LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính.Để giảm rủi ro không phát hiện được gian lận gây ảnh hư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA KINH TẾ - CƠ SỞ THANH HÓA
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Thanh Hóa, ngày … tháng … năm 2014
Giảng viên
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM GIAN LẬN VÀ SAI SÓT 3
1 Gian Lận 3
2 Sai Sót 4
3 So Sánh Gian Lận Và Sai Sót 4
1 Hình thức biểu hiện của gian lận 5
1.1 Các loại gian lận và biểu hiện của gian lận 5
1.1.1 Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính 5
1.1.2 Biển thủ tài sản 6
2 Hình Thức Biểu Hiện Của Sai Sót 7
III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN L ẬN VÀ SAI SÓT 9
1.Các vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của ban giám đốc 9
2.Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị 9
3.Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế không bình thường như : 10
4.Những khó khăn liên quan đến thu nhập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp 10
5 Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đến các tình huống và sự kiện nên trên 10
Trang 4IV.TRÁCH NHIỆM CỦA KI ỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI GIAN LẬN VÀ
SAI SÓT 11
V) THỰC TRẠNG GIAN LẬN VÀ GIAN LẬN SAI SÓT TRONG KIỂM TOÁN HIỆN NAY 14
1 Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Trong Kiểm Toán Hoạt Động 16
2 Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Trong Kiểm Toán Tuân Thủ 20
3.Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Của Công Ty Kiểm Toán 21
VI) NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ CÁC HÀNH VI SAI PHẠM TRONG KIỂM TOÁN 22
1.Về Phía Công Ty Kiểm Toán Độc Lập 23
2.Về Phía Bộ Tài Chính, Hiệp Hội Nghề Nghiệp: 23
VII) CÁCH SỬA SỔ KẾ TOÁN KHI XẢY RA SAI SÓT 27
1 Kỹ thuật sửa sổ kế toán ghi bằng tay 27
2 Kỹ thuật sửa sổ kế toán trong trường hợp ghi sổ bằng máy vi tính 29
3 Lưu ý khi sửa chữa sổ kế toán 29
KẾT LUẬN 31
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính.Để giảm rủi ro không phát hiện được gian lận gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến đúng đắn về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần quan tâm nghiên cứu vấn đề gian lận và khả năng xảy ra gian lận trong quá trình kiểm toán Trong thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính mong chờ ở kiểm toán viên và những gì kiểm toán viên có thể đáp ứng được vì người sử dụng cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được vì người sử dụng cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được báo cáo tài chính trung thực và hợp lý một cách tuyệt đối nhưng kiểm toán viên không thể làm được Để thu hẹp sự cách biệt này thì kiểm toán viên ngoài việc giải thích cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được phạm vi và hạn chế của nghành kiểm toán thì phải không ngừng nâng cao năng lực cá nhân chuyên môn nhằm phát hiện
ra những gian lận và sai sót gây sai lệch trọng yếu đến báo cáo tài chính
Trong giai đoạn Việt Nam vừa mới gia nhập WTO – Tổ chức thương mại thế giới thì nền kinh tế nước ta đang đứng trước một thách thức mới và nghành kiểm toán Việt Nam cũng bước vào gia đoạn phát triển vượt bậc với nhiều khó khăn và cơ hội mới.Các doanh nghiệp kiểm toán được thành lập cạnh tranh khốc liệt.Thế nên các doanh nghiệp có xu hướng gian lận nhằm phục vụ những mục đích của cá nhân doanh nghiệp làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng
Hơn nữa trong tình hình gần đây, có nhiều vụ kiện mà kiểm toán viên trực tiếp bị ảnh hưởng bởi lẽ báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng gian lận tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của người sử dụng mà kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán không phát hiện được.Điều này đã làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và hình tượng kiểm toán
Trang 6Chính vì tất cả những điều đó nên chúng ta không ngừng tìm hiểu về gian lận và sai sót trong kế toán và kiểm toán Để hiểu rõ hơn về những gian
lận và sai sót đó chúng em xin trình bày về đề tài : “Gian lận và sai sót ”
Trang 7Không có một quy định rõ ràng nào cho việc xác định gian lận vì gian lận bao gồm tất cả các cách bất ngờ, giả dối, xảoquyệt và không công bằng nhằm lừa người khác
Theo Văn phòng Kiểm toán quốc gia ở Anh, gian lận có liên quan đến việc sử dụng thủ đoạn lừa gạt để giành được các lợi ích tài chính không công bằng và bất hợp pháp, cũng như là những sai sót cố ý hoặc cố tình bỏ sót một khoản tiền hay các khoản phải công khai trong các chứng từ kế toán hoặc báo cáo tài chính của một chủ thể.Gian lận cũng bao gồm cả sự ăn cắp cho dù có hay không có các sai sót trên chứng từ kế toán hay báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240).Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong đơn vị hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến đối tượng kiểm toán.Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể đơn thuần là hành
vi cố ý xâm phạm tài sản, biển thủ công quỹ, tham ô, tham nhũng
Như vậy, dù định nghĩa theo cách nào thì về bản chất, gian lận là hành
vi cố ý, lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi Theo đó ta
có thể thấy được các yếu tố cơ bản của gian lận như sau:
- Phải có ít nhất hai bên trong gian lận, có nghĩa là phải có bên thực hiện hành vi gian lận và bên đã hoặc có thể đã phải chịu hậu quả của gian lận
Trang 8- Có sai sót trọng yếu hoặc sự trình bày không đúng sự thật được thực hiện một cách cố ý bởi người có hành vi gian lận
- Phải có sự chủ định của người thực hiện hành vi gian lận rằng sự trình bày sai này sẽ ảnh hưởng tới nạn nhân
- Nạn nhân phải có quyền hợp pháp để đáp trả lại sự trình bày đó
- Nhìn chung có sự cố gắng che dấu gian lận
- Gian lận nhất thiết phải có sự vi phạm tính trung thực
2 Sai Sót
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 240 (VSA 240), sai sót là lỗi không cố ý, có ảnh hưởng tới báo cáo tài chính như
+ Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai
+ Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế + Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý
3 So Sánh Gian Lận Và Sai Sót
* Giống nhau:
+ Đều là những hành vi sai phạm làm lệch lạc thông tin Vì yêu cầu của
kế thông tin kế toán là: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu…
+ Gian lận và sai sót do ai gây ra thì trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc người quản lý
(tầm quan trọng
của thông tin)
Luôn trọng yếu
Tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất, tần suất
Trang 9II CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN
1 Hình thức biểu hiện của gian lận
1.1 Các loại gian lận và biểu hiện của gian lận
Dựa vào tính chất của gian lận, ta có thể chia thành hai loại: một là các gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc biển thủ tài sản
1.1.1 Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính
Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp để giúp nhà quản lý và những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính ra các quyết định.Vì vậy, yêu cầu của các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính là phải trung thực, hợp lý và khách quan.Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào các thông tin đó cũng đáp ứng được các yêu cầu kể trên, mà nhiều trường hợp xảy ra gian lận.Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính là sai phạm cố tình bỏ sót hoặc làmsai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính để lừa dối những người sử dụng các báo cáo tài chính Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính thường biểu hiện dưới các hình thức sau:
- Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính
- Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính
- Che dấu hoặc cố ý bỏ sót thông tin, tài liệu hay nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báo cáo tài chính
- Ghi chép các sự việc không đúng sự thật
- Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán và chính sách tài chính
- Cố ý tính toán sai về số học
Gian lận liên quan tới lập báo cáo tài chính thường gắn liền với một số hoạt động như: ghi nhận doanh thu, hàng tồn kho,khai báo giảm những công
Trang 10nợ và đánh giá tăng tài sản của doanh nghiệp
Ví dụ: Sự thông đồng giữa doanh nghiệp và người thứ ba có thể dẫn đến xuyên tạc tài liệu có thể đánh lừa kiểm toán viên
Ví dụ: Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, kiểm toán viên đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, kiểm toán viên nhận ra khách hàng này là một người mua chính
Theo các nghiên cứu cho thấy gần 90% các vụ biển thủ tài sản là liên quan tới tiền, bởi tiền là tài sản có khả năng mất mát lớn nhất, dễ dàng bị đánh cắp Biển thủ tiền được chia thành 2 loại dựa vào thời điểm xảy ra hành vi đó Đối với hành vi biển thủ tiền sau khi doanh nghiệp đã ghi nhận khoản tiền đó thì có thể phát hiện nếu việc ghi nhận các nghiệp vụ liên quan tới tiến được duy trì đúng đắn và thường xuyên có sự đối chiếu, phân tích giữa các nguồn
dữ liệu khác nhau.Gian lận loại này thường xảy ra ở những doanh nghiệp mà tiền được giữ ở máy tính tiền, phòng nhận thanh toán qua bưu điện hoặc doanh nghiệp có tiền gửi đang chuyển Việc ăn cắp sẽ được phát hiện ra khi
có bảng kê của máy tính tiền hoặc bảng chỉnh hợp số dư tài khoản của ngân
Trang 11hàng, khi đó doanh nghiệp cần phải tìm xem ai là người thực hiện việc ăn cắp dựa trên dấu vết trên các chứng từ Đối với hành vi biển thủ tiền trước khi doanh nghiệp biết về sự tồn tại của số tiền đó, thì khó phát hiện hơn vì nó không để lại dấu vết Hành vi này có thể được thực hiện thông qua việc không ghi nhận các khoản thu được (chẳng hạn người thủ quỹ hoặc người thu tiền tại quầy cất tiền vào túi riêng của họ mà hoàn toàn không mang tới máy tính tiền), hoặc ghi giảm các khoản doanh thu (ví dụ như: họ nhận đầy đủ tiền thanh toán của khách hàng, nhưng trong sổ sách lại ghi nhận một khoản chiết khấu, giảm giá) hoặc nhân viên có thể đánh cắp tiền cùng với các chứng từ liên quan tới việc thanh toán của khoản tiền đó như phiếu thu tiền, giấy báo nhận tiền qua đường bưu điện Các doanh nghiệp sử dụng thanh toán bằng tiền mặt có nguy cơ xảy ra gian lận loại này nhiều hơn các doanh nghiệp có hệ thống thanh toán bằng séc, thẻ tín dụng, chuyển khoản.Séc cũng có khả năng
bị đánh cắp bằng cách nó được chuyển tới một tài khoản sai, có tên gần giống tên công ty nhưng thực chất là của người đánh cắp chứ không phải của công
ty Khi biển thủ tiền không để loại dấu vết xảy ra thì nó thường làm tăng số
dư của các tài khoản khác, chẳng hạn tài khoản phải thu khách hàng hoặc Hàng tồn kho
2 Hình Thức Biểu Hiện Của Sai Sót
Sai sót thường biểu hiện dưới nhiều hình thức, cụ thể như:
- Lỗi trong quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu trong quá trình lập báo cáo tài chính Ví dụ như: lỗi về tính toán số học, nhầm lẫn, bỏ sót hay hiểu sai sự việc một cách vô tình
- Lỗi trong các ước tính kế toán không phù hợp do sơ suất quên hoặc do hiểu sai bản chất
- Trong việc áp dụng các nguyên lý kế toán về đo lường, ghi nhận, phân loại và trình bày và áp dụng sai chế độ kế toán tài chính do thiếu năng
Trang 12lực
Sai sót có thể là lỗi của Ban giám đốc hay người quản lý, hoặc có thể là lỗi của nhân viên Sai sót nảy sinh do tác động của nhiều yếu tố kết hợp với nhau
Trước hết là do trình độ năng lực của nhân viên bị hạn chế Tại các đơn
vị không xây dựng một tiêu chuẩn tuyển dụng lao động một cách phù hợp thì
dễ dàng xảy ra hiện tượng các nhân viên được tuyển dụng vào vị trí mà họ chưa đủ năng lực để thực hiện.Đồng thời trong điều kiện xã hội liên tục phát triển như hiện nay, các kiến thức mới cần phải được cập nhật đều đặn cho nhà quản lý cũng như các nhân viên Việc nắm bắt chậm các thông tin, đặc biệt là các thông tin về qui định của Nhà nước, khiến cho tư duy của nhà quản lý và các nhân viên dần dần trở thành lạc hậu, khi đó khả năng dẫn tới các hành vi sai phạm càng trở nên cao hơn
Yếu tố thứ hai dẫn tới các sai sót là lề lối làm việc tại đơn vị.Lề lối, tác phong làm việc của nhà quản lý cũng như của nhân viên ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc của họ Trong những đơn vị có lề lối làm việc quan liêu, thiếu trách nhiệm và vô tổ chức, các cá nhân không có ý thức cần phải xem xét, giải quyết các công việc một cách cẩn thận, khẩn trương, nghiêm túc.Sự cẩu thả
và thiếu trách nhiệm dẫn đến các sai sót là tất yếu.Một yếu tố khác cũng có thể dẫn tới các sai sót là áp lực công việc.Yếu tố tâm lý của các cá nhân ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả làm việc của các cá nhân Khi nhân viên làm việc với tâm trạng không tốt vì bất kỳ lý do gì, họ không thể tập trung hoàn toàn vào công việc của mình, điều đó cũng dễ dàng gây ra các sai sót Hoặc khi nhân viên được giao quá nhiều việc cùng lúc, họ không thể giải quyết được hết, áp lực phải hoàn thành công việc khiến họ làm việc thiếu cẩn thận, phiến diện, do đó cũng dẫn tới khả năng sai sót
Trang 13III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIAN L ẬN VÀ SAI SÓT
Những hạn chế trong thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ
Những hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán
1.Các vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của ban giám đốc
Công tác quản lí bị một người hay một nhóm người độc quyền nắm giữthiếu sự giám sát có hiệu lực của ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị
Cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán phức tạp một cách cố ý
Sự bất lực trong việc sửa chữa những yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khi những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc phục được
Thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của
bộ phận kế toán và tài chính
Thiếu nhiều nhân viên kế toán trong một thời gian dài
Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc bị pháp luật nghiêm cấm
Thay đổi thường xuyên chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán viên
2.Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị
Nghành nghề kinh doanh gặp khó khăn
Thiếu vốn kinh doanh do lỗ hoặc mở rộng qui mô doanh nghiệp
Trang 14Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản lí của đơn vị Sức ép đối với nhân viên phải hoàn tất công việc trong thời gian ngắn
3.Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế không bình thường như :
Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tác động đến doanh thu,chi phí và kết quả
Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử lí kế toán phức tạp
Các nghiệp vụ với các bên hữu quan
Các khoản chi phí quá cao so với những dịch vụ được cung cấp
4.Những khó khăn liên quan đến thu nhập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và các nghiệp vụ kinh tế
Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ
ba mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán ,không giải thích được sự thay đổi của các chỉ số hoạt động
Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thỏa mãn yêu cầu của kiể toán viên
5 Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đến các tình huống và
sự kiện nên trên
Không lấy được thông tin từ máy tính
Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu ,không được phê duyệt và không được được kiểm tra
Thông tin ,tài liệu in từ máy tính không phù hợp với báo cáo tài chính Các thông tin in ra máy tính mỗi lần lại khác nhau
Trang 15IV.TRÁCH NHIỆM CỦA KI ỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI GIAN LẬN
VÀ SAI SÓT
Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các sai phạm của đơn vị xuất phát từ mục tiêu của báo cáo tài chính Kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm ở đơn vị Trách nhiệm của kiểm toán viên chủ yếu liên quan đến việc diễn đạt ý kiến của mình trên báo cáo tài kiểm toán và để đưa ra ý kiến đó, kiểm toán viên cần thiết kế và thực hiện một cuộc kiểm toán để bảo đảm hợp lý rằng báo cáo tài chính không sai lệch trọng yếu Đối với gian lận và sai sót, trách nhiệm của kiểm toán là xem xét rủi ro có các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính do những gian lận và sai sót gây ra Trách nhiệm này được cụ thể hóa thông qua thủ tục kiểm toán sau:
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán phải đánh gía rủi ro
có những hành vi gian lận và sai sót có thể gây ra sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính và phải phóng vấn người quản lý về bất kỳ gian lận và sai sót quan trọng nào đã được phát hiên Để làm đưược điều này, cần phải nghiên cứu về thiết kế và vận hành của kiểm toán nội bộ, đồng thời xem xét những điều kiện hay sự kiện làm tăng rủi ro có gian lận và sai sót.Ví dụ, sự thông đồng giữa doanh nghiệp và người thứ ba có thể dẫn đến xuyên tạc tài liệu có thể đánh lừa kiểm toán viên Do đó, thông thường kiểm toán viên không thực thi các biện pháp đặc biệt đối với những phần đã phát hiện sai sót nhưng chỉ tập trung suy nghĩ để làm sáng tỏ các nghi ngờ về gian lận
Dựa trên việc đánh giá rủi ro,kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán để có thể bảo đảm thủ tục hợp lý rằng sẽ phát hiện được các sai lệch do gian lận và sai sót gây ra có thể tạo ảnh hưởng trọng yếu đến toàn bộ báo cáo tài chính Nói cách khác, dù rằng cuộc kiểm toán có những hạn chế tàn như đã nêu, nhưng kiểm toán viên luôn phải có thái độ hoài nghi
Trang 16nghề nghiệp
Khi các thủ tục kiểm toán trên cung cấp bằng chứng cho thấy khả năng
có những gian lận và sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng trọng yếu, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ kiểm toán bổ sung
Sau khi đã thực hiện các thủ tục bổ sung, thế nhưng vẫn còn nghi vấn
về khả năng có gian lận và sai sót kiểm toán viên cần phải:
+ Trao đổi với người quản lí về các vấn đề cần phải điều chỉnh hay công bố tren báo cáo tài chính ,
+ Xem xét ảnh hưởng của sự kiện đến báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán
+ Riêng đối với các sai sót quan trọng và các hành vi gian lận ,kiểm toán viên cần xem xét ảnh hưởng của chũng đến khía cạnh khác nhau của cuộc kiểm toán, nhất là độ tin cậy vào các giải trình của giám đốc
Kiểm toán viên cũng thường phải thông báo cho người quản lí khi nghi ngờ rằng gian lận là có thực dù rằng nó có thể chưa ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Kiểm toán viên cũng phải thông báo về các sai sót quan trọng hoặc nhưng hành vi gian lận thực sự xảy ra
Trừ khi mọi việc quá rõ ràng, còn nhìn chung kiểm toán viên không được quan niệm rằng các sai sót và gian lận xảy ra là đơn chiếc và biệt lập Vì bản chất những sai sót là thường phát hiện theo dây chuyền nên kiểm toán viên phải thận trọng trong phát hiện sai sót, mối tương quan của những sai sót này với sai sót kia có thể dẫn tới sai lầm nghiêm trọng của báo cáo tài chính
Khi kiểm toán viên gặp phải những trường hợp nghi ngờ các nhà quản
lý doanh nghiệp có liên quan đến những vấn đề gian lận, kiểm toán viên cần cân nhắc kỹ các ưu ,nhược điểm của đương sự cũng như cần cân nhắc nên trao đổi phát giác với ai là tốt hơn.Kiểm toán viên cần phải luôn luôn ghi nhớ
là hệ thống kiểm soát nội bộ có thể trở nên hoàn toàn vô hiệu đối với gian lận
Trang 17của các nhà quản lí doanh nghiệp và các nhà quản lí doanh nghiệp có thể:
Bất chấp mọi sự kiểm tra, ngược lại họ còn có quyền ra lệnh ngăn chặn sự kiểm tra của cấp dưới
Ra lệnh cho cấp dưới ghi chép các nghiệp vụ thiếu trung thực hoặc bưng bít họ
Giấu diếm các thông tin liên quan đến nghiệp vụ
Trong quá trình kiểm toán,kiểm toán viên không nhất thiết phải chỉ ra sự thiếu trung thực của các nhà quản lí,nhưng phải đề phòng khả năng sảy ra các trường hợp tương tự :
Thông tin được cung cấp một cách miễn cưỡng hoặc chỉ cung cấp sau khi đã trì hoãn một cách vô lí
Các nhà quản lí doanh nghiệp hạn chế phạm vi kiểm toán
Kiểm toán viên phát hiện ra các vấn đề quan trọng mà trước đó không được thể hiện qua kiểm toán
Nếu kiểm toán viên nghi ngờ có hành vi nào đó trong ban lãnh đạo doanh nghiệp gian lận thì phải thực hiện các biện pháp để xác minh hoặc xóa
bỏ các nghi ngờ về gian lận của lãnh đạo doanh nghiệp thì phải tìm các đại diện khác để thay thế hoặc tìm các bằng chứng kiểm toán khác Khi cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp bị nghi ngờ, kiểm toán viên sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn đại diện thay thế và trong việc thu nhập các bằng chứng kiểm toán Trong trường hợp đó, kiểm toán viên không thể hoàn tất công việc kiểm toán của mình và cần phải xin ý kiến tư vấn pháp ký để có các hành động phù hợp với thực tế
Cuối cùng, nếu đơn vị không có những giải pháp thích hợp đối với các hành vi gian lận, kiểm toán viên còn phải xem xét đến khả năng rút khỏi hợp đồng kiểm toán