Mục tiêu của học phần: Trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ thuật cơ bản của môn Thể dục và Điền kinh, qua đó giúp sinh viên vận dụng vào tập luyện và thi đấu để nâng cao sức khoẻ,
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1
1 Tên môn học: Giáo dục thể chất 1 – Học phần bắt buộc (Mã
môn học BAS 102).
2 Số tín chỉ: 01
3 Trình độ cho: Sinh viên năm thứ nhất
4 Phân bổ thời gian:
Học
phần
Số tín chỉ
Số giờ
Thời gian
Lý thuyết Thực hành
5 Các học phần trước: Không.
6 Học phần thay thế, học phần tương đương:
Học phần này tương đương với học phần Giáo dục thể chất 1
của chương trình 180 tín chỉ
7 Mục tiêu của học phần:
Trang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ thuật cơ bản của môn
Thể dục và Điền kinh, qua đó giúp sinh viên vận dụng vào tập luyện
và thi đấu để nâng cao sức khoẻ, phát triển các tố chất thể lực Đồng
thời bồi dưỡng cho sinh viên về mặt phẩm chất, ý chí và tinh thần
đoàn kết, sáng tạo trong học tập và lao động
8 Mô tả vắn tắt nội dung môn học: (Tất cả đều được thực hiện
+ Mục đích: Trang bị cho sinh viên những kỹ thuật, động tác cơ bản
trong môn Thể dục cơ bản, qua đó giúp sinh viên áp dụng vào trongtập luyện để nâng cao sức khoẻ
+ Bài thể dục phát triển chung tay không (7 động tác).
+ Các bài tập về đội hình - đội ngũ thông thường.
PHẦN II: ĐIỀN KINH A/ Lý thuyết:
+ Mục đích: Trang bị cho sinh viên những kiến thức, hiểu biết về
môn Điền kinh như:
+ Khái niệm và cách phân loại môn điền kinh.
+ Sơ lược lịch sử phát triển môn Điền kinh.
+ Ý nghĩa và vị trí môn Điền kinh trong hệ thống Giáo dục thể chất ở Việt Nam.
+ Nguyên lý kỹ thuật chạy.
B/ Thực hành:
Trang 2+ Mục đích: Trang bị cho sinh viên những kỹ thuật, động tác cơ bản
trong môn Điền kinh nội dung chạy 100m, qua đó giúp sinh viên áp
dụng vào trong tập luyện để nâng cao sức khoẻ
+ Kỹ thuật chạy cự ly ngắn 100m.
+ Những sai lầm thường mắc và cách sửa.
+ Một số bài tập, trò chơi bổ trợ kỹ thuật, thể lực.
9 Nhiệm vụ của sinh viên:
- Dự lớp > 80% tổng số thời lượng của học phần
- Trang phục gọn gàng
- Chuẩn bị và tham gia tập luyện ngoại khóa
10 Tài liệu học tập:
- Bài giảng môn học Giáo dục thể chất 1 (Thể dục + Điền kinh)
của bộ môn Giáo dục thể chất
- Giáo trình Thể dục – NXB Thể dục thể thao năm 2007
- Giáo trình Điền kinh – NXB Thể dục thể thao năm 2007
- Luật thi đấu Điền kinh – NXB Thể dục thể thao năm 2008
- Các tài liệu có liên quan
11 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên và thang điểm:
* Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
Trang 31 Vị trí của môn Thể dục trong hệ thống Giáo dục Thể chất.
* Khái niệm: Thể dục là một hệ thống gồm những bài tập được
chọn lọc và thực hiện với những phương pháp khoa học, nhằm giải
quyết nhiệm vụ phát triển thân thể toàn diện, hoàn thiện khả năng vận
động
Thể dục Thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa, nhằm đào tạo thế hệ trẻ trở thành con người mới, có tri
thức, có đạo đức và thẩm mỹ, phát triển hoàn thiện về thể chất
Trong quá trình phát triển hệ thống giáo dục TDTT đã hình thành
bốn phương tiện riêng biệt: Thể dục, trò chơi, thể thao và du lịch
Mặc dù khác nhau về sự thực hiện và phương pháp hình thành kỹ
năng vận động, song các phương tiện của TDTT lại thống nhất, hỗ
trợ và bổ sung cho nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ GDTC Thể
dục được xem như là bộ phận cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong phát triển và hoàn thiện thể chất
* Nhiệm vụ của thể dục bao gồm:
- Phát triển cân đối thể hình, hoàn thiện các chức năng của cơ thể,
tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ
- Bổ trợ cho sự hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần
thiết trong đời sống và khả năng vận động chuyên môn thể dục
- Góp phần giáo dục ý chí, phẩm chất đạo đức và thẩm mỹ
* Ý nghĩa và tác dụng của thể dục:
Môn thể dục có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục ban đầu Do
nội dung và phương pháp phong phú của thể dục mà nhiệm vụ GDTC
cho lứa tuổi học sinh, sinh viên sẽ được giải quyết một cách có kếtquả, tạo cơ sở để tiếp tục phát triển cơ thể, cũng như khả năng vậnđộng
Thể dục thích hợp với mọi lứa tuổi và giới tính: trẻ em, thiếuniên, người lớn, nam, nữ, người đã có trình độ tập luyện, người mớitập, người khỏe, kể cả những người yếu và có bệnh tật
Nội dung và phương pháp của thể dục rất phong phú, đặc điểmnày làm cho thể dục có ảnh hưởng toàn diện đến việc phát triển cơthể người tập, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển có chọn lựa đốivới các bộ phận của cơ thể
Thể dục có tác dụng rất lớn đến rèn luyện sức khỏe con người, làbiện pháp tích cực có hiệu quả cao để kéo dài tuổi thọ, duy trì khảnăng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Nhiều nhà khoa học nổitiếng như: I.M.Sétsênốp, I.P.Páplốp…đã coi thể dục là phương pháptốt nhất để nâng cao khả năng hoạt động bình thường của con người,nâng cao khả năng làm việc, tăng cường sức khỏe và là biện phápnghỉ ngơi tích cực
Thể dục còn có ý nghĩa thực dụng rất lớn Tập luyện thể dục sẽtiếp thu, củng cố và hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo vận động cầnthiết trong đời sống như: Đi, chạy, nhảy, ném…và có tác dụng bổ trợcho lao động, học tập và chiến đấu Thể dục không chỉ có tác dụngphát triển thể lực toàn diện mà còn có tác dụng phát triển thể lựcchuyên môn để đạt đến những thành tích cao trong thể thao Thể dụccòn có giá trị thẩm mỹ vì bản thân nó là môn vận động luyện hình
Trang 4dáng, rèn tư thế và phát triển cân đối cơ thể, không những thế thể dục
còn thể hiện tính nghệ thuật trong hình tượng và nhịp điệu, phong
thái và khả năng diễn cảm
Thể dục bao gồm nhiều yếu tố giáo dục và rèn luyện con người
về đạo đức, ý chí, tác phong cũng như về cá tính Những đức tính ấy
được thể hiện sinh động và thường xuyên thông qua việc thực hiện
các bài tập một cách nghiêm túc, dũng cảm, tỷ mỉ và chính xác, qua
yêu cầu nặp lại động tác nhiều lần, sửa chữa tỷ mỷ các chi tiết động
tác chưa hợp lý và nâng cao chất lượng động tác Thực hiện được yêu
cầu ấy không thể chỉ dựa vào cảm giác chủ quan mà cần có sự trợ lực
của người hướng dẫn và đồng đội trong việc giúp đỡ và bảo hiểm,
nhờ vậy thể dục giáo dục tình đồng chí, ý thức tập thể
Thể dục là một môn tiêu biểu cho sự kết hợp giữa trí dục và thể
dục Quá trình giảng dạy thể dục được đặt trên cơ sở phân tích và
tổng hợp vận động, trong việc giáo dục khả năng chủ động điều khiển
hoạt động của cơ thể và hình thành nhiều mối liên kết vận động mới,
cũng như trong sự phát triển những khả năng vận động sẵn có Tất cả
những điều đó sẽ kích thích hoạt động trí tuệ của người tập, tăng
thêm tính tích cực của hoạt động chí óc, xúc tiến các quá trình hưng
phấn và ức chế cũng như động viên các chức năng của hệ thần kinh
Để đạt được mục đích đó nhưng bài thể dục cơ bản cần đượcchọn lựa hợp lý, chính xác và tập luyện một cách khoa học sẽ có tácdụng toàn diện đối với người tập Thể dục cơ bản có nhiệm vụ tăngcường sức khỏe, thúc đẩy sự phát triển bình thường của các cơ quan
và hệ thống; hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tốchất thể lực
Nhờ thực hiện các bài tập thể dục cơ bản mà khả năng ghi nhớ và
tư duy về hoạt động vận động được phát triển, đồng thời cũng có tácdụng tốt tới trạng thái tâm lý của người tập Thể dục cơ bản còn làmột trong những biện pháp quan trọng để rèn luyện, phát triển các tốchất thể lực và là bước “quá độ” tiến tới hoạt động thể thao
Trong quá trình tập luyện thể dục cơ bản sẽ hình thành ở ngườitập các kỹ năng, kỹ xảo vận động thực dụng như: đi, chạy, nhảy,…Những kỹ năng, kỹ xảo vận động trên sẽ làm phong phú khả năng
Trang 5vận động của con người, khi tham gia các hoạt động lao động và sinh
hoạt
Các nội dung của thể dục cơ bản gồm:
- Các bài tập đội hình, đội ngũ
- Các bài tập phát triển chung
- Các bài tập thực dụng
- Các bài tập treo và chống đơn giản
- Các bài tập nhào lộn đơn giản
- Các bài tập nhảy (đơn giản, vượt chướng ngại vật)
2.3 Các bài tập phát triển chung và đội hình, đội ngũ.
* Các bài tập phát triển chung:
Là những động tác thực hiện riêng từng bộ phận hoặc phối hợp
nhiều bộ phận của cơ thể, được sắp xếp theo quy luật nhất định phù
hợp với mục đích lựa chọn Bài tập phát triển chung có thể làm với
đạo cụ trên dụng cụ hoặc chỉ bằng tay không
Tác dụng: Nâng cao năng lực vận động chung, uốn nắn cơ thể
hoặc có thể dùng để tạo tác động riêng biệt với bộ phận nào đó của cơ
thể Kỹ năng của bài tập phát triển chung là cơ sở để tiếp thu các kỹ
thuật cao của các môn thể thao Sử dụng bài tập phát triển chung dễ
điều chỉnh lượng vận động và dễ thay đổi cấu trúc nên được sử dụng
rộng rãi trong các môn thể thao
* Bài tập đội hình, đội ngũ.
Đội hình, đội ngũ là một trong những nội dung tập luyện thể dục,
thường được sử dụng trong quân sự và TDTT Đối với học sinh, sinh
viên còn dùng để rèn luyện những phẩm chất đạo đức, ý chí, kỷ luật,tác phong nhanh nhẹn tháo vát
Đội ngũ: Là sự sắp xếp vị trí tương quan giữa từng người, từng
tổ, từng đơn vị với nhau trong một tập thể
Nội dung của đội ngũ bao gồm: Các hình thức tập luyện tại chỗ
và di động với các bài tập kỹ thuật đơn giản VD: Tập hợp, điềuchỉnh hàng, đi đều,…
Đội hình: Là một tập thể người được sắp xếp theo một hình khối
như vòng tròn, hàng ngang, hàng dọc,…nó cũng chỉ sắp xếp vị trítương quan giữa từng người, từng nhóm, tổ, đơn vị trong một tập thểnhưng có sự di chuyển biến hóa, dãn hàng VD: Các đội hình vòngtròn, di chuyển gấp khúc, xoắn ốc,…
Mối quan hệ giữa đội hình và đội ngũ: Đội hình, đội ngũ có
mối quan hệ rất chặt chẽ Trong đội ngũ có những nhân tố của độihình và ngược lại, nhưng không có đội ngũ thì không có đội hình.Đội ngũ là hình thức tập luyện đội hình, đội hình có nhiều hình thứctập luyện phong phú, biến hóa
* Ý nghĩa của tập luyện đội hình, đội ngũ:
- Nhằm rèn luyện ý thức tập thể, hợp đồng, ý thức tổ chức kỷ luật
- Tạo tư thế đúng, đẹp và tác phong nhanh nhẹn hoạt bát
- Giúp cho việc tổ chức học tập và luyện tập các môn thể thao,bồi dưỡng những kỹ thuật, chiến thuật, thể lực cần thiết trong chiếnđấu, đồng thời là hình thức tổ chức, tập hợp quần chúng, biểu dươnglực lượng
Trang 6B/ THỰC HÀNH
1 Bài thể dục phát triển chung tay không: 7 động tác.
* Động tác Vươn thở:
TTCB (Tư thế chuẩn bị): Đứng nghiêm.
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang rộng bằng vai, đưa 2 tay
lên cao, chếch chữ V, lòng bàn tay hướng vào nhau, ngực ưỡn, đầu
ngửa Hít vào từ từ
+ Nhịp 2: 2 tay đưa xuống dưới và bắt chéo nhau trước bụng,
đầu cúi Thở từ từ ra
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang, trọng tâm dồn đều vào 2
chân; 2 tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa, mắt nhìn thẳng Hít vào
+ Nhịp 2: 2 tay gập trước ngực đồng thời giật về sau, lòng bàn
tay sấp, khuỷu tay ngang vai
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang rộng bằng vai, trọng tâm
dồn đều vào 2 chân; 2 tay dang ngang, lòng bàn tay ngửa
+ Nhịp 2: Trọng tâm dồn sang chân phải, nghiêng người sang
trái, tay chống hông, tay phải đưa lên cao áp sát tai, chân trái kiễnggót Hít vào
+ Nhịp 1: Chân trái bước sang ngang rộng bằng vai, 2 tay đưa ra
trước, long bàn tay sấp
+ Nhịp 2: Vặn mình sang trái, tay trái vung rộng hết biên độ
sang ngang – ra sau, bàn tay ngửa; tay phải gập trước ngực, bàn taysấp Mắt nhìn theo bàn tay trái Hít vào
+ Nhịp 2: Chân trái đá ra trước, đồng thời 2 tay đưa ra trước,
lòng bàn tay úp, mắt nhìn theo tay Thở ra
Trang 7+ Nhịp 2: Gập người nghiêng về phía trước, bàn tay phải vươn
chạm cổ chân trái, tay trái đưa ra phía sau lên cao Thở ra
+ Nhịp 3: Vươn người lên trở về nhịp 1 Hít vào.
+ Nhịp 4: Trở về TTCB Thở ra.
+ Nhịp 5, 6, 7, 8: Như nhịp 1, 2, 3, 4 nhưng đổi bên.
* Động tác Nhảy:
TTCB: Đứng nghiêm.
+ Nhịp 1: Bật thẳng lên cao và đứng giạng chân, tay dang
ngang Hít vào nhanh
+ Nhịp 2: Bật thẳng lên cao và đứng chụm chân, hạ tay xuống
sát người Thở ra nhanh
+ Các nhịp tiếp theo lặp lại như nhịp 1, 2 cho đến hết 8 nhịp
2 Bài tập Đội hình – Đội ngũ thông thường:
2.1 Những bài tập đội ngũ: Đội ngũ tại chỗ và di chuyển
* Tập hợp 1 hay nhiều hàng ngang:
+ Khẩu lệnh: “Thành 1, 2, 3… hàng ngang – tập hợp”
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Sau khi chọn được vị trí, phương hướng
thích hợp, người chỉ huy quay về phía người tập phát khẩu lệnh.Đứng vào vị trí đã chọn, tay phải nắm hờ, giơ cao
Nghe khẩu lệnh, tất cả người tập nhanh chóng di chuyển vàđứng về phía tay trái cùng hướng với người chỉ huy, theo thứ tự, dãncách nhau một nắm tay (15cm) giữa khuỷu tay hai người đối với độihình bình thường
Sau khi người thứ nhất đã đứng đúng vị trí yêu cầu, người chỉhuy hạ tay xuống và bước ra chỉ huy
Khi tập hợp từ hai hàng ngang trở lên thì các hàng thứ 2, thứ 3,
…đứng tiếp sau hàng thứ nhất với cự ly một cánh tay (từ 75-80cm).Người đầu hàng sau, đứng sau người thứ nhất hàng trước đó
* Tập hợp 1 hay nhiều hàng dọc:
+ Khẩu lệnh: “Thành 1, 2, 3… hàng dọc – tập hợp”
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Sau khi chọn được vị trí, phương hướng
thích hợp, người chỉ huy quay về phía người tập phát khẩu lệnh.Người tập nhận lệnh xong nhanh chóng di chuyển về đứng saungười chỉ huy thành một hàng dọc, theo thứ tự với cự ly một cánh tayKhi tập hợp 2, 3,…hàng dọc, người chỉ huy luôn đứng đầu hàngbên phải, những người đầu hàng thứ 2, thứ 3,…đứng ngang bên tráicùng hướng với người số 1 hàng trước đó Với giãn cách một nắm tay
* Động tác nghiêm
+ Khẩu lệnh: “Nghiêm”
Trang 8+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Người tập đang đứng trong đội ngũ, nghe
khẩu lệnh “Nghiêm” của người chỉ huy, người tập lập tức chụm hai
gót chân sát nhau trên một đường thẳng ngang (trục phải-trái) Hai
bàn chân mở rộng khoảng 600 Trọng tâm dồn đều vào hai chân, bụng
hơi hóp lại, hai vai ngang và hơi kéo về sau (ngực mở), tay duỗi sát
sườn, ngón tay khép, mắt nhìn thẳng về trước Toàn thân có độ căng
cơ nhất định
* Động tác nghỉ:
+ Khẩu lệnh: “Nghỉ”
+ Yếu lĩnh kỹ thuật:
- Tư thế thứ nhất (dùng trong đội hình bình thường) Đứng thoải
mái, trọng tâm dồn vào một chân, chân kia thả lỏng và hơi trùng khớp
gối Thân trên vẫn giữ thảng, khi mỏi có thể đổi chân
- Tư thế thứ hai (dùng cho đội hình giãn rộng) chân trái bước
qua trái một bước, đứng thoải mái, trọng tâm dồn đều vào hai chân
Hai bàn tay nắm lấy nhau ở phía sau lưng
* Động tác dóng hàng ngang:
+ Khẩu lệnh: “Nhìn phải – thẳng”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Khi nghe động lệnh người đầu hàng đứng
nghiêm Tất cả những người bên trái quay đầu sang phải 450, liếc
nhìn và điều chỉnh hàng ngang cho thẳng và đùng giãn cách Người
chỉ huy kiểm tra, chỉnh hàng xong và hạ khểu lệnh “Thôi” mới quay
mặt về tư thế đứng nghiêm như ban đầu
* Động tác dóng hàng dọc:
+ Khẩu lệnh: “Nhìn trước – thẳng”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Nghe động lệnh người đứng đầu vẫn đứng
nghiêm, những người đứng sau nhanh chóng điều chỉnh hàng, mắtnhìn thẳng vào gáy người đứng trước, đảm bảo đúng cự ly quy định.Người chỉ huy kiểm tra, chỉnh hàng xong và hạ khểu lệnh “Thôi”trong hàng trở về tư thế đứng nghiêm như ban đầu
* Động tác điểm số:
Tùy theo mục đích, yêu cầu bài tập mà điểm số hàng ngang hayhàng dọc cho phù hợp
+ Điểm số hàng ngang:
- Khẩu lệnh: “Từ trái qua phải (hoặc phải qua trái) – điểm số”.
- Yếu lĩnh kỹ thuật: Khi nghe khẩu lệnh người tập lần lượt hô to,
rõ số của vị trí mình đang đứng, đồng thời quay đầu sang trái (phải)
về phía người đứng bên cạnh Sau đó quay về tư thế đứng nghiêm.Người tiếp theo cũng thực hiện như vậy để báo số của mình Ngườicuối cùng báo số không phải quay đầu mà phải hô tiếp “hết” để báocho chỉ huy biết điểm số đã xong
+ Điểm số hàng dọc:
- Khẩu lệnh: “Từ trên xuống dưới - điểm số”.
- Yếu lĩnh kỹ thuật: Khi nghe khẩu lệnh người tập lần lượt từ
trên xuống dưới hô to, rõ số của vị trí mình đang đứng, đồng thờiquay đầu qua phải hướng về người đứng sau để báo cho họ biết, sau
đó quay về tư thế đứng nghiêm Người tiếp sau cũng thực hiện nhưvậy để báo số của mình Người cuối cùng báo số vị trí của mình
Trang 9không phải quay đầu mà phải hô tiếp “hết” để báo cho chỉ huy biết
toàn hàng đã điểm số đã xong
* Động tác quay phải (trái)
+ Khẩu lệnh: “Bên phải (trái) – quay”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Nghe động lệnh người tập chuyển trọng tâm
sang chân phải (trái) dùng gót làm trụ Phối hợp với nửa trước bàn
chân trái (phải) đẩy toàn thân quay phải (trái) 900 thân trên vẫn giữ
thẳng (nhịp 1) Sau đó thu chân trái (phải) về đặt sát chân phải (trái)
thành tư thế đứng nghiêm (nhip 2)
* Quay đằng sau:
+ Khẩu lệnh: “Đằng sau – quay”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Như động tác quay phải nhưng thực hiện
với góc quay 1800
* Động tác báo cáo của người chỉ huy:
+ Khẩu lệnh: Khẩu lệnh của người chỉ huy dài hay ngắn tùy
theo mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể nhưng cần phải đầy đủ,
không dài dòng
VD: “Báo cáo giáo viên lớp I2, tổng số 49 người, có mặt 45,
vắng 4, đã đến giờ, mời giáo viên lên lớp Báo cáo hết
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Sau khi đơn vị tập hợp, người chỉ huy dóng
hàng, đi kiểm tra, chỉnh hàng xong cho người tập về tư thế đứng
nghiêm bằng khẩu lệnh “thôi”
Tiếp theo người chỉ huy đi hoặc chạy đều (trường hợp đội hình
lớn, đứng xa giáo viên) đến trước mặt giáo viên với cự ly thích hợp
để báo cáo Báo cáo xong được lệnh của giáo viên chỉ huy mới quay
về đứng cạnh bên phải người đầu hàng thứ nhất
* Động tác dậm chân tại chỗ:
+ Khẩu lệnh: “Dậm chân tại chỗ - bước”.
+ Yêu lĩnh kỹ thuật: Nghe động lệnh, người tập nhấc chân trái
lên cách mặt đất khoảng 20cm, rồi hạ xuống vị trí lúc đầu bằng nửatrước bàn chân (vào nhịp 1) rồi đặt tiếp gót chân xuống Sau đóchuyển trọng tâm sang chân trái và nhấc chân phải lên, đặt xuống nhưchân trái (vào nhịp 2)
Cứ như vậy lần lượt từng chân một, thực hiện nối tiếp nhau,thân người vẫn thẳng, giữ nguyên vị trí, hai tay phối hợp năng tựnhiên
* Động tác đi đều thể thao:
+ Khẩu lệnh: “Đi đều – bước”.
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Bước đi theo nhịp thống nhất do chỉ huy hô
hoặc nhịp nhạc 2/4 Dứt động lệnh người tập bước chân trái trước vàonhịp 1
- Chân nhấc cao hơn mặt đất từ 15-20cm
- Trước khi đặt chân khớp gối duỗi thẳng
Trang 10- Khi đánh ra trước, cánh tay vuông góc với thân, cẳng tay
vuông góc với cánh tay, cao gần ngang vai, bàn tay nắm hờ hướng
xuống dưới
- Tay đánh ra sau duỗi thẳng gần sát thân, bàn tay nắm hờ
hướng vào thân, hai vai thả lỏng
* Động tác đứng lại:
+ Khẩu lệnh: “Đứng lại – đứng”.
+ Yêu lĩnh kỹ thuật: Động lệnh “Đứng” rơi vào nhịp 2 chân
phải Nghe động lệnh người tập bước chân lên một bước (nhịp 1),
trọng tâm dồn vào chân trái, chân phải thu về ngang sát với chân trái
(nhịp 2) Cử động của tay cũng dừng lại theo cử động của chân và kết
thúc động tác ở tư thế đứng nghiêm
Đứng lại trong dậm chân tại chỗ cũng được thực hiện tương tự
* Động tác đổi chân tại chỗ khi đang đi đều:
Trong đi đều nếu bị nhầm nhịp: Chân trái bước vào nhịp 2,
người tập phải tự đổi chân
+ Yếu lĩnh kỹ thuật: Chân sau bước lên một bước nhỏ sát gót
chân trước, nhanh chóng bước chân trước lên trước một bước (tiến
hành 2 bước đó trong một nhịp) rồi tiếp tục các bước theo nhịp bình
thường
Khi đổi chân, hoạt động của tay ngừng đánh một nhịp
2.2 Những bài tập đội hình:
* Dàn hàng:
+ Khẩu lệnh: “A làm chuẩn – dãn cách một cánh tay – dãn ra”
+ Cách thực hiện: Nghe khẩu lệnh, người làm chuẩn tay phải nắm hờ
và giơ cao cho mọi người nhìn thấy và hô “có” Sau đó tất cả cùngdang ngang hai tay sao cho đầu ngón tay các thành viên trong hànggần chạm nhau (đối với hàng ngang) khi nào chỉ huy hô “thôi” mới
bỏ tay xuống
Trường hợp hàng dọc khẩu lệnh sẽ là: “A làm chuẩn – cự ly mộtdang tay – dãn ra”
+ Cách thực hiện: Nghe khẩu lệnh toàn hàng quay sang phải 900
và thực hiện dàn hàng như trường hợp đối với hàng ngang Đến khinghe hô “thôi” mới bỏ tay xuống và quay về hướng cũ
Chú ý: hàng ngang di chuyển theo bước dồn.
Trường hợp nhiều hàng ngang thì hàng ngang có người làmchuẩn dàn hàng trước Sau đó hàng dọc có người làm chuẩn thực hiệndàn hàng như đối với hàng dọc
Tất cả những người ở các hàng sau lấy hàng dọc và ngang cóngười làm chuẩn để điều chỉnh hàng của mình
* Dồn hàng:
+ Khẩu lệnh: “A làm chuẩn – tất cả dồn lại”.
+ Cách thực hiện: A đứng nghiêm, tay phải nắm hờ, giơ cao và
hô “có” để mọi người biết hướng và tự động dồn hàng lại về hướngngười làm chuẩn Phải đảm bảo hàng ngũ và cự ly giãn cách
* Đội hình 4 – 2 – 0
- Khẩu lệnh thứ nhất: “Từ phải qua trái 4 – 2 – 0 – điểm số”.
Hàng ngang điểm số song, chỉ huy hạ tiếp khẩu lệnh thứ hai:
Trang 11“Theo số đã điểm đi đều - bước”.
+ Cách thực hiện: Nghe động lệnh “ bước” tất cả đi thẳng về
phía trước với số bước bằng đúng số mình đã điểm (số 4 đi bốn
bước, số 2 đi hai bước, số 0 đứng yên) Sau khi bước đủ số bước của
mình, các số thực hiện một nhịp thu chân, điều chỉnh hàng ngang và
+ Các bước thực hiện: Nghe dự lệnh “về vị trí cũ” các số đã tiến
(trừ số 0) cùng quay 1800 (không thu chân trái), dứt động lệnh “bước”
các số trên tiến về vị trí cũ với số bước như đã tiến lên Khi gót chân
ngang với những người hàng số “0” thực hiện một nhịp thu chân về
đứng nghiêm, sau đó thực hiện động tác quay sau
* Đội hình 9-6-3-0: Cách biến hóa giống đội hình 4 – 2 – 0
PHẦN 2: ĐIỀN KINH A/ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm và phân loại môn Điền kinh:
1.1 Khái niệm:
Điền kinh là một môn thể thao bao gồm các nội dung: Đi bộ,Chạy, Nhảy, Ném đẩy và nhiều môn phối hợp
Điền kinh, từ chính thức được dùng ở nước ta, thực chất là một
từ Hán - Việt được dùng để biểu thị những hoạt động tập luyện và thiđấu ở trên sân (Điền) và trên đường chạy (Kinh) Nó có ý nghĩatương ứng với từ Aletic trong tiếng Hy Lạp cổ, Athnetics trong tiếnganh Một số nước trên Thế giới (Nga, Bungari…) còn dùng từ “Điềnkinh nhẹ” để phân biệt với môn Cử tạ “Điền kinh nặng”
1.2 Phân loại:
Điền kinh là một môn Thể thao có nội dung rất phong phú, đadạng Để tiện cho việc giảng dạy, …người ta phân loại Điền kinhtheo hai cách chủ yếu sau
* Cách 1: Phân loại theo nội dung:
Điền kinh được chia thành 5 nội dung chính, gồm: Đi bộ - Chạy– Nhảy – Ném đẩy – Nhiều môn phối hợp
* Cách 2: Phân loại theo tính chất hoạt động:
- Có chu kỳ ( đi bộ và chạy )
- Không có chu kỳ (ném đẩy, nhảy, nhiều môn phối hợp)
Trong mỗi nội dung có rất nhiều các môn cụ thể được phân biệttheo cự ly hoặc theo đặc điểm vận động
Trang 122 Sơ lược lịch sử phát triển môn Điền kinh.
2.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển môn Điền kinh.
Đi bộ, chạy, nhảy và ném đẩy là những hoạt động tự nhiên của
con người Những hoạt động này ngày càng được hoàn thiện cùng
với sự phát triển của xã hội loài người Từ những hoạt động với mục
đích di chuyển, tìm kiếm thức ăn, tự vệ và phòng chống thiên tai, dần
dần hình thành các trò chơi vận động, các cuộc thi đấu và nó đã thu
hút mọi người tham gia tập luyện
Lịch sử phát triển của môn Điền kinh được ghi nhận trong cuộc
thi đấu chính thức vào năm 776 trước Công Nguyên Năm 1837 tại
thành phố Legbi (Anh) cuộc thi đấu 2km lần đầu tiên được tổ chức
Từ năm 1851 các môn chạy tốc độ, chạy vượt chướng ngại vật, nhảy
cao, nhảy xa, ném vật nặng bắt đầu được đưa vào chương trình thi
đấu ở các trường đại học ở nước Anh
Năm 1880, Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư nước Anh ra đời Đây
là liên đoàn Điền kinh nghiệp dư đầu tiên trên Thế giới Từ năm 1880
đến 1890 môn Điền kinh phát triển mạnh ở nhiều nước như: Pháp,
Mỹ, Đức, Na Uy, Thụy Điển và các liên đoàn Điền kinh quốc gia lần
lượt được thành lập ở hầu hết các châu lục
Từ năm 1896 việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của
đại hội thể thao Olympic đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
việc phát triển môn Điền kinh
Từ Đại hội thể thao Olympic Aten (Hy lạp 1896) Điền kinh đã
trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu tại các đại hội
thể thao Olympic Năm 1912 Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tếIAAF ra đời Đây là tổ chức cao nhất lãnh đạo phong trào Điền kinhtoàn thế giới Hiện nay Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế đãđược đổi tên thành Hiệp hội quốc tế các liên đoàn Điền kinh và vẫn làIAAF IAAF hiện nay có 209 thành viên là các liên đoàn Điền kinhquốc gia và các vùng lãnh thổ ở các Châu lục, trong đó có liên đoànĐiền kinh Việt Nam Hiện nay trụ sở của IAAF đặt tại MONACO
2.2 Vài nét về Điền kinh Việt Nam.
Trong lịc sử hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữnước của dân tộc Việt Nam, tổ tiên của chúng ta đã rất quen thuộcvới các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy Động lực phát triểnmôn Điền kinh đã tiềm ẩn trong lịch sử sinh tồn, dựng nước và giữnước của dân tộc Việt Nam
Trong thời gian dài thực dân Pháp đô hộ nước ta, môn Điền kinhphát triển rất chậm và yếu ở cả Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Thànhtích thi đấu còn rất thấp như: Chạy 100m Nam: 11,33 giây, chạy1500m Nam: 4 phút 56 giây, đẩy tạ Nam: 10,45 mét Từ năm 1945 –
1954 các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy như một động lựcphát triển môn Điền kinh trong tương lai, lại được vận dụng nhiềutrong chiến tranh giữ nước
Từ 10/1954 đến 5/1975 ở Miền nam nước ta môn Điền kinh vẫnđược phát triển, tuy tốc độ chậm và ít được chú trọng như môn Bóng
đá, Tenis…Tuy vậy so với thời kỳ Pháp đô hộ nước ta, nội dung thiđấu Điền kinh đã phong phú hơn, bao gồm hầu hết các môn thi đấu
Trang 13quy định trong đại hội thể thao Olympic quốc tế Ở thời kỳ này, miền
Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Chính phủ ta rất quan tâm phát triển
thể dục thể thao Phong trào tập luyện môn Điền kinh trong nhân dân
được phát triển tương đối rộng rãi Các phong trào “chạy, nhảy, bơi,
bắn, võ”, “ Rèn luyện chạy vì miền Nam ruột thịt”….Được nhân dân
hưởng ứng không phải chỉ để tăng cường sức khỏe, mà còn để tăng
cường ý chí chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ở miền
Bắc nước ta đã thành lập Đội tuyển Điền kinh quốc gia “chuyên
nghiệp” ( có bậc lương nhà nước và các tiêu chuẩn khác) tại “Trường
huấn luyện kỹ thuật thể thao Trung ương” (Nay là trung tâm huấn
luyện thể thao quốc gia 1) Ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng
Sơn, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Ninh và nhiều tỉnh thành khác
đều có đội tuyển Điền kinh “chuyên nghiệp” Một số ngành như
Quân đội, Đường Sắt … cũng có những vận động viên “chuyên
nghiệp” Điền kinh Hầu hết các đội Điền kinh đều quan tâm đào tạo
vận động viên trẻ kế cận Chính vì vậy, từ khoảng 1959 – 1969 hàng
năm đều có từ 3-5 cuộc thi đấu Điền kinh của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa Thành tích các môn Điền kinh có trong chương trình
thi đấu của đại hội thể thao Olympic quốc tế đều được nâng lên rõ rệt
trong giai đoạn này, hơn hẳn các giai đoạn trước đây và hơn thành
tích ở miền Nam dưới chính quyền cũ Điền kinh được đưa vào
chương trình giảng dạy thể dục thể thao ở các trường học như một
nội dung giáo dục quan trọng Điền kinh là một trong những nội dung
chủ yếu trong chương trình đạo tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng
và Trung cấp thể dục thể thao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Từ 5/1975đến nay, trong điều kiện đất nước hòa bình, độc lập môn Điền kinhđược tiếp tục phát phiển mạnh hơn so với các giai đoạn trước đây.Chương trình giáo dục thể dục thể thao nói chung và môn Điền kinhnói riêng đã được cải tiến trong các trường học và Điền kinh ViệtNam đã mở rộng giao lưu, thi đấu với các nước trong khu vực ĐôngNam Á, Châu Á và Thế giới và đã đạt được những thành tích đángkhích lệ
2.3 Một số kỷ lục ở nội dung chạy cự ly ngắn 100m của Thế giới, Châu Á và Việt Nam.
* Kỷ lục Thế giới nam: 9”58 của vận động viên Usam Bold người
Jamaica
* Kỷ lục Thế giới nữ: 10”49 của vận động viên Joyner người Mỹ.
* Kỷ lục Thế vận hội nam: 9”58 của vận động viên Usam Bold người
Jamaica
* Kỷ lục châu Á nam: 9”99 của vận động viên Francis người Qatar
* Kỷ lục châu Á nữ: 10”79 của vận động viên Lixuemei người Trung
Quốc
* Kỷ lục Á vận hội nam: 10”00 của vận động viên Koji Ito người
Nhật
* Kỷ lục Việt Nam nam: 10”45 của vận động viên Nguyễn Văn
Huynh thuộc đoàn Quân Đội
Trang 14* Kỷ lục Việt Nam nữ: 11”33 của vận động viên Vũ Thị Hương thuộc
đoàn Thái Nguyên (nay thuộc đoàn An Giang) đồng thời Vũ Thị
Hương cũng giữ luôn kỷ lục Seagames với thành tích 11”34
3 Ý nghĩa và vị trí môn Điền kinh trong hệ thống Giáo dục thể
chất ở Việt Nam.
Tập luyện Điền kinh một cách có hệ thống và khoa học từ lâu đã
được các nhà khoa học khẳng định là có tác dụng tốt trong việc tăng
cường và củng cố sức khỏe cho con người Một người đi bộ hoặc
chạy thường xuyên, tim co bóp khỏe hơn, thành mạch co giãn tốt
hơn, hô hấp sâu hơn người không tập luyện một cách rõ rệt Các bài
tập Điền kinh chẳng những có tác dụng tốt đối với sức khỏe mà còn
là cơ sở để phát triển thể lực toàn diện, tạo điều kiện để nâng cao
thành tích các môn thể thao khác
Điền kinh là một trong những môn thể thao cơ bản của nước ta
Điền kinh giữ vị trí chủ yếu trong chương trình giáo dục thể chất ở
trường học, trong chương trình huấn luyện thể lực cho lực lượng vũ
trang nhân dân và trong chương trình thể thao cho mọi người
Liên đoàn điền kinh Việt Nam (Tiền thân là Hội điền kinh Việt
Nam được thành lập năm 1962) là tổ chức chỉ đạo phong trào điền
kinh của cả nước Liên đoàn Điền kinh Việt Nam cũng là thành viên
của liên đoàn Điền kinh Châu Á và Hiệp hội quốc tế các Liên đoàn
Điền kinh (IAAF)
4 Nguyên lý kỹ thuật chạy:
Tuy cùng trong nhóm “chạy”, nhưng kĩ thuật chạy trong điềnkinh rất đa dạng, để đảm bảo tính thực tiễn, ở đây chỉ đi sâu giớithiệu những vấn đề chung nhất và sát với chương trình môn học –chủ yếu là chạy ở các cự li trên đường bằng phẳng, không có chướngngại vật
Phân tích một chu kỳ trong chạy: Dù chạy với bất kì tốc độ nào
và ở cự li nào đều là việc lặp lại các chu kì gồm 2 bước đơn Thí dụ ởhình 1: Chu kì được bắt đầu từ khi chân trái chạm đất rồi chân phảichạm đất (bước 1) rồi chân trái lại chạm đất (bước 2) – kết thúc mộtchu kì Trong mỗi chu kì như vậy chúng ta thấy có 2 lần cơ thể hoàntoàn bay trên không (không có bộ phận nào của cơ thể chạm đất) và
có 2 lần cơ thể chạm đất bằng một chân (mỗi chân 1 lần)
Các giai đoạn trong một chu kỳ chạy
Trang 15Khác với chạy, trong chu kỳ đi bộ cơ thể không có lúc nào được
bay trên không - luôn có một hoặc hai chân chạm đất (trong thi đấu đi
bộ thể thao, nếu VĐV có lúc không chạm đất sẽ bị trọng tài nhắc nhở,
nếu bị nhắc tới lần thứ ba sẽ bị truất quyền thi đấu)
Như vậy, nếu trong di bộ, cơ thể chạm đất liên tục và luân phiên
chạm đất bằng một chân rồi hai chân, thì trong chạy từng chân luân
phiên chạm đất, cơ thể lần lượt bay trên không rồi chạm đất bằng một
chân Nếu trong các chu kỳ chạy chỉ có chống đơn thì trong các chu
kỳ đi bộ có cả chống đơn và chống kép
4.1 Hoạt động của các bộ phận cơ thể trong 1 chu kì chạy
a) Hoạt động của chân:
Hoạt động của chân liên quan trực tiếp tới hiệu quả di chuyển
khi đi và chạy Hoạt động của hai chân là như nhau và luân phiên Do
vậy chỉ phân tích hoạt động của một chân là đủ Khi chạy mỗi chân
luân phiên chống và đưa lăng(khi cả hai chân cùng ở trênkhông thì cơ thể bay) Khichân chống trên mặt đất lạigồm: chống trước – thẳngđứng và đạp sau – tuỳ theo vịtrí của điểm đặt chân vớiđiểm dọi của TTCT để xác định các tình huống trên
- Chống trước: Chống trước được bắt đầu từ khi chân phía trước
chạm đất, là khi điểm đặt chân còn ở phía trước điểm dọi của TTCT.Khoảng cách giữa 2 điểm đó càng xa, lực cản do chống trước cànglớn, thời gian chuyển từ chống trước qua thẳng đứng để sang đạp saucàng lâu, làm cho tốc độ chạy giảm
Tốc độ chạy càng lớn thì thời gian để vượt qua giai đoạn đó cũngcàng nhanh, hạn chế được tác hại của lực cản do chống trước Vì vậykhi chạy không nên cố với chân về trước mà nên chủ động đặt chângần điểm dọi của TTCT (khi tập nhiều động tác bổ trợ chuyên mônchạy việc yêu cầu có động tác miết bàn chân từ trước ra sau khi chạybước nhỏ hay khi chạy đạp sau… cũng là nhằm mục đích tạo thóiquen chủ động đưa bàn chân về gần điểm dọi của TTCT)
Sau khi chạm đất có động tác hoãn xung Đó là động tác nhằmgiảm chấn động khi chống chân – thông qua việc giảm góc độ cáckhớp ở cổ chân, gối và hông, phản lực bị phân tán và chỉ còn một lực
Các giai đoạn trong một chu kỳ đi bộ
Trang 16không lớn tác động lên cơ thể Hoãn xung tốt, bước chạy trở nên nhẹ
nhàng, thời gian chuyển từ trước sang đạp sau cũng nhanh hơn, việc
đạp sau tiếp theo cũng hiệu quả hơn do các cơ có độ căng ban đầu
nhất định, nhờ đó mà tăng hoặc duy trì được tốc độ chạy
- Thẳng đứng: Là khi điểm đặt chân trùng với điểm dọi của
TTCT – cũng là thời điểm kết thúc chống trước Trong 1 chu kỳ, đây
là lúc TTCT ở điểm thấp nhất Thực ra đây chỉ là thời điểm chuyển từ
chống trước sang đạp sau Tốc độ chạy càng nhanh, TTCT càng thấp
thì sự chuyển đó cũng càng nhanh
- Đạp sau: Là khi điểm đặt chân ở phía sau của điểm dọi trọng
tâm cơ thể Chỉ đạp sau mới có tác dụng đưa cơ thể tiến về trước
Đạp sau tốt là đạp nhanh, mạnh, với góc độ phù hợp và đẩy được
hông về trước Trong mỗi chu kỳ, chỉ có giai đoạn này mới có lực để
đẩy cơ thể di chuyển về trước Muốn chạy nhanh, phải khai thác triệt
để hiệu quả của giai đoạn này
* Hiệu quả đạp sau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Trước hết là sức mạnh đạp sau của chân (trực tiếp là sức mạnh
của các cơ tham gia động tác duỗi chân; để tận dụng được sức mạnh
của chân, đạp sau phải duỗi được hết các khớp cổ chân, gối và hông)
Sức mạnh đó càng lớn, đạp sau càng mạnh, càng nhanh Sức mạnh
các cơ càng lớn khi mặt cắt sinh lí của nó càng lớn (mặt cắt sinh lí
của 1 cơ là mặt cắt ngang qua hết các sợi cơ của cơ đó) Thông
thường, nếu không là người béo thì chu vi đùi và chu vi cẳng chân
của một người càng lớn thì sức mạnh đạp sau của người đó cũng cànglớn Người ta cũng đã tổng kết rằng, những VĐV chạy CLN xuất sắcđều có gân ASin dài và chu vi cổ chân nhỏ Gân A Sin càng dài, cổchân càng nhỏ thì đạp sau càng mạnh, tốc độ đạp sau càng nhanh –những yếu tố rất có ý nghĩa đói với thành tích chạy
+ Góc độ đạp sau (góc tạo bởi trục dọc của chân đạp sau vớiđường chạy tại điểm kết thúc đạp sau) Góc đó càng nhỏ, hướng đạpsau càng gần hướng chuyển động, hiệu quả đạp sau càng lớn (xuấtphát thấp nhanh hơn xuất phát cao cũng vì lí do này) Khi chạy, góc
độ đạp sau nhỏ 45-550, còn khi đi bộ góc độ đó lớn hơn (55 – 650).+ Cấu trúc của chân cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đạp sau Chânchữ bát hoặc chân vòng kiềng đều khó chạy nhanh vì lực đạp sau bịphân tán
+ Chất lượng đường chạy cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đạp sau.Mặt đường mềm, xốp hoặc trơn sẽ triệt tiêu lực đạp sau, hiệu quả đạpsau giảm (Chính vì vậy, người ta phải chuẩn hoá đường chạy và chocác VĐV chạy được sử dụng giày đinh…)
Ngoài ra, khi chạy hai chân luân phiên đạp sau; nếu hai chân cósức mạnh như nhau thì nhịp điệu chạy ổn định, nhưng thông thường ởmỗi người, luôn có một tay thuận và một chân thuận Tay chân thuậnthường khoẻ hơn tay, chân kia Sức mạnh của hai chân không đều lànguyên nhân của độ dài bước chạy không đều, cản trở việc phát huytốc độ chạy Bởi vì cứ sau bước của chân thuận tốc độ được tăng thỡ
Trang 17lại bị giảm vỡ bước của chân yếu sau đó Để chạy tốt cũng cần phải
khắc phục tình trạng trên
Khi chạy, khớp hông không cố định, khi đạp sau có sự xoay
quanh trục dọc, khi chân ở vị trí thẳng đứng hông bên chân đưa lăng
thấp hơn – dẫn đến hiện tượng đầu gối của chân này thấp hơn gối
chân chống
Khác với chạy, trong đi bộ, chân chống trước phải chống trước với
chân thẳng và phải đặt từ gót chân, nên khả năng hoãn xung luôn
thẳng từ khi chạm đất cho tới khi kết thúc đạp sau và rời khỏi mặt
đất Do phải hầu như không có, lực cản do chống trước là lớn Để từ
chống trước sang đạp sau, cơ thể chỉ có thể nhờ vào sức mạnh đạp
sau của chân kia và quán tính Để hỗ trợ, chân chống trước phải tì
vững trên đất, làm điểm tựa để kéo hông về trước.Khi chân trước
chạm đất, cơ thể từ trạng thái một chân chống đất chuyển sang trạng
thái hai chân chống đất Thời gian đó kéo dài bao lâu là do chân sau
hoàn thành đạp sau và rời đất nhanh hay chậm Trong chạy có thời
gian cả hai chân đề ở trên hông, ngược lại trong đi bộ có thời gian cả
hai chân cùng chống đất Nếu khi đi bộ cũng có lúc hai chân cùng ởtrên không thì tức là đã chuyển qua chạy và phạm quy
Nhìn hình trên cho thấy thời gian chống và đưa lăng khi đi vàchạy với tần số bước khác nhau Khi đi bộ thường (với tần số 113bước mỗi phút, thời gian hai chân cùng chạm đất trong các chu kì đikéo dài trên 0,1s Khi đi với tần số 141 bước mỗi phút, thời gian trêngiảm xuống dưới 0,1s Khi đi với tần số 195 bước mỗi phút là ta đãbắt đầu chuyển từ đi sang chạy, thời gian có hai chân cùng chạm đấtrất ngắn, thậm chí là không có Bằng kĩ thuật đi bộ thể thao hoànchỉnh, người ta vẫn có thể đi với tần số trên 195 bước mỗi phút (cụthể là 200 bước mỗi phút), nhưng vẫn đảm bảo luôn có một hoặc haichân chạm đất (tức là không có lúc nào cơ thể bay trên không, khôngphạm quy) Thời gian hai chân cùng chạm đất chỉ bằng 1/3 đến 1/2thời gian đó khi đi với tần số 113-141 bước mỗi phút Khi chạy vớitần số càng lớn thì thời gian cho chân chạm đất càng ngắn Đi vớichân chống luôn thẳng là đặc điểm kĩ thuật của đi bộ thể thao Khi
Trang 18chưa quen với kĩ thuật này, khi hoạt động của hai chân chưa thành tự
động hoá thì người đi rất vất vả, ưu việt của kĩ thuật chưa được phát
huy
Kết thúc đạp sau, chân rời khỏi mặt đất và chuyển qua giai đoạn
đưa lăng – giai đoạn chân ở trên không Tuỳ thuộc vào vị trí của đùi
chân lăng với đường thẳng từ TTCT hạ vuông góc với đường chạy
mà chân đưa lăng cũng bao gồm các giai đoạn nhỏ: đưa lăng sau,
thẳng đứng và đưa lăng trước “Thẳng đứng” là thời điểm đùi chân
đưa lăng chuyển từ đưa lăng sau sang đưa lăng trước, cũng là khi
chân kia ở vị trí chống thẳng đứng Kết thúc đưa lăng trước lại trở về
giai đoạn chống trước; hoàn thành 2 chu kì
Cũng theo nguyên tắc lực học, khi kết thúc đạp sau, bàn chân đạp
sau rời khỏi mặt đất, chân kia còn đang đưa lăng ở phía trước, chưa
“chống trước” toàn thân ở trên không, bay về trước theo quán tính,
với tốc độ chậm dẫn đều Tốc độ chạy lại được tăng khi chân chống
chuyên qua đạp sau và đạp sau tích cực Động tác đưa lăng (sau và
trước) không có tác dụng làm tăng tốc độ chạy – do hướng của
chuyển động có ngược với hướng chạy – thậm chí còn cản trở do tạo
lực cản lớn của không khí, khi đưa lăng nếu cẳng chân được thu về
gần sau đùi một cách tự nhiên vẫn có tác dụng tốt:
- Đưa lăng chân từ sau – về trước là một chuyển động tròn, có
tâm là trục ngang của khớp hông Việc thu cẳng chân về gần đùi có
tác dụng giảm bán kính của chuyển động do vậy rút ngắn được thời
gian đưa lăng, do đó hạn chế được hậu quả của động tác không thểthiếu đó
- Động tác thu cẳng chân nếu được thực hiện một cách tự nhiên –như một chuyển động theo quán tính – còn có tác dụng thả lỏng các
cơ của chân vừa tham gia động tác đạp sau, nhờ vậy hoạt động củachúng có hiệu quả và duy trì được trong khoảng hời gian dài hơn.Trong các bài tập bổ trợ kĩ thuật chạy động tác đạp guồng gánh
xe và động tác chạy đánh gót chân chạm mông là các bài tập trực tiếprèn luyện kĩ năng trên
b) Hoạt động của tay
Trong kĩ thuật chạy, hoạt động của tay cũng đóng vai trò quantrọng nhất định: phải đánh tay để giữ thăng bằng, giữ cho trọng tâm
ổn định và đánh tay cùng với nhịp thở còn có tác dụng điều chỉnh tần
số bước chạy Tốc độ chạy càng cao, nhu cầu thăng bằng càng lớn;khi đã mệt mỏi, hiệu quả hoạt động của chân đã giảm, khi đó nhịpđánh tay và nhịp thở tăng có tác dụng đối với việc duy trì hoặc tănghoạt động của hai chân theo tần số cần thiết – tức là vai trò của taycàng tăng
Để phát huy tác dụng hai tay, phải đánh so le với chân Chuyểnđộng chéo cả tay và chân làm cho TTCT ít bị dao động sang hai bên(đây là quy luật tự nhiên; ta có thể thấy có những học sinh đi cùngchân cùng tay, nhưng khi chạy các em không thể chạy được như vậy)
Do vậy đánh tay phải luân phiên về trước – ra sau Để giữ thăng bằng