1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài giảng kinh tế học chương 10 đo lường thu nhập của một quốc gia

14 645 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 412,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một số năm, các doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế mở rộng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, việc làm tăng và bạn dễ dàng tìm được việc làm.. Số liệu thống kê có thể phản ánh tổng thu

Trang 1

CHƯƠNG 10

ĐO LƯỜNG THU NHẬP CỦA MỘT QUỐC GIA

Khi bạn tốt nghiệp và bắt đầu đi tìm việc làm, thì phần lớn kinh nghiệm mà bạn tích luỹ được

là nhờ điều kiện kinh tế hiện tại Trong một số năm, các doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế

mở rộng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, việc làm tăng và bạn dễ dàng tìm được việc làm Trong một số năm khác, các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, việc làm giảm và bạn mất nhiều thời gian mới tìm được việc làm tốt Không có gì đáng ngạc nhiên là tất cả sinh viên tốt nghiệp đại học đều muốn gia nhập lực lượng lao động vào năm hoạt động kinh tế mở rộng, chứ không phải khi nền kinh tế đang rơi vào tình trạng suy thóai

Do điều kiện của toàn nền kinh tế ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả chúng ta, nên những thay đổi trong điều kiện kinh tế thường được thông báo rộng rãi qua các phương tiện thông tin đại chúng Trên thực tế, rất hiếm khi chúng ta cầm một tờ báo lên mà không nhìn thấy số liệu thống kê mới về nền kinh tế Số liệu thống kê có thể phản ánh tổng thu nhập của mọi người

trong nền kinh tế (GDP), tốc độ tăng giá bình quân (lạm phát), phần trăm lực lượng lao động

không có việc làm (thất nghiệp), tổng mức chi tiêu tại các cửa hàng (doanh số bán lẻ), hoặc

sự mất cân bằng của hoạt động thương mại giữa Mỹ và các nước khác trên thế giới (thâm hụt

thương mại) Tất cả những số liệu thống kê này đều là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Thay vì đề cập

đến một hộ gia đình hoặc một doanh nghiệp riêng lẻ, chúng cho ta biết điều gì đó về toàn bộ nền kinh tế

Như bạn có thể nhớ lại từ chương 2, kinh tế học được chia thành 2 phân ngành là kinh tế vi

mô và kinh tế vĩ mô Kinh tế vi mô là bộ môn nghiên cứu về việc các hộ gia đình và doanh

nghiệp riêng lẻ đưa ra quyết định và tương tác với nhau như thế nào trên các thị trường cụ

thể Kinh tế vĩ mô là bộ môn nghiên cứu về nền kinh tế với tư cách một tổng thể Mục tiêu

của kinh tế vĩ mô là lý giải những biến động kinh tế đồng thời tác động tới các hộ gia đình, doanh nghiệp và thị trường Kinh tế vĩ mô nêu ra nhiều câu hỏi rất khác nhau: Tại sao thu nhập bình quân cao ở một số nước, trong khi lại thấp ở những nước khác? Tại sao giá cả tăng nhanh trong một số thời kỳ, nhưng lại ổn định hơn ở những thời kỳ khác? Tại sao sản lượng

và việc làm tăng trong một số năm, nhưng lại giảm trong những năm khác? Chính phủ có thể làm gì để thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh của thu nhập, cắt giảm lạm phát và ổn định việc làm? Những câu hỏi này mang bản chất kinh tế vĩ mô, bởi vì chúng liên quan đến quá trình vận hành của toàn bộ nền kinh tế

Do nền kinh tế với tư cách một tổng thể chẳng qua chỉ là tập hợp của rất nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên nhiều thị trường, nên kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có mối liên hệ cực kỳ chặt chẽ với nhau Ví dụ, các công cụ cơ bản của cung và cầu đóng vai trò trung tâm trong phân tích kinh tế vĩ mô, cũng như trong phân tích kinh tế vi mô Song việc nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể cũng đặt ra những thách thức mới và hấp dẫn

Trong chương này và chương tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận về một vài số liệu mà các nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách thường sử dụng để theo dõi sự vận hành của toàn nền kinh tế Những số liệu này phản ánh những biến động kinh tế mà các nhà kinh tế vĩ mô tìm

Trang 2

cách lý giải Chương này xem xét tổng sản phẩm trong nước, gọi tắt là GDP, chỉ tiêu phản ánh về tổng thu nhập của một quốc gia GDP là số liệu thống kê kinh tế thường thấy nhất, bởi

vì nó được coi là chỉ tiêu tốt nhất về phúc lợi kinh tế của xã hội

THU NHẬP VÀ CHI TIÊU CỦA NỀN KINH TẾ

Nếu phải đánh giá xem một người có hoạt động kinh tế tốt không, có thể trước tiên bạn nhìn vào thu nhập của anh ta Một người có thu nhập cao dễ dàng mua được những hàng hóa thiết yếu và sang trọng cho cuộc sống Không có gì đáng ngạc nhiên khi những người có thu nhập cao được hưởng thụ mức sống cao - nhà ở sang trọng hơn, chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, những chiếc xe hơi sành điệu hơn và nhiều kỳ nghỉ sang trọng hơn, và vân vân

Lô gích tương tự cũng áp dụng cho nền kinh tế của một quốc gia Khi đánh giá xem nền kinh

tế nào đó có hoạt động tốt không, dĩ nhiên người ta thường nhìn vào tổng thu nhập mà mọi người trong nền kinh tế kiếm được Đó chính là nhiệm vụ của tổng sản phẩm trong nước

(GDP)

GDP cùng một lúc phản ánh hai sự việc: tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu để mua sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Lý do làm GDP phản ánh được cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu là vì hai đại lượng này thực ra chỉ là một Đối với nền kinh tế với tư cách một tổng thể, thu nhập phải bằng chi tiêu

Tại sao điều này lại đúng? Lý do làm cho thu nhập của nền kinh tế bằng chi tiêu là mọi giao dịch đều có hai bên: bên mua và bên bán Mọi khoản chi tiêu của người mua nào đó đều là thu nhập của người bán khác Ví dụ, giả sử Karen trả Doug 100 đô la để cắt cỏ cho cô Trong trường hợp này, Doug chính là người bán dịch vụ, còn Karen là người mua Doug kiếm được

100 đô la và Karen chi tiêu 100 đô la Do vậy, giao dịch này đóng góp vào tổng thu nhập và tổng chi tiêu của nền kinh tế một lượng như nhau Bất kể tính theo tổng thu nhập hay tổng chi

tiêu, GDP đều tăng thêm 100 đô la

Các Doanh

nghiệp

Các hộ gia đình

Thị trường hàng hoá

và dịch vụ

Thị trường các nhân tố sản xuất

Đầu vào sản xuất

Lao động, đất đai và

tư bản

Mua hàng hoá

và dịch vụ

Bán hàng hoá

và dịch vụ

Doanh thu

Thu nhập

(= GDP)

Tiền lương, tiền thuế,

và lợi nhuận

(= GDP)

Trang 3

Hình 1 Biểu đồ vòng chu chuyển Các hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ của các doanh

nghiệp, còn các doanh nghiệp sử dụng doanh thu bán hàng để thanh toán tiền lương cho công nhân, tiền thuê cho chủ đất và lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp GDP bằng tổng số tiền

mà các hộ gia đình chi ra trên thị trường hàng hóa và dịch vụ Nó cũng bằng tổng tiền lương, tiền thuê và lợi nhuận mà các doanh nghiệp thanh toán trên thị trường các nhân tố sản xuất

Một cách khác để nhận thấy sự bằng nhau giữa thu nhập và chi tiêu là sử dụng biểu đồ vòng chu chuyển trong hình 1 (Bạn có thể nhớ lại biểu đồ vòng chu chuyển trong chương 2) Biểu đồ này mô tả tất cả các giao dịch giữa hộ gia đình và doanh nghiệp trong nền kinh tế giản đơn Trong nền kinh tế đó, các hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ từ doanh nghiệp; các khoản chi tiêu này đi qua thị trường hàng hóa và dịch vụ Sau đó các doanh nghiệp sử dụng tiền nhận được từ việc bán hàng hóa và dịch vụ để trả tiền lương cho công nhân, tiền thuê cho chủ đất và lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp; các khoản thu nhập này chảy qua thị trường các nhân tố sản xuất Như vậy, tiền liên tục chảy từ khu vực hộ gia đình sang khu vực doanh nghiệp, sau đó quay trở lại khu vực hộ gia đình

Chúng ta có thể tính GDP cho nền kinh tế này theo hai cách: cộng tất cả các khoản chi

tiêu của các hộ gia đình lại với nhau hoặc cộng các khoản thu nhập (tiền lương, tiền thuê

và lợi nhuận) mà các doanh nghiệp thanh toán Bởi vì mọi khoản chi tiêu trong nền kinh

tế cuối cùng đều trở thành thu nhập của ai đó, nên GDP là như nhau, bất kể nó được tính

theo cách nào

Tất nhiên, nền kinh tế trong thực tế phức tạp hơn nhiều so với nền kinh tế được minh họa trong hình 1 Cụ thể, các hộ gia đình không chi tiêu hết thu nhập của mình Họ nộp một phần thu nhập cho chính phủ dưới dạng thuế, cũng như tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập để

sử dụng trong tương lai Ngoài ra, các hộ gia đình không mua tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế Một số hàng hóa và dịch vụ được chính phủ mua, còn một số khác được các doanh nghiệp mua, vì họ dự kiến trong tương lại sẽ sử dụng chúng vào việc sản xuất ra sản phẩm của riêng họ Tuy nhiên, bất kể hộ gia đình, chính phủ, hay doanh nghiệp mua một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, thì giao dịch đó vẫn có bên mua và bên bán

Do vậy, khi xem xét nền kinh tế với tư cách một tổng thể thì chi tiêu và thu nhập là luôn luôn bằng nhau

Kiểm tra nhanh: Tổng sản phẩm trong nước phản ánh hai sự việc gì? Làm thế nào nó có thể phản ánh hai sự việc cùng một lúc?

TÍNH TOÁN TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

Giờ đây, sau khi đã thảo luận khái quát ý nghĩa của tổng sản phẩm trong nước, chúng ta hãy tìm hiểu xem cụ thể chỉ tiêu thống kê này được tính toán như thế nào Sau đây là định nghĩa

về GDP:

• Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối

cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước, trong một thời kỳ nhất định

Định nghĩa này xem ra có vẻ khá đơn giản Song trong thực tế, có rất nhiều vấn đề phức tạp

nảy sinh khi tính toán GDP của nền kinh tế Do vậy, chúng ta hãy xem xét cẩn thận từng cụm

từ trong định nghĩa này

Trang 4

"GDP là giá trị thị trường "

Có lẽ bạn đã từng nghe câu châm ngôn "Bạn không thể so sánh táo với cam." Nhưng GDP lại làm đúng như vậy GDP cộng rất nhiều loại sản phẩm thành một chỉ tiêu duy nhất về giá trị

của hoạt động kinh tế Để làm được điều này, nó phải sử dụng giá thị trường Do giá thị trường biểu thị số tiền mà mọi người sẵn sàng chi trả cho các hàng hóa khác nhau, nên nó phản ánh giá trị của những hàng hóa này Nếu giá của một quả táo bằng hai lần giá của một

quả cam, thì một quả táo đóng góp vào GDP gấp hai lần giá trị đóng góp của một quả cam

"của tất cả "

GDP cố gắng biểu thị một cách đầy đủ Nó bao gồm tất cả các hàng hóa được sản xuất ra trong nền kinh tế và được bán hợp pháp trên các thị trường GDP tính toán giá thị trường

không chỉ của táo và cam, mà còn của lê, nho, sách, phim ảnh, dịch vụ cắt tóc, chăm sóc y tế,

và vân vân

GDP còn bao gồm cả giá trị thị trường của dịch vụ nhà ở do khối lượng nhà ở hiện có của

nền kinh tế cung cấp Đối với những căn nhà cho thuê, chúng ta dễ dàng tính được giá trị này - tiền thuê nhà đúng bằng chi tiêu của người thuê nhà và thu nhập của chủ nhà Tuy nhiên, có nhiều người sinh sống trong chính các căn nhà của họ và do vậy không phải trả

tiền thuê nhà Chính phủ hạch toán những ngôi nhà do chủ sở hữu sử dụng vào GDP bằng cách ước tính giá trị cho thuê của chúng Nghĩa là, GDP được tính dựa trên giả định cho

rằng người chủ sở hữu trả tiền thuê nhà cho chính họ, do vậy tiền thuê nhà nằm trong cả chi tiêu và thu nhập của anh ta

Tuy nhiên, có một số sản phẩm mà GDP bỏ sót do việc tính toán chúng quá khó khăn GDP

không tính những sản phẩm được sản xuất và bán ra trong nền kinh tế ngầm, ví dụ như dược phẩm bất hợp pháp Nó cũng không tính được những sản phẩm được sản xuất và tiêu dùng trong gia đình và do vậy không bao giờ được đưa ra thị trường Những loại rau quả mua tại

các cửa hàng tạp phẩm là một phần của GDP, song rau quả trồng trong vườn của bạn lại

không nằm trong đó

Những thiếu sót này của GDP đôi khi có thể dẫn đến những kết quả kỳ quặc Ví dụ, khi Karen trả tiền thuê Doug cắt cỏ cho cô ta, giao dịch này là một phần của GDP Nếu Karen

cưới Doug, thì tình hình sẽ thay đổi Mặc dù Doug vẫn tiếp tục chăm sóc bãi cỏ cho Karen,

nhưng giá trị của hoạt động cắt cỏ giờ đây đã bị đưa ra khỏi GDP, bởi vì dịch vụ của Doug không còn được bán trên thị trường nữa Do vậy, khi Karen và Doug cưới nhau, GDP giảm

"cuối cùng "

Nếu công ty International Paper sản xuất giấy, sau đó giấy được công ty Hallmark sử dụng để

làm thiếp chúc mừng, thì giấy được gọi là hàng hóa trung gian, còn thiếp chúc mừng được gọi là hàng hóa cuối cùng GDP chỉ bao gồm giá trị của những hàng hóa cuối cùng Lý do là

giá trị của những hàng hóa trung gian đã được tính vào trong giá cả của hàng háo cuối cùng Việc cộng giá trị thị trường của giấy với giá trị thị trường của thiếp sẽ dẫn tới sự tính trùng Nghĩa là, giá trị của giấy được tính hai lần (tính sai)

Trường hợp ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc trên nảy sinh khi hàng hóa trung gian được sản xuất và, thay vì được sử dụng, nó được đưa vào hàng tồn kho của doanh nghiệp để sử dụng hoặc bán trong tương lai Trong trường hợp đó, hàng hóa trung gian được tạm thời coi là "cuối

Trang 5

cùng" và giá trị của nó dưới dạng đầu tư vào hàng tồn kho được tính vào GDP Sau đó, khi mức

tồn kho hàng hóa trung gian này được sử dụng hoặc bán, thì đầu tư vào hàng tồn kho của doanh

nghiệp sẽ là âm, và GDP trong thời kỳ sau phải giảm một lượng tương ứng

"hàng hóa và dịch vụ "

GDP bao gồm cả những hàng hóa hữu hình (thực phẩm, quần áo, xe hơi ) và những dịch vụ

vô hình (cắt tóc, lau nhà, khám bệnh) Khi bạn mua chiếc đĩa CD được thực hiện bởi một nhóm nhạc mà bạn yêu thích ghi âm, thì điều này có nghĩa là bạn mua một hàng hóa và giá mua nằm

trong GDP Khi bạn trả tiền để nghe một buổi hoà nhạc cũng của nhóm nhạc đó, thì có nghĩa là bạn mua một dịch vụ và giá vé cũng nằm trong GDP

"được sản xuất ra "

GDP bao gồm mọi hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong thời kỳ hiện tại Nó không bao

gồm những giao dịch liên quan đến hàng hóa được sản xuất ra trong quá khứ Khi công ty General Motors sản xuất và bán chiếc xe hơi mới, thì giá trị của chiếc xe hơi đó được tính vào

GDP Khi người nào đó bán chiếc xe hơi đã qua sử dụng cho người khác, thì giá trị của chiếc

xe hơi đã qua sử dụng đó không nằm trong GDP

"trong phạm vi một nước "

GDP tính toán giá trị sản xuất trong phạm vi địa lý của một nước Khi một công dân Canađa làm việc tạm thời ở Mỹ, thì giá trị sản xuất của anh ta là bộ phận cấu thành GDP của Mỹ Khi

một công dân Mỹ sở hữu nhà máy ở Haiti, thì giá trị sản xuất tại nhà máy của anh ta sẽ không

nằm trong GDP của Mỹ (nó là một phần trong GDP của Haiti) Do vậy, các sản phẩm được đưa vào GDP của một quốc gia khi chúng được sản xuất ra trên lãnh thổ quốc gia đó, bất kể

nhà sản xuất có quốc tịch nước nào

" trong một thời kỳ nhất định."

GDP phản ánh giá trị sản xuất thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể Khoảng thời gian này thường là một năm hoặc một quý (3 tháng) GDP phản ánh lượng thu nhập và chi tiêu

trong thời kỳ đó

Khi chính phủ thông báo GDP cho một quý, thì nó thường biểu thị GDP theo năm Điều này hàm ý con số GDP hàng quý được thông báo bằng tổng thu nhập hoặc chi tiêu trong quý nhân với 4 Chính phủ sử dụng quy ước này để đảm bảo rằng con số GDP hàng quý và hàng

năm có thể so sánh với nhau một cách dễ dàng hơn

Ngoài ra, khi chính phủ thông báo GDP hàng quý, thì số liệu này đã được điều chỉnh bằng một thủ thuật thống kê gọi là điều chỉnh thời vụ Những số liệu chưa được điều chỉnh cho

thấy một cách rõ ràng rằng nền kinh tế sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn trong một số thời điểm so với một số thời điểm khác trong năm (Như bạn có thể dự đoán, mùa mua sắm vào dịp lễ Giáng sinh vào tháng 12 là thời kỳ cao điểm.) Khi theo dõi diễn biến của nền kinh

tế, các nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách thường muốn bỏ qua những biến động thời

vụ lặp lại thường xuyên này Do vậy, các nhà thống kê của chính phủ điều chỉnh số liệu quý

để loại trừ chu kỳ thời vụ Số liệu GDP được thông báo trong các bản tin luôn được điều

chỉnh để loại trừ tính thời vụ

Bây giờ hãy nhắc lại định nghĩa về GDP:

Trang 6

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối

cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước trong một thời kỳ nhất định

Cần thấy rõ rằng GDP là một chỉ tiêu phức tạp về giá trị của hoạt động kinh tế Trong những

khóa học nâng cao về kinh tế vĩ mô, bạn sẽ học được nhiều về tính phức tạp nảy sinh trong quá trình tính toán nó Song giờ đây bạn đã có thể thấy rằng mỗi một cụm từ trong định nghĩa này có rất nhiều ý nghĩa

Kiểm tra nhanh: Việc nào đóng góp vào GDP nhiều hơn - sản xuất của một kg bánh

hamburger hay sản xuất của một kg trứng cá muối? Tại sao?

PHẦN ĐỌC THÊM Các chỉ tiêu khác về thu nhập

Cứ sau ba tháng, Bộ Thương mại Mỹ lại tính GDP một lần Đồng thời, họ cũng tính các chi

tiêu thu nhập khác nhằm đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn về những gì đang xảy ra trong

nền kinh tế Những chỉ tiêu này khác với GDP ở chỗ chúng loại bỏ hoặc tính thêm những

khoản mục thu nhập nào đó Sau đây là mô tả tóm tắt về những chỉ tiêu thu nhập này, được sắp xếp theo thứ tự từ lớn nhất đến nhỏ nhất

¾ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng thu nhập mà công dân của một quốc gia tạo ra

Nó khác với GDP ở chỗ nó cộng thêm các khoản thu nhập mà dân cư trong nước tạo ra ở

nước ngoài và trừ đi các khoản thu nhập mà người nước ngoài tạo ra ở trong nước Ví dụ, khi một công dân Canađa làm việc tạm thời ở Mỹ, giá trị sản xuất của anh ta là một phần

cấu thành GDP của Mỹ, nhưng nó lại không thuộc GNP của Mỹ (Nó thuộc GNP của

Canađa.) Đối với hầu hết các nước, trong đó có Mỹ, công dân trong nước tạo ra hầu hết

giá trị sản xuất trong nước, nên GDP và GNP có giá trị gần bằng nhau

¾ Sản phẩm quốc dân ròng (NNP) là tổng thu nhập của công dân một nước (GNP) trừ đi khấu hao Khấu hao là các khoản hao mòn trang thiết bị và nhà xưởng của nền kinh tế, ví

dụ những chiếc xe tải bị xuống cấp, bóng đèn đường bị cháy Trong hệ thống tài khoản quốc gia do Bộ Thương mại đảm nhận, khấu hao được gọi là khoản "tiêu hao tư bản cố định."

¾ Thu nhập quốc dân là tổng thu nhập mà công dân một nước tạo ra trong quá trình sản

xuất hàng hóa và dịch vụ Nó khác với sản phẩm quốc dân ròng ở chỗ không bao gồm các khoản thuế gián thu (ví dụ thuế doanh thu), nhưng bao gồm cả các khoản trợ cấp kinh

doanh NNP và thu nhập quốc dân còn khác nhau ở khoản "sai số thống kê" phát sinh từ

việc thu thập và xử lý số liệu

¾ Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cá thể nhận được Không giống như thu nhập quốc dân, nó không bao gồm lợi nhuận để lại công ty, tức

khoản thu nhập các công ty tạo ra nhưng không trả cho chủ sở hữu Nó cũng không bao gồm các khoản thuế thu nhập công ty và đóng góp bảo hiểm xã hội (chủ yếu là các loại thuế bảo hiểm xã hội) Ngoài ra, thu nhập cá nhân còn bao gồm thu nhập từ lãi suất mà các hộ gia đình nhận được từ các khoản cho chính phủ vay và thu nhập mà các hộ gia

Trang 7

đình nhận được từ các chương trình trợ cấp của chính phủ, ví dụ như chưong trình Phúc lợi và bảo hiểm xã hội

¾ Thu nhập khả dụng là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cá thể còn lại sau khi

hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho chính phủ Nó bằng thu nhập cá nhân trừ thuế thu nhập

cá nhân và các khoản thanh toán ngoài thuế khác (ví dụ lệ phí giao thông)

Mặc dù các chỉ tiêu thu nhập có thể khác nhau về chi tiết, nhưng chúng hầu như luôn kể cho

chúng ta cùng một câu chuyện về các điều kiện kinh tế Khi GDP tăng trưởng nhanh, thì các chỉ tiêu thu nhập khác cũng tăng nhanh Và khi GDP giảm, thì các chỉ tiêu thu nhập khác

cũng giảm theo Đối với việc theo dõi những biến động của toàn nền kinh tế, thì việc chúng ta

sử dụng chỉ tiêu nào không có ý nghĩa quan trọng

CÁC THÀNH TỐ CỦA GDP

Chi tiêu trong nền kinh tế có nhiều dạng Tại một thời điểm nào đó, gia đình Smith có thể đang ăn trưa tại nhà hàng Burger King; công ty General Motors có thể đang xây dựng một nhà máy sản xuất xe hơi; Hải quân Mỹ có thể đang mua một chiếc tàu ngầm; Hãng hàng

không British Airways có thể đang mua một chiếc máy bay của hãng Boeing GDP bao

gồm tất cả các dạng chi tiêu về những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước

Để hiểu được cách thức sử dụng các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế, các nhà kinh tế

thường quan tâm nghiên cứu cơ cấu chi tiêu của GDP Khi làm như vậy, GDP (chúng ta ký hiệu là Y) được chia làm 4 thành tố: tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu của chính phủ (G), và xuất khẩu ròng (NX):

Y = C + I + G + NX Phương trình trên là một đồng nhất thức - tức một phương trình luôn đúng do cách định nghĩa

các biến số trong phương trình Trong trường hợp của chúng ta, do mỗi đô la chi tiêu nằm

trong GDP đều thuộc một trong bốn thành tố của GDP, nên tổng của bốn thành tố phải bằng GDP

Chúng ta vừa xem một ví dụ về các thành tố của GDP Tiêu dùng được các hộ gia đình chi

tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ, ví dụ bữa trưa của gia đình Smith tại nhà hàng Burger

King Đầu tư là các khoản chi tiêu mua máy móc, thiết bị tư bản, hàng tồn kho, xây dựng nhà

xưởng, hàng tồn kho, ví dụ nhà máy của công ty General Motors Đầu tư cũng bao gồm các khoản chi tiêu để xây dựng nhà ở mới (Theo qui ước, chi tiêu cho nhà ở mới, một dạng chi tiêu của các hộ gia đình, được coi là đầu tư chứ không phải tiêu dùng.) Chi tiêu của chính phủ bao gồm các khoản chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ của các cấp chính quyền địa phương,

bang và liên bang, ví dụ như khoản chi tiêu để mua tàu ngầm của Hải quân Xuất khẩu ròng

bằng các khoản chi tiêu của người nước ngoài để mua hàng hóa sản xuất trong nước (xuất khẩu) trừ đi các khoản chi tiêu của người dân trong nước để mua hàng hóa của người nước ngoài (nhập khẩu) Hoạt động bán hàng của doanh nghiệp trong nước cho người mua ở nước ngoài, ví dụ hoạt động bán máy bay của Boeing cho British Airways, làm tăng xuất khẩu ròng của Mỹ

Từ "ròng" ở đây phản ánh nhập khẩu đã được khấu trừ khỏi xuất khẩu Việc khấu trừ này được thực hiện bởi vì nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nằm trong những thành tố khác của

Trang 8

GDP Ví dụ, một hộ gia đình mua một chiếc xe hơi trị giá 30.000 đô la của hãng Volvo, một

nhà sản xuất xe hơi của Thuỵ Điển Giao dịch này làm tăng tiêu dùng một lượng là 30.000 đô

la, bởi vì khoản chi tiêu để mua chiếc xe hơi này là một thành tố chi tiêu của người tiêu dùng

Nó cũng làm giảm xuất khẩu ròng một lượng là 30.000 đô la, bởi vì chiếc xe hơi đó là hàng

nhập khẩu Nói cách khác, xuất khẩu ròng bao gồm những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất

ra ở nước ngoài (với dấu âm), bởi vì những hàng hóa và dịch vụ này đã nằm trong tiêu dùng,

đầu tư và chi tiêu chính phủ (với dấu dương) Do vậy, khi một hộ gia đình, doanh nghiệp hay

chính phủ trong nước mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngoài, thì khoản chi tiêu đó làm

giảm xuất khẩu ròng - song do nó cũng làm tăng tiêu dùng, đầu tư hoặc chi tiêu chính phủ,

nên nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến GDP

Nội dung "chi tiêu chính phủ" cũng đòi hỏi một vài lời giải thích Khi chính phủ trả tiền

lương cho một viên tướng quân đội, thì khoản lương đó là một phần của chi tiêu của chính

phủ Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi chính phủ chi trả trợ cấp xã hội cho người già? Khoản chi

tiêu này của chính phủ được gọi là chuyển giao thu nhập, bởi vì nó không được thực hiện để

đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ nào Theo quan điểm kinh tế vĩ mô, các khoản chuyển giao thu

nhập giống như khoản miễn giảm thuế Cũng như thuế, chuyển giao thu nhập làm thay đổi

thu nhập của các hộ gia đình, song nó không ảnh hưởng đến giá trị sản xuất của nền kinh tế

Do GDP được sử dụng để tính toán thu nhập (và chi tiêu) cho việc sản xuất hàng hóa và dịch

vụ, nên các khoản chuyển giao không được coi là thành tố chi tiêu của chính phủ

Tổng số (tỷ USD)

Bình quân đầu người (đô la)

Tỷ lệ % trong tổng số

Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ

Bảng 1 GDP và các thành tố của nó Bảng này cho thấy GDP của nền kinh tế Mỹ vào năm

1998 và bốn thành tố của nó Khi đọc bảng này, hãy nhớ rằng Y = C + I + G + NX

Bảng 1 trình bày các thành tố cấu thành GDP của Mỹ trong năm 1998 Trong năm đó, GDP

của Mỹ bằng khoảng 8,5 nghìn tỷ đô la Nếu chia con số này cho 270 triệu người dân nước

Mỹ trong năm 1998, thì chúng ta thấy rằng GDP tính theo đầu người - mức chi tiêu bình quân

của một người Mỹ - là 31.522 đô la Tiêu dùng chiếm khoảng 2/3 GDP, hay 21.511 đô la đầu

người Đầu tư bằng khoảng 5.063 đô la đầu người Chi tiêu của chính phủ là 5.507 đô la đầu

người Xuất khẩu ròng là - 559 đô la đầu người Con số này âm bởi vì người Mỹ kiếm được

từ việc bán hàng hóa và dịch vụ cho người nước ngoài ít hơn chi tiêu để mua hàng hóa và

dịch vụ của Mỹ từ người nước ngoài

Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê bốn thành tố của chi tiêu Thành tố nào lớn nhất?

Trang 9

GDP THỰC TẾ VÀ GDP DANH NGHĨA

Như chúng ta đã thấy, GDP phản ánh tổng chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ trên tất cả

các thị trường của nền kinh tế Nếu tổng chi tiêu tăng từ năm này qua năm khác, thì một trong hai điều sau đây phải đúng: (1) nền kinh tế đang sản xuất ra sản lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn, hoặc (2) hàng hóa và dịch vụ được bán với giá cao hơn Khi nghiên cứu

sự biến động của nền kinh tế theo thời gian, các nhà kinh tế muốn bóc tách hai ảnh hưởng này Cụ thể, họ muốn có một chỉ tiêu về tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế sản xuất ra, mà không bị ảnh hưởng bởi những biến động trong giá cả của những hàng hóa và dịch vụ đó

Để làm được điều này, các nhà kinh tế sử dụng một chỉ tiêu được gọi là GDP thực tế GDP

thực tế trả lời cho câu hỏi lý thuyết: Giá trị của những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong năm nay là bao nhiêu nếu chúng ta định giá chúng theo giá hiện hành của một năm nào

đó trong quá khứ? Bằng cách định giá sản lượng sản xuất hiện tại theo mức giá cố định trong

quá khứ, GDP thực tế cho biết tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế thay đổi

như thế nào theo thời gian

Để có chỉ tiêu về giá trị hàng hóa sản xuất mà không bị ảnh hưởng bởi sự biến động giá cả,

chúng ta sử dụng GDP thực tế, tức sản lượng hàng hóa và dịch vụ được tính theo giá cố định

Để tính GDP thực tế, trước hết chúng ta chọn một năm làm năm gốc Sau đó, chúng ta sử

dụng giá cả của xúc xích và bánh hamburger trong năm gốc để tính giá trị của hàng hóa và dịch vụ cho tất cả các năm Nói cách khác, giá trong năm gốc tạo cơ sở để so sánh sản lượng trong các năm khác nhau

Ví dụ, chúng ta chọn năm 2001 làm năm gốc Chúng ta có thể sử dụng giá của xúc xích

và bánh hamburger trong năm 2001 để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong

năm 2001, 2002, và 2003 Bảng 22.2 trình bày những phép tính này Để tính GDP thực tế

của năm 2001, chúng ta sử dụng giá cả của xúc xích và bánh hamburger trong năm 2001 (năm gốc) và sản lượng xúc xích và bánh hamburger trong năm 2001 (Do vậy, trong năm

gốc, GDP thực tế luôn bằng GDP danh nghĩa.) Để tính GDP thực tế của năm 2002, chúng

ta sử dụng giá xúc xích và bánh hamburger trong năm 2001 (năm gốc) và sản lượng xúc

xích và bánh hamburger trong năm 2002 Tương tự như vậy, để tính GDP thực tế của năm

2003, chúng ta sử dụng giá năm 2001 và sản lượng của năm 2003 Khi thấy GDP thực tế

tăng từ 200 đô la trong năm 2001 lên 350 đô la trong năm 2002 và sau đó là 500 đô la trong năm 2003, chúng ta biết rằng sự gia tăng này hoàn toàn do sự gia tăng của sản lượng, bởi vì giá đã được cố định theo giá của năm gốc

Tóm lại, GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch

vụ, GDP thực tế sử dụng giá cố định trong năm gốc để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Do GDP thực tế không chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả, nên những thay đổi của GDP thực tế chỉ phản ánh sự thay đổi của lượng hàng hóa và dịch vụ Do vậy, GDP thực tế là chỉ tiêu phản ánh lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế

Mục đích của chúng ta khi tính GDP là đánh giá mức độ hoạt động của toàn nền kinh tế Do GDP thực tế phản ánh lượng hàng hóa và dịch vụ, nên nó cũng phản ánh năng lực của nền kinh tế trong việc thoả mãn nhu cầu và nguyện vọng của người dân Vì vậy, GDP thực tế là một chỉ tiêu đánh giá phúc lợi kinh tế tốt hơn GDP danh nghĩa Khi các nhà kinh tế nói về

Trang 10

tăng trưởng của nền kinh tế, họ phản ánh tốc độ tăng trưởng bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của

GDP thực tế từ thời kỳ này sang thời kỳ khác

Chỉ số điều chỉnh GDP

Như chúng ta đã thấy, GDP danh nghĩa phản ánh cả giá cả và sản lượng hàng hóa và dịch vụ

mà nền kinh tế đang sản xuất Trái lại, nhờ giữ cho giá cả ở mức của năm gốc, GDP thực tế

chỉ phản ánh lượng hàng được sản xuất ra Từ hai chỉ tiêu thống kê này, chúng ta có thể tính

được chỉ tiêu thứ ba, gọi là chỉ số điều chỉnh GDP, nó phản ánh giá cả, chứ không phản ánh

lượng hàng hóa và dịch vụ

Chỉ số điều chỉnh GDP được tính như sau:

GDP danh nghĩa

Chỉ số điều chỉnh GDP = x 100

GDP thực tế

Do GDP danh nghĩa và GDP thực tế phải bằng nhau trong năm cơ sở, nên chỉ số điều chỉnh GDP trong năm gốc luôn bằng 100 Chỉ số điều chỉnh GDP trong những năm sau phản ánh

sự gia tăng của GDP danh nghĩa từ năm gốc, không phải sự gia tăng của GDP thực tế

Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá trong năm gốc Để hiểu

được điều này, chúng ta hãy xem xét một vài ví dụ đơn giản sau Trước tiên, hãy tưởng tượng

ra rằng sản lượng của nền kinh tế tăng theo thời gian, nhưng giá cả không đổi Trong trường

hợp này, cả GDP danh nghĩa và GDP thực tế đều tăng với tỷ lệ như nhau, do vậy chỉ số điều chỉnh GDP không thay đổi Bây giờ giả sử rằng thay vào đó, giá cả tăng theo thời gian trong khi sản lượng lại không đổi Trong trường hợp thứ hai này, GDP danh nghĩa tăng nhưng GDP thực tế không đổi, do vậy chỉ số điều chỉnh GDP cũng tăng Chú ý rằng trong cả hai trường hợp, chỉ số điều chỉnh GDP đều phản ánh những gì xảy ra đối với giá cả, chứ không

phải là lượng

Bây giờ hãy trở lại ví dụ của chúng ta trong bảng 22.2 Chỉ số điều chỉnh GDP được tính ở phần cuối của bảng Trong năm 2001, GDP danh nghĩa là 200 đô la, và GDP thực tế là 200

đô la, do vậy chỉ số điều chỉnh GDP bằng 100 Trong năm 2002, GDP danh nghĩa là 600 đô

la, và GDP thực tế là 350 đô la, do vậy chỉ số điều chỉnh GDP bằng 171 Do chỉ số điều chỉnh GDP tăng từ 100 lên tới 171 trong năm 2002, nên chúng ta có thể nói rằng mức giá đã

tăng 71%

Chỉ số điều chỉnh GDP là chỉ tiêu được các nhà kinh tế sử dụng để theo dõi mức giá bình

quân trong nền kinh tế Chúng ta sẽ xem xét một chỉ số khác - chỉ số giá tiêu dùng - trong chương tiếp theo và sẽ trình bày sự khác nhau giữa hai chỉ số này

GDP VÀ PHÚC LỢI KINH TẾ

Trong phần đầu của chương, GDP đã được coi là chỉ tiêu tốt nhất về phúc lợi kinh tế của một

xã hội Giờ đây khi đã biết GDP là gì, chúng ta có thể đánh giá lời khẳng định này

Như chúng ta đã thấy, GDP phản ánh cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu của nền kinh tế để mua hàng hóa và dịch vụ Do vậy, GDP bình quân đầu người cho chúng ta biết thu nhập và

chi tiêu của một người trung bình trong nền kinh tế Do hầu hết mọi người đều muốn nhận

Ngày đăng: 23/11/2014, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. GDP và các thành tố của nó. Bảng này cho thấy GDP của nền kinh tế Mỹ vào năm - bài giảng kinh tế học chương 10 đo lường thu nhập của một quốc gia
Bảng 1. GDP và các thành tố của nó. Bảng này cho thấy GDP của nền kinh tế Mỹ vào năm (Trang 8)
Bảng 3. GDP, tuổi thọ trung bình và tỷ lệ biết chữ. - bài giảng kinh tế học chương 10 đo lường thu nhập của một quốc gia
Bảng 3. GDP, tuổi thọ trung bình và tỷ lệ biết chữ (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm