Do chứng khoán hóa tài sản tài chính là cấu trúc phức tạp có thể dẫn đến phá sản nên cần một tổ chức tài chính chuyên nghiệp SPV phân loại chứng khoán trong trường hợp nhà khởi tạo phá s
Trang 1I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ CHỨNG KHOÁN HOÁ CÁC KHOẢN NỢ
1 Khái niệm chứng khoán hóa (CKH)
Theo OECD (1995)- Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế thì chứng khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải từ khả năng thanh toán của chủ thể phát hành mà bằng nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt Khái niệm này cho thấy: Khả năng sinh lời của tài sản dùng làm đảm bảo sẽ quyết định thu nhập và mức độ rủi ro của chứng khoán phát hành Như vậy, chứng khoán hóa được bảo đảm không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành
Theo Ủy ban Chứng khoán của Mỹ (SEC), chứng khoán hóa là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên dòng tiền cố định hoặc mang tính tuần hoàn của một tập hợp cố định tách biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính Các chứng khoán này tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong khoảng thời gian nhất định kèm theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với tài sản được sử dụng nhằm đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỳ các khoản thu được cho người sở hữu chứng khoán
Do chứng khoán hóa tài sản tài chính là cấu trúc phức tạp có thể dẫn đến phá sản nên cần một tổ chức tài chính chuyên nghiệp (SPV) phân loại chứng khoán trong trường hợp nhà khởi tạo phá sản, đem rao bán trên thị trường chứng khoán Các chứng từ này vẫn nằm trong bảng cân đối tài khoản của ngân hàng dùng để bảo đảm cho việc phát hành trái phiếu
2 Đặc tính các loại tài sản có thể được chứng khoán hóa
Như ta biết cứ doanh nghiệp nào từ doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ cho tới doanh nghiệp đặc biệt như ngân hàng đều nắm giữ rất nhiều các loại tài sản khác nhau Tuy nhiên, không phải bất cứ các loại tài sản nào cũng có thể được chứng khoán hóa Muốn được chứng khoán hóa tài sản phải có những đặc điểm sau:
- Tài sản phải được quy về dòng tiền
Một yếu tố cơ bản của loại tài sản đem chứng khoán hóa là phải phát sinh một dòng tiền từ con nợ Giá trị của mỗi dòng tiền lại phụ thuộc vào phương thức thanh toán như đã thỏa thuận giữa các bên ban đầu, có thể theo phương thức thanh toán gốc đều…Trong thực tế ta thấy các khoản vay có tài sản đảm bảo được thực hiện bằng cách người đi vay sẽ đưungs ra đem tài sản của mình làm vật thế chấp rồi đi vay tiền theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tài sản thế chấp Sau đó theo
kỳ hạn người đó sẽ thanh toán gốc và lãi Và nguyên tắc cơ bản của chứng khoán
Trang 2hóa là phải luôn có một dòng tiền chảy qua giữa người đi vay, người cho vay, trung gian đặc biệt rồi tới nhà đầu tư Nếu trong điều kiện bình thường, hoạt động diễn ra suôn sẽ thì chứng khoán hóa sẽ hoạt động về căn bản là như vậy Tuy nhiên, trong trường hợp lãi suất trên thị trường thấp, người đi vay sẽ tìm cách vay tiền để thanh toán cho ngân hàng, và ngân hàng chịu rủi ro trả trước Người ta cũng có thể chứng khoán hóa khoản phải thu trên thẻ tín dụng vì nó chứa một dòng tiền
- Tính hợp pháp
Để đảm bảo cho các giao dịch chuyển nhượng, điều quan trọng và cần thiết là các loại tài sản có liên quan tới giao dịch chứng khoán hóa phải hợp pháp Tính hợp pháp ở đây có nghĩa tài sản phải được chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của chủ
sở hữu và không có bất cứ sự tranh chấp nào xảy ra khi nhượng bán Và đặc biệt là tài sản không phải nằm trong danh mục hàng cấm của Nhà nước
- Tính nhượng bán
Những tài sản đem thế chấp phải là những tài sản có tính nhượng bán tương đối cao trên thị trường Những tài sản đảm bảo thường là nhà cửa, ô tô…Đặc tính này nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư trong trường hợp người đi vay bị phá sản thì vẫn có những thứ tài sản đảm bảo thanh toán
- Tính phân tán rủi ro
Tài sản đồng thời cũng phải có tính phân tán rủi ro hoặc rủi ro được đảm bảo bởi một tỷ lệ hỗ trợ tín dụng cần thiết Ví dụ, với một khoản vay tiêu dung có giá trị tương đối nhỏ, nếu phát hành chứng khoán trên khoản vay đó thì rủi ro quá lớn, do vậy nếu ngân hàng tập hợp rất nhiều khoản vay lại để chứng khoán hóa thì hoạt động thanh toán của một khoản vay sẽ không làm ảnh hưởng hay bóp méo toàn bộ kết quả thanh toán của toàn bộ danh mục Kết quả là toàn bộ danh mục tài sản có thể coi là 1 tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toán của nó Trong trường hợp một số tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toán của nó Trong trường hợp một số tài sản trong danh mục hoạt động tốt, triển vọng thanh toán cao có ảnh hưởng tích cực tới danh mục tài sản cho vay thì sẽ được phân tích theo hướng làm hấp dẫn toàn bộ danh mục đem chứng khoán hóa
- Tính độc lập với người khởi tạo
Trang 3Đây là một đặc tính quan trọng có tác dụng làm tăng tính hấp dẫn của các chứng khoán phát hành trên tài sản đó Sự tồn tại hay khả năng sinh lời của tài sản hoàn toàn độc lập với sự tồn tại của người khởi tạo, thậm chí ngay cả khi người khởi tạo phá sản Để đảm bảo điều này quá trình lập hợp đồng phải rõ rang, người khởi tạo phải chuyển nhượng hoàn toàn các giấy tờ pháp lý cho trung gian đặc biệt và không được dung tài sản thế chấp nhiều lần vào các mục đích khác Một yếu tố hấp dẫn cho các chứng khoán là trong lần đi vay ngân hàng đã có sự thẩm định tư cách tín dụng của người đi vay, đồng thời mặc dù đã chuyển nhượng các chứng từ liên quan cho SPV nhưng tổ chức khởi tạo vẫn giám sát hoạt động thanh toán của người đi vay để hưởng phí dịch vụ.
- Tính đồng nhất của tài sản
Quá trình chứng khoán hóa được thực hiện khi người khởi tạo tập hợp các loại tài sản khác nhau lại thành danh mục rồi bán cho SPV Tiếp đó, SPV lại tập hợp các danh mục từ các tổ chức khác nhau để phân tích, làm tăng tính hấp dẫn của tài sản rồi từ đó phát hành chứng khoán ra công chúng Tuy nhiên nguyên tắc tập hợp tài sản là phải có tính đồng nhất Ví dụ, không thể gộp các khoản phải thu từ thẻ tín dụng với khoản phải thu từ vay mua nhà thế chấp vì chúng có sự khác biệt lớn về dòng tiền Đặc tính này cũng rất quan trọng Nó yêu cầu bản than tổ chức khởi tạo cũng như SPV phải phân tích, tính toán để tạo được một tập hợp tài sản hợp lý mà
đủ lớn
3 Các thành viên liên quan
Mô hình chứng khoán hóa đơn giản:
- Khách hàng: Là những người có những hợp đồng tín dụng, khoản phải trả …từ các định chế tài chính, ngân hàng thương mại
- Tổ chức khởi tạo
Người khởi tạo là các doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính có những khoản mục tài sản cần chứng khoán hóa Những người khởi tạo vì những mục đích khác nhau mà tiến hành chứng khoán hóa khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sản của mình ví dụ như khoản phải thu, khoản cho vay dài hạn, đầu tư dự án…Một đặc điểm nhận thấy rõ ở đây là bản thân tổ chức khởi tạo không phải là người chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền khi đã chuyển quyền nhận các lợi ích từ tài sản cho Trung gian đặc biệt Do dó, lợi thế đặc biệt khi phát hành các ABS ( Assetss Backed Security) là dù cho xếp hạng tín dụng cảu tổ chức khởi tạo thấp thì vẫn có
Trang 4thể phát hành những chứng khoán có chất lượng cao Đồng thời, do tài sản độc lập với tổ chức khởi tạo nên cho dù tổ chức khởi tạo có vấn đề về tài chính hoặc lâm vào tình trạng phá sản thì vẫn không ảnh hưởng tới sự dịch chuyển của dòng tiền Đây được coi là cơ chế phòng ngừa phá sản trong quá trình chứng khoán hóa.Ngoài ra, việc xếp hạng chứng khoán cao không những giúp giảm chi phí nguồn vốn mà còn cho phép các nhà đầu tư lớn như các công ty bảo hiểm, đối tượng thường bị cấm đầu tư vào tài sản có tính lỏng hoặc xếp hạng thấp, có thể mua các loại chứng khoán này.
- Trung gian đặc biệt ( SPV)
Là một tổ chức độc lập hợp pháp ( thường là các công ty tài chính, AMC, các quỹ tín thác …) với các biện pháp đặc biệt nhằm tăng tính hấp dẫn của các loại chứng khoán phát hành ( SPV) SPV mua lại quyền nhận các khoản phải thu từ tổ chức khởi tạo Trên cơ sở những nhận định về con nợ của người khởi tạo, đồng thời với những phân tích về tư cachs tín dụng riêng đối với các tổ chức khởi tạo lẫn khách hàng vay vốn SPV định ra một mức giá thích hợp cho khoản phải thu mà nó sẽ mua lại Ở đây, SPV sẽ phải quan tâm tới lãi suất khoản vay, các khoản phí liên quan, phần bù rủi ro đối với khoản vay, tài sản thế chấp…Sau đó, trên cơ sở tính toán về thu nhập dự tính và đánh giá rủi ro nó sẽ phát hành chứng khoán có thứ hạng khác nhau ra công chúng đầu tư SPV cũng phải đáp ứng những yêu cầu pháp
lý như vốn pháp định, điều lệ hoạt động
Khi có một sự kiện rủi ro xảy ra dẫn tới sự phá sản của SPV thì những hợp đồng đang thực hiện vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi kết thúc nhưng do 1 SPV khác hoặc tổ chức khởi tạo đảm nhận Đây cũng là một lá chắn bảo vệ các nhà đầu tư tạo ra tính hấp dẫn của chứng khoán
- Nhà đầu tư
Trên thực tế thị trường chứng khoán hóa được phát hành hầu hết là các định chế tài chính hoặc phi tài chính, chỉ một số lượng không lớn các nhà đầu tư cá nhân Các đối tượng này bao gồm: các quỹ hưu trí, quỹ tương trợ, công ty bảo hiểm,… ABS cung cấp cho giới đầu tư một công cụ tài chính có tính an toàn tương đối cao với lợi tực hợp lý mà khó có thể tìm được ở các loại chứng khoán do các tổ chức
có hạng thứ hạng tín dụng thấp phát hành Ngoài ra, số lượng lớn các nhà đầu tư
đã tạo ra một vòng tuần hoàn ảo làm tăng tính lỏng cho thị trường ABS
Trang 5Mô hình chứng khoán hóa đơn giản được mô tả như sơ đồ trên:
- Nhà khởi tạo sẽ thực hiện một hợp đồng tín dụng với khách hàng của mình bằng cách thức cấp một khoản tín dụng K với lãi suất là r1
- SPV sẽ thu mua những hợp đồng tín dụng từ các nhà khởi tạo Theo sự đánh giá
về mức độ rủi ro, SPV sẽ mua lại hợp đồng tín dụng với lãi suất r4 từ nhà khởi tạo Đồng thời SPV sẽ chịu trách nhiệm thu hồi khoản nợ từ khách hàng với lãi suất thõa thuận là r3
- SPV sẽ dùng những hợp đồng tín dụng làm tài sản đảm bảo để phát hành các trái phiếu, với lãi suất trả cho các nhà đầu tư là r4
- Tiền từ việc bán trái phiếu của nhà đầu tư sẽ được SPV mang đi đầu tư sinh lợi.Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi
mà chúng có thể trao đổi qua lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao
4 Điều kiện cần thiết để chứng khoán hóa các khoản nợ
Nhu cầu bán nợ - cung về chứng khoán hóa: Thực tiễn hoạt động của ngân hàng tất
yếu phát sinh nợ trong quá trình giao dịch với các chủ thể khác Các khoản nợ này phát
SPV Nhà đầu tư
(1) K, lãi suất r1
(3) K, Lãi suất r3
(2) K, lãi suất r2
(4) Lãi suất r4 (tỷ suất sinh lợi của chứng khoán)
Trang 6sinh và tổn tại rất đa dạng trong mọi lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế Đồng thời nhu cầu vốn của các tổ chức là rất lớn nên đòi hỏi phải bán nợ để đẩy nhanh vòng tuần hoàn của vốn.
Nhu cầu mua nợ - cầu về chứng khoán hóa: sự xuất hiện nhu cầu mua nợ của các định
chế tài chính đã thay đổi, dần dần trở thành cơ hội kinh doanh của các định chế này Sự khan hiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn, sự hạn chế của các định chế tài chế tài chính trong việc đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao, đồng thời sự dư thừa tư bản đã khiến thị trường chứng khoán ra đời
5 Lợi ích và rủi ro của chứng khoán hóa các khoản nợ
5.1 Lợi ích của chứng khoán hóa
Chứng khoán hóa đem lại rất nhiều lợi ích đối với tổ chức khởi tạo
Trong trường hợp ngân hàng cần tiền mặt thì giải pháp huy động thêm vốn trên thị trường bằng trái phiếu sẽ có chi phí rất cao Để giảm chi phí ngân hàng sẽ dung tài sản mình nắm giữ đem thế chấp để vay từ các định chế tài chính khác
Khi huy động vốn bằng trái phiếu thì sẽ hạch toán nội bảng và bị giới hạn bởi xếp hạng tín dụng của ngân hàng Khi đó việc huy động vốn sẽ có chi phí cao hơn đồng thời tỷ số nợ/ vốn sẽ tăng, rủi ro cao hơn và ảnh hưởng tới xếp hạng của ngân hàng Chứng khoán hóa sẽ giúp hạn chế điều này
- Nguồn tài trợ ngoại bảng tăng lên
Theo quy định thì tiền mặt thu từ bán tài sản được cộng vào tổng tài sản, đồng thời tài sản đã được chuyển nhượng hoặc bán sẽ được hạch toán vào khoản mục ngoại bảng Như vậy, ta thấy khoản cho vay thế chấp chuyển sang tiền mặt, đồng thời trên bảng cân đối vẫn xem khoản mục đầu tư chứng khoán từ chính tài sản đã được chứng khoán hóa của mình
- Tránh được sự suy giảm của thị trường
Trong điều kiện ban đầu ngân hàng có thể đem bán tài sản thế chấp trên thị trường thứ cấp Nhưng để tìm được khách hàng mua với mức giá đúng bằng giá trị thực của tài sản không phải là dễ và ngân hàng sẽ mất một khoản chi phí không phải nhỏ Đặc biệt trong trường hợp thị trường của loại tài sản đó giảm sút thì nguy cơ bán giá thấp là chắc chắn Lúc đó, chứng khoán hóa là một giải
Trang 7pháp hay để bảo toàn giá trị tài sản đợi khi thị trường cho tài sản đó đạt được
độ ổn định
- Cải thiện được tỷ số tài chính
Một ưu điểm của chứng khoán hóa là giúp cho ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn với chi phí không cao mà vẫn duy trì được những chỉ số tài chính Như đã thấy, tỷ số nợ trên vốn cổ phần sẽ không thay đổi, đồng thời một loạt các chỉ số liên quan khác sẽ không bị ảnh hưởng, thậm chí còn được cải thiện như chỉ số phản ánh tính thanh khoản của bảng cân đối
- Cải thiện thứ hạng tín dụng
Một trong những điều kiện cho cấu trúc của chứng khoán hóa là cô lập giữa tài sản của chủ nợ và con nợ Sự tách biệt giữa tài sản có chất lượng tín dụng tốt với yếu tố rủi ro của bản thân doanh nghiệp đã làm cho các chứng khoán phát hành trên cơ sở tài sản bảo đảm có chất lượng tín dụng cao hơn bản thân người chủ sở hữu của nó Sự cải thiện xếp hạng tín dụng đến từ hai nguồn : thứ nhất
là chứng khoán mới phát hành được tài trợ bằng dòng tiền độc lập từ tài sản mà không chịu bất cứ sự can thiệp nào từ người nắm giữ tài sản, điều đó có nghĩa thứ hạng của chứng khoán không hề bị ảnh hưởng bởi thứ hạng của người nắm giữ mà phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của tài sản; thứ hai, việc chuyển nhượng tài sản từ tổ chức khởi tạo sang cho SPV là một giao dịch bán tài sản thật sự và SPV có chức năng tăng cường tính hấp dẫn của chứng khoán làm cho thứ hạng của chứng khoán tăng lên đáng kể
- Quản lý rủi ro tốt hơn
Chứng khoán hóa là một công cụ quản trị rủi ro tiên tiến của ngân hàng Nó cho phép ngân hàng và doanh nghiệp tránh được nhiều rủi ro khác nhau từ rủi
ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cho tới rủi ro hối đoái Bằng cách loại 1 khoản mục tài sản ra khỏi bảng cân đối, tổ chức khởi tạo có thể sẵn sang cho các công cuộc đầu tư mới hoặc sẵn sang đương đầu với một thời kỳ đen tối trước mắt
- Yêu cầu nguồn vốn thấp hơn
Theo nguyên tắc quản lý rủi ro thì các ngân hàng hoặc một số định chế tài chính khác phải có những khoản dự trữ bắt buộc cho tài sản mà nó nắm giữ Mỗi loại tài sản phải được phân thành rủi ro theo thứ hạng và định lượng rủi ro
đó Nói chung, các khoản cho vay thường có mức độ rủi ro lớn nhất.Những
Trang 8khoản vay được xếp hạng cao thường được đánh giá có mức độ rủi ro thấp hơn Các tổ chức nắm trong tay càng nhiều loại tài sản rủi ro bao nhiêu thì yêu cầu dự trữ vốn càng cao.
Việc ngân hàng nắm giữ dự trữ lớn đồng nghĩa với việc được an toàn hơn nhưng lại mất đi các chi phí cơ hội khác
Rõ ràng qua chứng khoán hóa, tổ chức khởi tạo có thể có rất nhiều lợi ích khác nhau Chứng khoán hóa có thể tạo ra hàng loạt các công cụ tài chính năng động từ chứng khoán ngắn hạn, dài hạn cho tới chứng khoán coupon thấp, chứng khoán coupon cao, từ kì hạn hoàn vốn âm hay dương cho tới rủi ro thanh toán trước thõa mãn nhu cầu của giới đầu tư
5.2 Một số rủi ro thường gặp trong chứng khoán hóa
Quá trình chứng khoán hóa nếu không tiến hành thận trọng không những không có lợi cho tổ chức khởi tạo mà còn có thể để lại rủi ro cho tổ chức đó Nếu tài sản dùng để chứng khoán hóa chịu sự bóp méo của thị trường dẫn tới chất lượng chứng khoán không như ý muốn thì sẽ có sự xung đột tiềm ẩn giữa tổ chức khởi tạo, nhà cung cấp và người bảo lãnh
- Rủi ro phải mua lại các chứng khoán đã phát hành
Một ngân hàng người khởi tạo quá trình chứng khoán hóa có thể sẽ chịu sức ép mua lại các chứng khoán đã phát hành nếu tài sản ngừng hoạt động hoặc biểu hiện không tốt Chính quá trình phức tạp của chứng khoán hóa đã tạo ra sức ép đối với tổ chức khởi tạo Việc có khá nhiều thành viên tham gia cùng sự quan tâm rất lớn của công chúng đầu tư đã gây ra sức ép tiềm ẩn Nhưng vấn đề mà
tổ chức khởi tạo lo lắng nhất ở đây là rủi ro trong quá trình chứng khoán hóa đối với các thành viên khác có thể làm ảnh hưởng tới danh tiếng của nó trên thị trường, tạo ra những tiền lệ xấu về sau này
- Rủi ro chất lượng danh mục giảm
Trên thị trường, tổ chức khởi tạo có xu hướng tìm kiếm những nguồn huy động mới Do vậy, đôi khi nó muốn bán đi những tài sản có chất lượng tốt và vị vậy
có xu hướng làm tăng rủi ro trung bình đối với những tài sản còn lại trong danh mục Các nhà đầu tư cùng cơ quan xếp hạng luôn yêu cầu tài sản có chất lượng cao và khuyến khích các tổ chức bán đi những tài sản tốt của mình Thêm vào
đó, trong quá trình chứng khoán hóa với thời gian tương đối dài, ngân hàng
Trang 9phải chịu áp lực từ phía cổ đôn nên thường có xu hướng giảm nhẹ các tiêu chuẩn cho vay để giữ mức độ tăng trưởng Và khi đó, nhiều khoản tín dụng mới đã được chấp nhận không những không làm cho chất lượng danh mục cao hơn mà lại có xu hướng làm giảm chất lượng danh mục, từ đó ảnh hưởng tới tăm tiếng của tổ chức.
- Rủi ro liên quan đến chứng khoán hóa các khoản tín dụng tuần hoàn
Việc chứng khoán hóa các khoản tín dụng tuần hoàn đặc biệt phức tạp vì nó liên quan tới việc phát hành một lượng chứng khoán cố định nhưng tài sản đảm cho nó lại luôn dao động và không có thời gian đáo hạn xác định Vì thế việc quản lý các luồng tiền vào từ khách hàng cho tới việc chuyển cho người nắm giữ chứng khoán rất phức tạp, đòi hỏi phải có những công cụ quản lý cao cấp đảm bảo việc chia sẻ rủi ro giữa các bên trong suốt quá trình chứng khoán hóa.Với những ưu và nhược điểm như trên, chứng khoán hóa được coi như một công
cụ tài chính đặc biệt thõa mãn được yêu cầu của các ngân hàng Nó sẽ là giải pháp tốt cho ngân hàng trong quản lý
Trang 10II THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM
6 Sơ lược về tình hình hoạt động của các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
NHTM ngày càng đóng góp rất nhiều vào quá trình đổi mới cũng như sự phát triển và tăng trưởng của Việt Nam Sau giai đoạn tăng trưởng nóng các ngân hàng hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thử thách và khó khăn khi nợ xấu tăng cao, tăng trưởng tín dụng và tính thanh khoản thấp Nguyên nhân của việc tín dụng tăng trưởng thấp là do sức cầu của nền kinh tế yếu và tồn kho tăng cao Trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm kích thích tăng trưởng như bất động sản (BĐS) gần như là hoàn toàn được đưa ra khỏi nhóm tín dụng phi sản xuất – nhóm cần phải hạn chế cho vay, hạ lãi suất, cho phép tổ chức tín dụng (TCTD) cơ cấu lại nợ cũ cho khách hàng
Về cơ cấu tài sản, ba loại tài sản tài chính của các TCTD là cho vay các tổ chức kinh tế
và cá nhân (chiếm tỷ trọng 51%), tiếp theo là tiền gửi và cho vay tại các TCTD khác (chiếm 22%), và cuối cùng là chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư (chiếm
12%) So với tỷ lệ trong khu vực, tỷ lệ cho vay khách hàng của VN thuộc loại thấp nhất
trong khu vực, trong khi tỷ lệ này ở Úc là 75%, Singapore 61%, Thái Lan 64% và Trung Quốc là 50%
Mặc dù trong thông tư 13 có hiệu lực từ tháng 10/2010 đã có những quy định về tỉ lệ cấp tín dụng trên tổng huy động không được vượt quá 80% đối với ngân hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng khác, song các tổ chức tín dụng đã không thực hiện được và cũng không có chế tài nào xử lý nghiêm minh các tổ chức này
Năm 2009, Việt Nam là nước có tỉ lệ cho vay/huy động tiền gửi trong khu vực cao thứ hai, xấp xỉ Hàn Quốc, và cho đến năm 2010 thì con số này tăng cao đột biến lên trên 131%, cách khá xa so với mức quy định trong thông tư 13 Như vậy có thể nhận thấy hệ
thống ngân hàng thương mại Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với các quốc gia
khác và dễ bị tổn thương hơn nếu như cùng chịu tác động các cú sốc kinh tế từ bên ngoài
Xuất hiện “sai lệch kép” Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Yến (2012, trang 2), sai lệch kép được hiểu là trạng thái xảy ra đồng thời sai lệch về cơ cấu kỳ hạn và sai lệch về
cơ cấu tiền tệ giữa tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối tài sản của một tổ chức Bất
kể sai lệch kép nằm ở đâu, NHTM vẫn là chủ thể sau cùng gánh chịu rủi ro gắn với sai lệch kép.
Trang 11Khi nền kinh tế có những biến động bất lợi nếu sai lêch kỳ hạn ở mức độ lớn sẽ gây ra rủi ro đi kèm cho các ngân hàng như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và dễ dàng đẩy
hệ thống ngân hàng đến rủi ro mất khả năng thanh toán Sai lệch kỳ hạn ở các quốc gia mới nổi và các cuốc gia đang phát triển thường lớn hơn sai lệch kỳ hạn ở các quốc gia
đã phát triển.
Sự mất cân đối về cơ cấu tiền tệ một mặt gây ra rủi ro cho bảng cân đối do những biến động của tỷ giá, mặt khác đem lại rủi ro quốc gia, rủi ro mất khả năng thanh toán, Sai lệch tiền tệ cho dù ở bảng cân đối của ngân hàng hay khách hàng vay vốn thì chủ thể sau cùng gánh chịu rủi ro vẫn là ngân hàng Cũng như sai lệch kỳ hạn, sai lệch tiền tệ ở các quốc gia mới nổi thường lớn hơn sai lệch tiền tệ ở các quốc gia đã phát triển.”
Tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm khoảng 75%, nguy
cơ sai lệch về cơ cấu thời hạn trong bảng cân đối tương đối lớn Sai lệch về cơ cấu đồng tiền tuy có giảm trong vài năm gần đây nhưng mức độ vẫn còn khá lớn và rất nhạy cảm với biến động tỷ giá, lãi suất Tài sản nước ngoài ròng trong NHTM cũng phản ánh rủi ro của khu vực này khi sử dụng nguồn đi vay từ nước ngoài để tài trợ cho các khoản tín dụng trong nước dẫn đến sai lệch tiền tệ
Lợi nhuận năm 2013 của các NHTM nhìn chung giảm so với năm trước ROA và ROE của khối NHTM NN chỉ đạt 0.67% và 7.93%, giảm so với mức 0.79% và 10.34% năm
2012 Tương tự khối NHTM CP cũng chỉ đạt 0.31% và 3.6% (quý III/2012 là 0.49% và 5.1%) Nguyên nhân do tổng tài sản và vốn điều lệ của hệ thống các NHTM vẫn tăng trưởng khá tốt trong năm 2013, trong khi đó tốc độ tăng trưởng lợi nhuận không theo kịp
do tín dụng tăng thấp, lãi suất cho vay giảm nhanh hơn lãi suất huy động khiến chênh lệch lãi sau61t đầu ra-đầu vào giảm mạnh gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.Khả năng cạnh tranh của ngân hàng nước ta chưa cao so với các nước trong khu vực, quy
mô nhỏ, tổng tài sản ở mức thấp Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp so với khu vực, VTC chủ yếu là vốn cấp 1 Ở các quốc gia khác trên thế giới kể cả những nền kinh tế mới nổi,
tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ vốn cấp 1/tổng tài sản “có” rủi ro có một khoảng cách nhất định, tức là vốn cấp 2 vẫn thể hiện được vai trò của mình trong việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn chung Tuy nhiên ở VN, hai tỷ lệ này gần như là không có khoảng cách (11.62% và 10.98%)
Ngoài sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Mặc dù ngân hàng nước ta có lợi thế về mạng lưới, khách hàng truyền thống nhưng kém hơn về năng lực cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài về mức độ hiện đại
Trang 12hoá công nghệ ngân hàng, về nguồn nhân lực, trình độ quản trị hoạt động và vấn đề quản
lý rủi ro
Vần đề sở hữu chéo cũng dẩn đến nhiều hệ luỵ Nguồn lực và khả năng chống đỡ của các ngân hàng không được đánh giá đúng mức, làm sai lệch việc đánh giá rủi ro của hệ thống ngân hàng, gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát, sai lệch tinh thần khi phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro (Khi doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, thay vì xếp khoản vay thành nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro thì ngân hàng này giấu nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu mà nhờ ngân hàng B – ngân hàng có sở hữu chéo - cho vay để đảo nợ)
Trích bài viết “Những mảng màu sáng tối hoạt động ngân hàng 2013” của TS.Trịnh Thanh Huyền Trường Đào tạo & PTNNL
Hết năm 2013, bức tranh hệ thống ngân hàng đã được cải thiện đáng kể với không ít những mảng màu tươi hơn nhưng vẫn chưa đủ để che lấp những mảng màu xám do tích tụ từ những năm trước đây Năm 2013 là quãng thời gian khó khăn nhất trong nhiều năm qua đối với hệ thống ngân hàng Một số điểm nghẽn của nền kinh tế vẫn chưa thông Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều bất ổn nội tại Song, với những nỗ lực thường xuyên, liên tục, cả hệ thống đã bước đầu vượt qua những khó khăn Nhờ đó, không những rủi ro của hệ thống giảm bớt với những chuyển biến tích cực như thanh khoản khả quan hơn, lãi suất huy động đã giảm 2-3%
và lãi suất cho vay giảm 3-5% - ngang bằng mức 2006, mà quá trình tái cơ cấu và kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng đã có những cải thiện đáng kể.
sự trong ngành ngân hàng cũng có sự xáo trộn lớn Song nếu nhìn từ góc độ tích cực thì đây là động thái cần thiết để sàng lọc lại đội ngũ nhân sự ngành ngân hàng vốn được tuyển dụng quá nhiều tại thời điểm “ra ngõ gặp ngân hàng” cách đây 6-7 năm Hơn nữa, môi trường kinh doanh càng khó khăn thì những yêu cầu,
Kinh tế Trung ương và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia tổ chức ngày 14/10/2013