Xác định tỷ giá hối đoái
Lưu ý rằng khi ngân hàng trung ương không can thiệp vào thị trường ngoại hối, thì thị
trường ngoại hối ở trạng thái cân bằng cũng có nghĩa là cán cân thanh toán cân bằng
và khoản mục tài trợ chính thức bằng không
2.4 Sự thay đổi tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có thể thay đổi thường xuyên và đôi khi thay đổi rất lớn Bất kỳ thay
đổi nào dẫn đến sự dịch chuyển của đường cầu hoặc đường cung đôla Mỹ trên thị
trường trao đổi với tiền đồng của Việt Nam đều sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thay đổi
Các yếu tố có thể làm dịch chuyển các đường cầu và cung bao gồm những thay đổi
trong thị hiếu hoặc mức thu nhập, những thay đổi trong dòng luân chuyển vốn quốc
tế, và những thay đổi mặt bằng giá
Những thay đổi trong thị hiếu hoặc mức thu nhập
Giả sử rằng các nước đối tác thương mại với Việt Nam tăng trưởng mạnh Điều đó
khiến cho họ có nhu cầu lớn hơn về hàng hoá và dịch vụ, kể cả hàng hoá và dịch vụ
của Việt Nam Kết quả là cầu của họ đối với đồng Việt Nam tăng lên Họ phải cung
ứng nhiều đôla Mỹ hơn để đổi lấy tiền đồng Việt Nam Trên đồ thị đường cung đối
với đôla Mỹ dịch chuyển sang phải như được biểu diễn trong hình 10.2 Kết quả
tương tự cũng sẽ xảy ra nếu người nước ngoài bỗng nhiên nhận thấy hàng hóa và dịch
vụ Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn hoặc quyết định chuyển từ mua cà phê Braxin sang
cà phê nhập khẩu từ Việt Nam
Lượng đôla, QUSD
Dư cung đôla (cán cân TT thặng dư)
Dư cầu đôla (cán cân TT thâm hụt)
E 2
E 0
E 1
D USD
E VND/USD
S USD
Trang 10Khi đường cung đối với đôla dịch sang phải, giá tính theo đồng của đôla bị kéo
xuống Ví dụ, trong hình 10.2 các bạn có thể thấy rằng giá tính theo đồng của đôla
giảm từ 16100 đồng trên một đôla xuống 15.900 đồng trên một đôla Đôla đã bị giảm
giá (mất giá trị so với tiền đồng) bởi vì bây giờ một đôla đổi được ít đồng hơn Ngược
lại, tiền đồng đã lên giá (tăng thêm giá trị) so với đôla bởi vì bây giờ cần ít đồng hơn
trước đây để mua được 1 đôla
Hình 10-2 Tăng cung đôla Mỹ
Ta sẽ biểu diễn như thế nào ảnh hưởng của của sự tăng thu nhập của Việt Nam hoặc
sự tăng ước muốn mua hàng Mỹ - chẳng hạn, máy tính xách tay IBM? Những thay
đổi này sẽ làm tăng cầu đối với các sản phẩm Mỹ và do đó sẽ làm tăng cầu đối với đô
la Mỹ Do đó đường cầu đối với đôla sẽ dịch sang phải, như biểu thị trong Hình 10-3
Thay đổi này làm cho đô la lên giá hay giảm giá? Còn tiền đồng thì sao?
Hình 10-3 Tăng cầu đôla
Câu trả lời đúng là một sự tăng trong cầu đối với đôla sẽ làm cho đồng đôla lên giá
Như các bạn thấy từ Hình 10-3, giá tính bằng đồng của đôla tăng từ 16.100 đồng lên
16.400 đồng Đôla phải có giá trị hơn (lên giá) bởi vì bây giờ một đôla đổi được nhiều
đồng hơn Ngược lại, tiền đồng giảm giá trị vì phải chi nhiều đồng hơn trước đây mới
mua được 1 đôla
Sự thay đổi trong mức giá chung
Thay vì giá của một mặt hàng xuất khẩu thay đổi, bây giờ chúng ta giả thiết có sự thay
đổi giá của mọi hàng hóa do nền kinh tế đang trải qua lạm phát Khi đó, mức giá
chung của hàng Việt Nam sẽ thay đổi một cách tương đối so với mức giá chung của
các đối tác thương mại Trong mô hình đơn giản chỉ có hai nước, Mỹ sẽ đóng vai trò
là thế giới còn lại
E VND/USD
B A
S 0
S 1
D 0 16.100
0
150 160
Q USD 15.900
Q USD
E VND/USD
0
150 165
A
B S0
D 0
D 1 16.100
16.400
E VND/USD
B
S 1