Chủ đề: Nghiệp vụ Chứng Khoán Hóa I. Tổng quan về chứng khoán hóa CKH là một trong những công cụ tài chính mới, nằm trong TTCK. Hàng hóa của CKH là những CK được phát hành có một số điểm khác biệt và phải có các yêu cầu nhất định: Tương đối đồng đều về lãi suất, kì hạn. Tập hợp phải đủ lớn, tạo được những dòng tiền tại những thời điểm xác định trong tương lai và độc lập tương đối với sự tồn tại hay phá sản của người khởi tạo. II. Các chứng khoán tham gia CKH Quy trình tạo chứng khoán MBS 2. Mô hình chứng khoán hoá trên cơ sở có tài sản cầm cố là các chứng khoán loại MBS (CMO) Khác với MBS, CMO là phương thức CKH đa hạng, nghĩa là các NĐT được phân thành các thứ hạng khác nhau theo một số tiêu chí nhất định về chứng khoán. Hai đặc điểm của phương thức CKH CMO là: Có mức LS coupon của trái phiếu là cố định nhưng khác nhau giữa các hạng trái phiếu khác nhau. Khoản tiền trả trước hạn được sử dụng để thanh toán phần gốc trái phiếu chỉ cho một hạng trái phiếu nhất định, còn các trái phiếu của các hạng khác vẫn được giữ nguyên. Mô hình tạo chứng khoán CMO 3. Mô hình chứng khoán hoá có tài sản thế chấp không qua trung gian (MBB) Tuy nhiên, MBB ít được sử dụng do: THANK YOU
Trang 1Chủ đề: Nghiệp vụ Chứng Khoán Hóa
Trang 2MỤC LỤC
I Tổng quan về Chứng khoán hóa
II Các sản phẩm của Chứng khoán hóa
(MBS, ABS, MBB)
Trang 3I Tổng quan về chứng khoán hóa Khái niệm
Chứng khoán hóa là
gì?
“Chứng khoán hoá là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên các luồng tiền cố định hoặc mang tính chất tuần hoàn của một tập hợp tách biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính Các chứng khoán này tuỳ theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong một khoản thời gian xác định kèm theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với những tài sản được sử dụng nhằm đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỳ các khoản thu được cho người
sở hữu chứng khoán.”
(UBCK Mỹ)
Trang 4CKH là một trong những công cụ tài chính mới,
nằm trong TTCK.
Hàng hóa của CKH là những CK được phát hành
có một số điểm khác biệt và phải có các yêu cầu nhất
định:
Tương đối đồng đều về lãi suất, kì hạn.
Tập hợp phải đủ lớn, tạo được những dòng tiền
tại những thời điểm xác định trong tương lai và độc lập
tương đối với sự tồn tại hay phá sản của người khởi tạo.
Đặc điểm của CKH
Trang 5Các bên tham gia và quy trình CKH tiêu biểu
Người đi vay NHTM
1 Người đi vay và NHTM kí
kết hợp đồng tín dụng
Tổ chức trung gian chuyên trách (SPV)
2 Bên khởi tạo tín dụng (NHTM) tập hợp các khoản vay đủ tiêu chuẩn: cùng thời hạn, LS,… và bán lại cho SPV
Nhà đầu tư
3 Sau khi phân loại, SPV sẽ phát hành chứng khoán dựa trên dòng tiền dự tính dòng tiền của khoản cho vay Có
thể thông qua 2 cách:
Tổ chức bảo lãnh phát hành
Tổ chức định mức tín nhiệm
Tổ chức hỗ trợ thanh khoản
Trang 6Người đi vay NHTM Tổ chức trung gian
chuyên trách (SPV)
Nhà đầu tư
Tổ chức bảo lãnh phát hành
Tổ chức định mức tín nhiệm
Tổ chức hỗ trợ thanh khoản
4 SPV nhận tiền đầu tư từ Nhà đầu tư (trực tiếp hoặc
thông qua Tổ chức bảo lãnh phát hành) và và chuyển cho
NHTM
5 Công ty quản lí tài sản sẽ quản lí danh mục các
tài sản, thu các khoản gốc và lãi từ bên có nhiệm
vụ thanh toán SPV sẽ nhận các khoản tiền đó và
phân phát cho Nhà đầu tư
Trang 7II Các chứng khoán tham gia CKH
CMO
Trang 81 MBS: CKH dựa trên tài sản thế chấp cho vay
Các khoản nợ phải thu của định chế tài chính được đem bán hoặc giao phó cho tổ chức SPV quản lí
SPV sau khi mua lại thì phân tách thành các lô chứng khoán căn cứ vào tính đồng nhất về LS, thời hạn thanh toán,…rồi bán cho công chúng đầu tư nhằm mục đích kiếm lời Để đảm bảo an toàn, SPV thường thuê thêm 1 tổ chức thứ 3 có uy tín đứng ra bảo lãnh.
Khi đến hạn thanh toán, SPV thu tiền người từ người có trách nhiệm trả nợ ban đầu thông qua tổ chức khởi tạo rồi thanh toán gốc, lãi cho NĐT Để việc CKH vận động thông suốt cần có cơ chế tăng cường tín nhiệm.
Phương thức CKH qua trung gian thanh toán (pay-through)
Trang 9 Phương thức CKH qua trung gian chuyển đổi (pass-through)
Về cơ bản giống mô hình Pay-through nhưng có sự khác biệt:
Thứ nhất, Tổ chức tài chính khi bán các khoản nợ cho SPV sẽ không tham gia vào quá trình thanh toán
Thứ hai, SPV phải có nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi cho NĐT chứng khoán
Thứ ba, việc thanh toán gốc và lãi của khoản vay chưa được tách rời như mô hình qua trung gian thanh toán mà thanh toán cả lãi và gốc theo hợp đồng khá phức tạp
Trang 10Quy trình tạo chứng khoán MBS
Bảo hiểm tín dụng thế chấp
Bảo hiểm thanh toán chứng khoán
1 Ngân hàng tạo tín dụng có
thế chấp
5 Khoản thu từ phát hành CK chuyển cho ngân hàng
Phát hành chứng khoán
Nhà đầu tư CK (bảo hiểm nhân thọ,
quĩ hưu trí…)
2 Cty tín thác.
H.toán ngoại bảng khoản tín dụng thế chấp
Trang 112 Mô hình chứng khoán hoá trên cơ sở có tài sản cầm cố là các chứng khoán loại MBS (CMO)
Khác với MBS, CMO là phương thức CKH đa hạng, nghĩa là các NĐT được phân thành các thứ hạng khác nhau theo một số tiêu chí nhất định về chứng khoán Hai đặc điểm của phương thức CKH CMO là:
Có mức LS coupon của trái phiếu là cố định nhưng khác nhau giữa các hạng trái phiếu khác nhau
Khoản tiền trả trước hạn được sử dụng để thanh toán phần gốc trái phiếu chỉ cho một hạng trái phiếu nhất định, còn các trái phiếu của các hạng khác vẫn được giữ nguyên
Trang 12Mô hình tạo chứng khoán CMO
NH tạo tín
dụng có thế
chấp
NH phát hành chứng khoán MBS
Nhà đầutư mua chứng khoán MBS
Cầm cố MBS tại công ty tín thác
Hạng 1
Hạng 2
Hạng 3
Bảo lãnh phát hành
Quá trình phát hành chứng khoán đa hạng CMO tương tự như quá trình CKH kép Khoản tín dụng có thế chấp được khoanh lại và được chuyển ra hạch toán ngoại bảng, trên cơ sở đó ngân hàng (thông qua trung gian) phát hành chứng khoán MBS Những nhà đầu tư chứng khoán MBS như các ngân hàng đầu tư chứng khoán MBS, ngân hàng đầu tư, các ngân hàng thương mại có thể mua toàn bộ hay một phần lớn của đợt phát hành chứng khoán MBS Những người này dùng các chứng khoán MBS làm tài sản cầm
cố tại công ty tín thác để phát hành các chứng khoán CMO.
Trang 133 Mô hình chứng khoán hoá có tài sản thế chấp không qua trung gian (MBB)
Ngân hàng chuyển các khoản cho vay có thế chấp bằng BĐS
Có mối liên hệ trực tiếp giữa các luồng tiền của khoản vay
có thế chấp và các luồng tiền của các chứng khoán
Mối quan hệ này trong MBB chỉ là mối quan hệ cầm cố, không trực tiếp giữa các luồng tiền của khoản vay có thế chấp và các luồng tiền thanh toán lãi suất và gốc trái phiếu
MBB
Trang 143 Mô hình chứng khoán hoá có tài sản thế chấp không qua trung gian (MBB)
Giá trị tài sản cầm cố luôn lớn hơn tổng mệnh giá phát hành MBB
Người nắm giữ các trái phiếu MBB luôn là người có quyền đầu tiên được phân chia tài sản cầm cố nếu như ngân hàng phá sản
Cho nên, các trái phiếu MBB luôn được xếp hạng tín dụng rất cao Do được xếp hạng tín dụng cao, cho nên các trái phiếu MBB có mức lãi suất coupon thấp, đây là một lợi thế rất lớn đối với ngân hàng
Trang 15Tuy nhiên, MBB ít được sử dụng do:
Việc phát hành trái phiếu MBB đã
gắn chặt lâu dài khoản cho vay có thế chấp
trong nội bảng Điều này làm tăng tính
không thanh khoản của tài sản có.
Phải tách số tài sản có thế chấp làm
vật bảo đảm để phát hành MBB lớn hơn
tổng mệnh giá phát hành MBB.
Với việc duy trì các khoản cho vay thế chấp ở nội bảng, ngân hàng phải trả thêm một loại thuế đó là thuế qui chế.
Trang 16THANK YOU
Email: phamlinhlinh8@gmail.com
DANH SÁCH NHÓM NHH
1. Phạm Thị Lý (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Minh Phương
3. Phạm Tân Thế
4. Lưu Thanh Tùng
5. Nguyễn Minh Phương
6. Nguyễn Thị Huế