Hoạt động và giao dịch của TMĐT
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ này, với sự xuất hiện của các máy kỹ thuật mới như máy
vi tính, vi ba, cáp quang, vệ tinh thông tin cuộc cách mạng tin học đã có những bước chuyển nhảy vọt, đưa thế giới vào chu kỳ phát triển mới: chu kỳ thứ 5 với nền kinh tế tri thức mà trọng tâm là công nghệ tin học Và từ đó cũng xuất hiện phương thức kinh doanh mới: thương mại điện tử
Thương mại điện tử ra đời làm thay đổi hoàn toàn tính chất nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu Khác với thương mại truyền thống, thị trường của thương mại điện tử là hệ thống mạng Internet, việc kinh doanh được thực hiện qua các cửa hàng ảo lập trên mạng, người bán và người mua không cần biết mặt nhau Lợi ích lớn nhất mà thương mại điện tử mang lại cho các doanh nghiệp là giảm tối thiểu các chi phí và tăng tối đa các lợi nhuận
Các chuyên gia đều cho rằng, thương mại điện tử sẽ là xu hướng mới cho phát triển nền kinh tế toàn cầu Bởi ngay từ khi xuất hiện, cùng với những tiện ích to lớn của mình, thương mại điện tử đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới Những quốc gia đi tiên phong trong phát triển thương mại điện tử như Mỹ và một số nước Châu Âu đã gặt hái được những thành công không nhỏ
Ở nước ta, mối quan tâm đến thương mại điện tử cũng đang tăng lên hàng ngày Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan cũng đã đưa ra một vài chính sách cho phát triển thương mại điện tử Tuy nhiên, nó vẫn chỉ mang hình thức trên giấy tờ Đối với Việt Nam, cơ hội phát triển không phải là điều không thể nhưng để hoà nhập vào nhịp phát triển chung của nền kinh
Trang 2CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
I Thương mại điện tử là gì?
1 Số hoá và nền kinh tế số hoá
Sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “cách mạng số hoá”, thúc đẩy sự ra đời của “ kinh tế số hóa “ và “ xã hội thông tin “ mà thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành
Trong nửa đầu thế kỷ, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần ; hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các kí hiệu khác) và âm thanh đều được số hoá thành các nhóm bit điện tử để ghi lại, lưu giữ trong môi trường từ, truyền đi và đọc bằng điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng
Việc áp dụng kỹ thuật số có thể coi là cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân loại, gọi là cuộc cách mạng số hoá mở ra kỉ nguyên số hoá
Cách mạng số hoá diễn ra với tốc độ rất cao Máy tính điện tử ( MTĐT ) đầu tiên ra đời năm 1946 chỉ thực hiện 5000 lệnh trong một giây 50 năm sau, MTĐT cá nhân thông dụng có thể thực hiện trên 400 triệu lệnh một giây( dự kiến 2012 đạt tới 100 triệu lệnh) nhờ sử dụng các chíp vi mạch cho phép đóng mở nhiều triệu lần trong một giây
Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỉ trọng trong nền kinh tế các quốc gia ( ở
Mỹ năm 1998 đã đạt trên 8%) Riêng về thương mại điện tử (TMĐT) cứ 18 tháng tổng công suất lại tăng lên gấp đôi
Quá trình tin học hoá xã hội bắt đầu bùng nổ rồi nhanh chóng chuyển sang mang tính chất toàn cầu sau khi Internet ra đời Trong bối cảnh ấy, hoạt động kinh tế nói chungvà thương mại nói riêng cũng chuyển sang dạng “số hoá”, “ điện tử hoá “; khái niệm thương mại điện tử dần dần hình thành và ứng dụng ngày càng mở rộng
Trang 3ngỏ mà chủ yếu là mạng Internet Các hàng hoá này được trưng bày trên các trang web ( website ) của Internet và người mua dùng thẻ tín dụng để thanh toán Thông thường, đó là những hoạt động giao dịch giữa các công ty, xí nghiệp với nhau hoặc giữa các công ty với người tiêu dùng.
Còn hiểu theo nghĩa rộng, thì TMĐT bao gồm những hoạt động có liên quan đến mạng khu vực, mạng nội bộ - Intranet và mạng Internet TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại hay nói chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch Đây là một mô hình thương mại hoàn toàn mới, sử dụng mạng lưới thông tin chưa từng có trước đây để liên lạc từng khách hàng với các đại lý tiêu thụ, các công ty phân phối sản phẩm, các nhân viên làm thuê và truyền đi những thông tin có giá trị đến các đối tác một cách nhanh chóng kịp thời
Khái niệm “thương mại” trong “TMĐT” với phạm vi khá rộng gồm buôn bán dịch vụ
và các thành tố thương mại có liên quan đến sản phẩm tinh thần nên được khai diễn với các hình thức: mua bán hàng hoá tại nhà, thư tín thanh toán, trao đổi các dữ liệu điện tử cùng nhiều mặt khác trong đời sống kinh tế - xã hội
TMĐT được chia thành hai dạng cơ bản:
B2B ( Business to Business ): kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp trong đó các doanh nghiệp thực hiện giao dịch mua bán trao đổi hàng hoá với nhau thông qua các trang web
B2C ( Business to Custommer): giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng với hình thức người tiêu dùng thực hiện mua bán hàng qua trang web
Mọi hoạt động của thương mại điện tử như hoạt động giao tiếp hoặc tìm hiểu thông tin giữa các công nhân viên chức trong các xí nghiệp, công ty, quan hệ giao dịch giữa các bạn hàng thương mại, hoặc các hoạt động khác trên mạng như giáo dục , giảng bài trên mạng, thông tin về các dịch vụ hoạt động của tư nhân cũng như của nhà nước đều sẽ được “số hoá” Điều này không có nghĩa là việc số hoá nhất thiết sẽ thay thế các hoạt động giao dịch truyền thống quen thuộc, mà nó có tác dụng hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động này
Trang 43 Các phương tiện kỹ thuật của TMĐT
Sự ra đời và phát triển của TMĐT dựa trên ba nền tảng cơ bản: công nghệ thông tin, cơ
sở pháp luật thừa nhận giá trị của các giao dịch điện tử và sự hoàn chỉnh về hệ thống tiêu chuẩn hoá trong công nghiệp và thương mại Nó sử dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử như: điện thoại, máy fax, các thiết bị thông tin tự động, mạng nội bộ, liên mạng nội bộ và mạng toàn cầu Internet
Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụngvà thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên ngày càng rộng rãi hơn.Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điện thoại chỉ truyền tải được âm thanh, mọi giao dịch cuối cùng vẫn phải thực hiện trên giấy tờ Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại rất cao đặc biệt là đối với giao dịch đường dài
Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống Nhưng máy fax không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và chi phí sử dụng còn cao
Truyền hình đóng vai trò quan trong trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáo và đã có một số dịch vụ được cung cấp qua truyền hình Song truyền hình chỉ là công cụ viễn thông “một chiều”, qua truyền hình khách hàng không thể có được cá chào hàng, không thể đàm phán với người bán
về điều khoản mua bán cụ thể Nay máy thu hình được nối kết với MTĐT thì công dụng của
nó được mở rộng hơn
Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử: Thanh toán là khâu quan trọng bậc nhất của thương mại và TMĐT không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động, thẻ tín dụng, thẻ mua hàng, thẻ khôn minh thẻ từ
Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ: Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một xí nghiệp hay cơ quan và các liên lạc mọi kiểu giữa các MTĐT trong cơ quan, xí nghiệp đó, cộng với liên lạc di động Theo nghĩa hẹp , đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau - gọi là mạng cục bộ(LAN); hoặc nối kết máy tính trong một khu vực rộng lớn
Trang 5hơn - gọi là mạng miền rộng(WAN) Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau tạo thành liên mạng nội bộ - có thể gọi là “mạng ngoại bộ”(extranet).
Internet và web: Khi nói đến Internet ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP Công nghệ Internet chỉ thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế “ giao thức chuẩn truyền siêu văn bản “( HTTP: HyperTex Transfer Protocol ) với các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ HTML( HyperTex Markup Language ), tạo ra nhiều dịch vụ khác nhau mà tới nay nổi bật nhất là dịch vụ World Wide Web ra đời năm 1991 - thường được gọi tắt là Web, viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản tạo
ra các văn bản chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác cho phép người sử dụng tự động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang cơ sở dữ liệu khác, bằng cách đó mà truy nhập vào các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau vừa phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về hình thức
Web giống như một cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang chứa một gói tin có nội dung nhất định như một quảng cáo, một bài viết v.v mà số trang không ngừng tăng lên và không theo một trật tự nào cả
Internet tạo ra bước phát triển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới “một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và đã trở thành công cụ quan trọng nhất của TMĐT Ngày nay nói tới TMĐT thường có nghĩa là nói tới Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao
4 Các hình thức hoạt động và giao dịch của TMĐT
Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được
Trang 6thoả thuận để cấu trúc thông tin (Định nghĩa của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế - UNCITRAL) EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu chủ yếu phục vụ cho mua , phân phối hàng và các dịch vụ khác.
Giao gửi số hoá các dung liệu là phương thức dung liệu được số hoá và truyền gửi theo mạng
Bán lẻ hàng hoá hữu hình: tận dụng tính năng đa phương tiện của môi trường Web và Java, người bán hàng xây dựng trên các mạng “cửa hàng ảo” để bán hàng Người mua
sử dụng Internet/web tìm , mua hàng trên các trang web của cửa hàng và trả tiền bằng thanh toán điện tử Khách có thể mua hàng tại nhà mà không phải đích thân đi tới cửa hàng
b Giao dịch TMĐT
Người với người: qua điện thoại, fax, thư điện tử
Ngườivới MTĐT: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử, và qua Web
MTĐT với MTĐT: qua trao đổi dữ liệu điện tử, thẻ khôn minh, dữ liệu mã vạch
MTĐT với người: qua thư tín, fax và thư điện tử
c Các bên tham gia giao dịch
Giữa doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích giúp người tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà không cần tới cửa hàng
Giữa các doanh nghiệp với nhau: mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh
Giữa doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm mục đích mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến, quản lý thuế và thông tin
Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin
Trong các hình thức nói trên giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau là dạng chủ yếu của TMĐT
d Hình thái hợp đồng của TMĐT
Hợp đồng TMĐT có một số điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường:
Địa chỉ pháp lý: ngoài địa chỉ pháp lý còn có địa chỉ e - mail, mã doanh nhgiệp
Quy định về phạm vi thời gian, phạm vi địa lý của giao dịch
Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm hoặc dung liệu trao đổi và quy định trách nhiệm các sai sót trong các văn bản đó
Trang 7 Có quy định và xác nhận điện tử các giao dịch, về quyền truy cập, cải chính thông tin điện tử và cánh thực thi.
Có các quy định bảo đảm rằng các giao dịch điện tử được coi là chứng cớ pháp lý
về bản chất và ngày tháng giao dịch
Quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử
Quy định về trung gian bảo đảm chất lượng
Ngoài ra TMĐT còn có cả phương thức giao dịch không có hợp đồng
II Vai trò và lợi ích của TMĐT
1 Vai trò của TMĐT
Sự phát triển và phồn vinh của một nền kinh tế không còn chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, mà ở mức độ lớn được quyết định bởi trình độ công nghệ thông tin và tri thức sáng tạo Cùng với xu thế đó, TMĐT xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới bởi những ảnh hưởng to lớn của mình:
Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu
Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri rhức đã thực sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sản lớn nhất của một doanh nghiệp
Mở ra cơ hộiphát huy ưu thế của các nước phát triển sau để họ có thể đuổi kịp, thậm chí vượt các nước đã đi trước
Xây dựng lại nền tảng, sức mạnh kinh tế quốc gia và có tiềm năng làm thay đổi cán cân tiềm lực toàn cầu
Rút ngắn khoảng cách về trình độ tri thức giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển
Cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tuyến
2 Lợi ích của TMĐT
TMĐT ra đời cùng với những tiến bộ gần đây của công nghệ viễn thông và máy tính Đặc biệt, sự bùng nổ của Internet và Web đã gia tốc quá trình chuyển hoá thương mại toàn cầu, cho phép mở rộng tức thì quan hệ giữa những người bán, người mua, các nhà đầu tư, các hãng quảng cáo và các nhà tài chính trên phạm vi toàn cầu với chi phí về thời gian và tiền bạc rất thấp Với đặc tính như vậy, TMĐT có thể đem lại những lợi ích to lớn như: góp phần cải
Trang 8thiện các dịch vụ tài chính và chống tham nhũng; góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế; cho phép các công ty nhỏ nhất cũng có thể hiện diện và tiến hành hoạt động kinh doanh trên toàn thế giới; nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp; rút ngắn chu trình cung cấp hàng hoá, dịch vụ, giảm chi phí, giá thành
Những lợi ích mà TMĐT mang lại cho:
a Doanh nghiệp
Hợp lý hoá khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm, bảo hành, tự động hoá quá trình hợp tác , kinh doanh để nâng cao hiệu quả: TMĐT giúp các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế, thương mại, thị trường và nắm bắt mọi nhu cầu, nhờ đó có thể xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển thị trường trong nước, thị trường khu vực và quốc tế Và do đó làm giảm chi phí sản xuất, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu Mọi hoạt động hợp tác kimh doanh đều diễn ra qua hệ thống mạng
Cải tiến quan hệ trong công ty, với đồng nghiệp, thiết lập và củng cố quan hệ đối tác, bạn hàng: thông qua mạng, các thành tố tham gia có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa Nhờ đó, cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục
Giảm chi phí kinh doanh, tiếp thị, tăng năng lực phục vụ khách hàng: bằng phương tiện điện tử Internet - Web và do catalogue điện tử rất phong phú,thường xuyên cập nhật nên các nhà kinh doanh có thể giao dịch với rất nhiều khách hàng, tiếp cận với khách hàng dễ dàng hơn
Tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp: TMĐT giúp doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch trong đó yếu tố thời gian đáng kể hơn Vì việc nhanh chóng làm cho thông tin hàng hoá tiếp cận người tiêu thụ( mà không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với cạnh tranh buôn bán, bám sát được nhu cầu của thị trường
Mở rộng phạm vi kinh doanh, dung lượng và vượt qua vùng lãnh thổ: Thông qua
hệ thống thông tin nhanh nhạy trên Internet - Web, các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn
Trang 9b Người tiêu dùng
Thuận tiện hơn: người tiêu dùng có thể mua được những mặt hàng cần thiết mà không cần phải đi đến các cửa hàng nhờ vào hệ thống dịch vụ trên các trang Web của hệ thống mạng Internet qua MTĐT cá nhân
Tăng khả năng lựa chọn: người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn hàng hoá trên các catalogue điện tử và các dịch vụ quảng caó trên website của các doanh nghiệp
Tiếp cận mặt hàng dễ dàng hơn: chỉ cần sử dụng phím chuột vào các trang website khách hàng đã có thể tìm hiểu được về mọi tính năng, chức năng và đặc tính của sản phẩm
Hưởng các dịch vụ nhiều hơn: người mua hàng qua mạng có cơ hội tận hưởng thêm một số dịch vụ ưu đãi như phiếu giảm giá, gói quà, vận chuyển hàng hoá miễn phí do các hãng bán lẻ đưa ra nhằm thu hút khách hàng
c Chính phủ
Dễ dàng kiểm soát về thuế, phân phối thu nhập, hải quan Tuy nhiên đối với việc đánh thuế trên mạng lại là một khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát cũng như trong phân phối
III Nền tảng cơ sở của TMĐT
Song song với những lợi ích to lớn có thể mang lại cho mỗi con người, mỗi quốc gia, TMĐT cũng đòi hỏi một hạ tầng cơ sở đa dạng và vững chắc, có cả tính thường hữu, tính kinh
tế sử dụng Nếu không chuẩn bị được một hạ tầng cơ sở vững chắc thì mọi lợi ích nêu trên đèu chỉ là những thứ ta mới hình dung ra mà thôi, trong khi đó, những tổn thất phát sinh ra lại hoàn toàn là thực
1 Hạ tầng cơ sở công nghệ ( hệ thống thông tin, máy tính, truyền thông, bảo mật và an toàn )
TMĐT không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển
kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật MTĐT Vì thế chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành TMĐT có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một cơ sở công nghệ thông tin vững chắc
Hạ tầng cơ sở công nghệ ấy bao gồm từ sự liên kết các chuẩn của doanh nghiệp, của cả nước với các chuẩn quốc tế tới kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng; và không chỉ của riêng
Trang 10từng doanh nghiệp, mà phải là một hệ thống quốc gia, với tư cách như một phân hệ của hệ thống thông tin khu vực và toàn cầu, và hệ thống ấy phải tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại.Chi phí các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính ) và chi phí dịch vụ truyền thông( phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập ) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được.
Tuy nhiên điều đáng lo ngại nhất là an toàn và bảo mật dữ liệu vì số vụ tấn công vào Internet ngày càng tăng, kể cả vào các mạng được bảo vệ nghiêm ngặt “Giặc máy tính” (hacker) dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu, virut và các chương trình
“phá từ bên trong”, giả mạo địa chỉ Internet, phong toả dịch vụ Ngay cả các mã mật (sử dụng
kỹ thuật mã hoá) cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng cấp kỹ thuật cao hơn hẳn Cho nên một chiến lược quốc gia về mã hoá, kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin đang trở thành một vấn đè lớn Và nếu không
có các luật và các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin thì một nước rất có thể bị cách
ly khỏi hoạt động TMĐT quốc tế
2 Hạ tầng cơ sở nhân lực
Áp dụng TMĐT tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và
có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng, hai là có đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn vào nước khác
Ngoài ra, do ngôn ngữ được sử dụng chủ yếutrong thương mại nói chung hay TMĐT nói riêng hiện nay là tiếng Anh nên đã xuất hiện một yêu cầu tự nhiên nữa là tất cả những người tham gia kinh doanh trực tuyến đều phải giỏi tiếng Anh
Chính những điều này sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo
3 Hệ thống thanh toán tài chính tự động
TMĐT chỉ có thể thực hiện thực tế khi đã tồn tại hệ thống thanh toán tài chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động Khi chưa có hệ thống này thì hiệu quả của TMĐT bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra Hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá, hay “đánh số sản phẩm”
Trang 11gọi là mã vạch ; và một máy quét sẽ nhận dạng các vạch này biến đổi thành các con số rồi đưa vào máy tính để tính toán tự động.
4 Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Ngày nay, cái tạo ra giá trị cao hơn cho sản phẩm không phải là bản thân sản phẩm mà chính là “tài sản chất xám” của nó Trong TMĐT, thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin Vì lẽ đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin trên Web( các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thương mại, các cơ
sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng ) Mọi hình thức “sao chép”, “phiên dịch” các
dữ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh thành dung liệu truyền gửi phải được tác giả đồng ý Và như vậy phải có sự quản lý, đầu tư hợp lý để điều chỉnh các mối quan hệ sở hữu trí tuệ, tránh được hiện tượng “chảy máu chất xám”
5 Bảo vệ người tiêu dùng
Nhìn nhận trên cơ sở lý luận thương mại và lý thuyết thông tin, thì từ xưa tới nay, một thị trường bị sụp đổ bao giờ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là “thông tin không đối xứng” nghĩa là cái người bán biết khác với cái người mua biết dẫn tới cái gọi là “thị trường chanh quả”
Trong TMĐT, thông tin về hàng hoá đều là thông tin số hoá, nói giản dị là người mua không có điều kiện “nếm thử” hay “dùng thử” hàng trước khi mua; khả năng rơi vào “thị trường chanh quả” sẽ càng gia tăng, chưa kể tới khả năng bị nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trên mạng Vì thế đang xuất hiện nhu cầu phải có trung gian bảo đảm chất lượng mà hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém Trước thực tế các rủi ro ngày càng gia tăng, đả kích vào quyền lợi của người tiêu thụ, thì đây là một vấn đề đáng được quan tâm
6 Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý
a Môi trường quốc gia
Trước khi đi đến một quyết định thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội cho nền kinh tế số hoá nói chung và TMĐT nói riêng( ví dụ quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế, và các dịch vụ khác như thư tín, dự báo thời tiết ), thì chính phủ mỗi nước phải đánh giá một cách chính xác, khách quan những cơ hội hay những hiểm
Trang 12hoạ mà xã hội thông tin hay cụ thể hơn là Internet mang lại Và để có một môi trường kinh té
xã hội ổn định, nhà nước cần xây dựng một khung pháp lý phù hợp:
Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch TMĐT
Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số hoá và có các thiết chế pháp lý thích hợp xác thực, chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá
Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử
Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ nhà nước ( các cơ quan chính phủ và trung ương )
Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử
Bảo vệ bí mật riêng tư , ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp
Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu nhập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virut phá hoại Vấn đè là sẽ phải đưa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia
b Môi trường quốc tế
Ngoài những điểm chung, môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế còn khác với môi trường quốc gia ở phạm vi kinh tế thương mại Nó không chỉ diễn ra ở phạm vi một nước
mà còn vượt qua biên giới quốc gia, trong đó khía cạnh quan trọng nhất là tính không biên giới của TMĐT dẫn tới những khó khăn to lớn về luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng, về thanh toán và đặc biệt là về thu thuế (do làm mất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính của ngoại thương truyền thống.) Chẳng hạn khó khăn trong việc đánh thuế các hàng hoá phi vật thể (âm nhạc, chương trình phần mềm ), thu thuế trong trường hợp thanh toán vô danh bằng thẻ khôn minh và khó khăn trong vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ, chính trị, bảo vệ bí mật quốc gia, vấn đề pháp luật quốc tế về sử dụng không gian
Trang 13
CHƯƠNG II KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TMĐT VỚI MỘT SỐ
NƯỚC VÀ KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI.
I Xu hướng phát triển của TMĐT
1 Sự phát triển của Internet hiện nay
Internet - đỉnh cao của cuộc cách mạng thông tin, công nghệ và giáo dục ra đời với các nội dung chủ yếu là tạo ra các kiểu máy tính có tốc độ tính toán hàng triệu đến hàng tỷ phép tính/giây Các bộ nhớ thông tin có thể lưu trữ được toàn bộ tri thức của nhân loại trong suốt lịch sử phát triển của nền văn minh, tạo lập các cơ sở dữ liệu có khả năng cập nhật và truyền
Trang 14bá thông tin cho bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu trên hành tinh này thông qua mạng lưới các máy tính được điều khiển tự động, cũng như các mạng lưới truyền thông toàn cầu và khu vực thông qua các phương tiện vũ trụ kỹ thuật điện - điện tử, kỹ thuật quang - điện tử để thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền bá thông tin và tri thức Với cuộc cách mạng thông tin - Internet, quá trình toàn cầu hoá diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, chính trị, quân sự một cách mạnh mẽ.
Cùng với việc ra đời thế hệ máy tính mới mô phỏng hoạt động của bộ não con người, gọi là máy tính nơron, hệ thống Internet-2 được xây dựng và trong đầu thế kỷ tới sẽ tạo nên một bộ não khổng lồ bao quát quy mô toàn cầu Theo dự báo của năm 1998, thị trường máy tính nơron đã vượt quá 2 tỷ USD và mức tăng trưởng hàng năm đạt khoảng 40%, báo hiệu mở đầu một kỷ nguyên mới trong công nghệ thông tin Ưu điểm nổi bật của máy tính nơron là có khả năng tự học, tự tích luỹ tri thức theo chương trình, giống như hoạt động trí tuệ thực sự của con người Đặc biệt, máy tính nơron có khả năng xử lý các thông tin trừu tượng, khó hình thức hoá dưới dạng toán học, thậm chí có thể xử lý thông tin theo kiểu trực cảm là điều máy tính thông thường không thể làm được
Tiếp theo thế hệ máy tính nơron điện tử, máy tính nơron quang tử sẽ ra đời, trong đó dùng photon thay thế điện tử làm vật mang tin sẽ tạo ra thế hệ mạng thông tin toàn cầu mới, gọi là Internet-3 với những tác động cách mạng mà đến nay chỉ có thể so sánh được với các chuyện khoa học viễn tưởng
Sự phát triển của Internet cả về công nghệ lẫn phạm vi bao phủ đã tạo ra vô số những hình thức giao dịch qua mạng máy tính, mà qua đó người ta có thể tìm kiếm bất cứ thông tin nào mà mình muốn, từ khoa học mũi nhọn đến bản đồ khí tượng, và kể cả thông cáo báo chí của nhà Trắng nhưng vượt lên trên hết vẫn là kinh doanh điện tử Năm 1991 mới có 31 nước nối mạng vào Internet, tới giữa năm 1997 đã có 171 nước; số trang Web vào giữa năm 1993 là
130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu Số lĩnh vực sử dụng Internet/Web vào giữa năm
1991 là 1600, tới giữa năm 1997 đã lên 1,3 triệu Giữa năm 1994, toàn thế giới có 3,2 triệu địa chỉ Internet (chủ yếu ở Mỹ), tới giữa năm 1996 đã lên 12,9 triệu địa chỉ với khoảng 67,5 triệu người sử dụng ở khắp các châu lục, giữa năm 1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng Theo dự đoán, số người sử dụng Internet trên toàn cầu năm
1999 là 147 triệu, các site chính trên mạng sẽ theo hướng hợp nhất, địa vị của Internet sẽ có
Trang 15chuyển biến lớn và bên cạnh đó giá máy tính cá nhân sẽ giảm - đây chắc chắn là một yếu tố góp phần làm tăng gia lượng người sử dụng mạng điện tử
2 TMĐT đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu
Những năm gần đây có thể coi là những năm phát triển và diễn ra những thay đổi vô cùng to lớn của nền thương mại toàn cầu dựa trên Internet TMĐT đã thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của chính phủ các nước, các tổ chức và các doanh nghiệp Doanh số buôn bán thông qua mạng toàn cầu trong năm 1999 đã đạt con số hàng trăm tỷ USD Các nhà kinh
tế thế giói dự báo TMĐT phát triển mạnh trên phạm vi toàn cầu có thể đạt 1500 tỷ trong 3 năm tới TMĐT là lĩnh vực tương đối mới, thực sự khai diễn cách đây khoảng trên 10 năm và tương đối thịnh hành ở những nước công nghiệp phát triển Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng là con đẻ của nền văn minh đỉnh cao nên TMĐT đã sớm khẳng định vị thế bởi sức hấp dẫn và phát triển nhanh về dung lượng, phạm vi và đối tượng Năm 1997 doanh số TMĐT toàn thế giới mới đạt 18 tỷ USD, năm 1999 dự kiến là 71 tỷ và theo các số liệu dự báo của APEC sẽ đạt 1000 tỷ USD vào năm 2002 ( riêng các nước APEC là 600 tỷ USD) Còn theo đánh giá của các chuyên gia Mỹ, đến năm 2002 thị trường TMĐT sẽ có thu nhập 300 tỷ USD Và theo ước tính của IDC, doanh số TMĐT sẽ tăng từ mức 50 tỷ USD của năm 1998 lên đến 1300 tỷ USD vào 2003
Đối với các công ty của Mỹ và Châu Âu, việc kinh doanh điện tử đang ngày càng phổ biến Công ty tư vấn Ernst and Young của Mỹ cho biết trong năm 2000 các công ty Mỹ có thể bán được hàng từ 45 đến 50 tỷ USD trên mạng Internet Nghiên cứu qua 1.200 khách hàng mua hàng trên mạng ở Mỹ, trung bình mỗi khách hàng đã thực hiện 13 đợt mua hàng trên mạng năm 1999 với khoản chi 1.205 USD so với 280 USD năm 1998 và 4 đợt mua trong năm
1997 với mức chi 230 USD
Theo đánh giá của các chuyên gia, mặc dù TMĐT năm 1999 của Châu Á - TBD chỉ đạt
có 2,8 tỷ USD, tức là chỉ bằng khoảng 7,8% so với con số của Mỹ nhưng đây vẫn là một khu vực có tiềm năng trên lĩnh vực này Trong tổng giá trị kim ngạch thương mại điện tử kể trên thì có tới 93,5% là của 3 quốc gia mạnh nhất là Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc, số còn lại (khoảng 180 triệu USD) là của 10 nước khác Đặc biệt, các chuyên gia của Boston Consulting Group khẳng định, kim ngạch thương mại điện tử của khu vực Châu Á-TBD sẽ còn tiếp tục tăng hơn nữa bởi trong thời gian tới đây các khách hàng của khu vực này có xu hướng sử
Trang 16dụng mạng trực tuyến nhiều hơn Hiện tại, tỷ lệ này mới chỉ khiêm tốn chiếm 0,1% so với 1,2% của Mỹ.
Tại Châu Á có khoảng 39 triệu người tham gia mạng Internet, đang tụt hậu trong cuộc chạy đua với các nước phát triển Công ty Dữ liệu quốc tế ước tính mua bán hàng trên mạng ở Châu Á, không kể Nhật Bản, sẽ tăng gấp đôi từ 2,2 tỷ USD năm 1999 lên 5,5 tỷ USD vào cuối năm nay Các chuyên gia cho biết trong 5 năm tới, số người ở Châu Á truy cập mạng Internet
có thể sẽ tương đương hoặc vượt quá tổng số của Bắc Mỹ và châu Âu cộng lại Dự kiến, Châu
á sẽ thu được 1/4 thu nhập thương mại Internet trên toàn cầu hay 1,4 nghìn tỷ USD vào năm
2003 Năm 2000 sẽ là năm các công ty thương mại điện tử toàn cầu đổ bộ vào Châu Á
Mạng Internet phát triển nhanh thực sự đang là không gian mới cho hoạt động kinh doanh và nâng cao hơn nữa ý nghĩa của TMĐT Việc dùng mạng Internet để giao dịch ngày càng phổ biến, dự đoán năm 2000 sẽ có 250 triệu người trên thế giới sử dụng các dịch vụ của Internet Đó là do người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn tới các sản phẩm được bán hàng qua mạng như sách, báo, tranh ảnh, các CD âm nhạc ví dụ như chỉ tính riêng mùa giáng sinh năm 1998, tổng lượng hàng hoá bán qua Internet đã đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 1997 Người tiêu dùng bắt đầu quan tâm đến cả một số mặt hàng bị coi là khó bán trên mạng, thậm chí còn có cả dịch vụ may đo quần áo qua mạng và dịch vụ này đang rất được ưa chuộng Và chính sự phát triển này đã kéo theo làn sóng TMĐT đang sục sôi dâng trào ở khắp nơi với tốc độ chóng mặt Theo báo cáo ngành mới nhất thì doanh thu TMĐT toàn cầu sẽ đạt khoảng 95 tỷ USD trong năm nay và sẽ vượt lên 1,3 nghìn tỷ USD Activ Media báo cáo doanh thu tăng từ 72% lên 150%, dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên 138% vào 2001 khi những người mua trực tuyến đưa vào Internet để mở rộng chủng loại mặt hàng dịch vụ
Trong bối cảnh như vậy, không một quốc gia nào có thể tránh khỏi sức lôi cuốn của nó Cách mạng thông tin điện tử, đặc biệt là mạng Internet đã phủ khắp hầu hết các nước trên thế giới và phần lớn trong số đó đã tận dụng ngay lợi thế này cho kinh doanh Deutsche Bank, ngân hàng lớn nhất nước Đức cho rằng, Internet sẽ ảnh hưởng đến khu vực tài chính nhiều hơn các khu vực khác nên ngân hàng này đã có kế hoạch đầu tư 1tỷ USD để cải tổ các hoạt động kinh doanh và hợp tác với các đối tác nhằm khai thác triệt để các cơ hội mới; Ba công ty dầu mỏ và bốn ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới đang hợp tác để phát triển giao dịch sản phẩm kim loại và năng lượng trên Internet bắt đầu vào cuối năm 2000 Các công ty máy tính
Trang 17lớn trên thế giới đã không bỏ qua cơ hội cung cấp hàng loạt phương án toàn diện về ứng dụng TMĐT Xu thế này sẽ kéo theo một số ngành nghề phát triển mạnh như: vận tải, giao thông, phát thanh truyền hình, mua bán cổ phiếu, phần mềm và máy tính cá nhân đặc biệt là hình thức mua hàng trên mạng sẽ phát triển rất nhanh
Sự phát triển của TMĐT trên thế giới không chỉ thể hiện ở tốc độ gia tăng nhanh, mà còn ở các định chế chính sách, pháp luật và các hoạt động trên phạm vi quốc tế và khu vực Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của TMĐT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia, các khối kinh tế và cộng đồng thế giới đang nhanh chóng xây dựng cho mình chính sách về TMĐT nhằm tạo sự ổn định về mặt pháp lý, giảm đến tối đa các các rủi ro trong hoạt động TMĐT, ngăn chặn những hành vi bất hợp pháp gây thiệt hại cho người tiêu dùng, doanh nghiệp và quốc gia
Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (ULCITRAL) đã soạn thảo Đạo luật mẫu về TMĐT Tháng 12/1996 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã ra nghị quyết khuyến nghị các chính phủ, các tổ chức quốc tế cần phổ biến rộng rãi và áp dụng Đạo Luật Mẫu này
Chương trình Trade Point của UNCTAD( chương trình nhằm giúp các công ty xuất nhập khẩu nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực buôn bán quốc tế) cũng hỗ trợ cho các công ty dần dần gia nhập vào mạng điện tử toàn cầu
Mỹ cũng đã ấn định các nguyên tắc cơ bản cho TMĐT của mình và kiến nghị một số điểm cho TMĐT toàn cầu Mới đây, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã công bố “nước Mỹ chính thức sử dụng chữ ký điện tử trong giao dịch”, hoàn thiện thêm khung pháp lý cho TMĐT
Liên Minh Châu Âu(EU) đã xác định các nguyên tắc TMĐT cho tổ chức này, công ước Brussels năm 1968 về hoạt động thương mại trong khu vực đang được đề nghị sửa đổi để áp dụng cho cả TMĐT Tháng 12/1997, EU ra tuyên bố cấp bộ trưởng tại Bonn ủng hộ TMĐT
Năm 1997, APEC thành lập “nhóm công tác chuyên trách về TMĐT” và năm 1998 thông qua “ chương trình hành độngvề TMĐT của APEC” Hiện nay, APEC đang xây dựng
“chương trình hành động chung” nhằm thực hiện TMĐT vào năm 2005 đối với các nước phát triển và vào năm 2010 đối với các nước đang phát triển
Bộ trưởng kinh tế các nước trong khối ASEAN đã chính thức đề nghị các chính phủ chỉ đạo cho bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng triển khai TMĐT Tiểu ban điều phối về TMĐT được thành lập và đến đầu năm 2000 được sáp nhập với nhóm công tác về hạ tầng cơ
Trang 18sở thông tin để thành lập nhóm công tác về E - ASEAN Theo dự kiến, các nước ASEAN sẽ tiến hành ký kết hiệp định E - ASEAN và văn bản về giao dịch điện tử trong tháng 11/2000,
hy vọng tới năm 2003 sẽ có văn bản chính thức về thực hiện TMĐT cho tất cả các nước thành viên trong khối
Tất cả các nước trên thế giới đã đang rất khẩn trương, tích cực và có nhiều hoạt động thiết thực để triển khai và phát triển TMĐT Tại các nước phát triển TMĐT đã chiếm một phần quan trọng trong hoạt động thương mại nói chung
Trong tương lai, TMĐT được coi là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của các quốc gia, các khối kinh tế trong cuộc cạnh tranh quyết liệt mang tính khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc TMĐT chính là chìa khoá để nhân loại bước vào thế kỷ 21 - thế kỷ của xã hội tri thức Và đó không phải là một hiện tượng nhất thời mà là xu thế tất yếu không thể đảo ngược
II Thái độ của một số nước và khu vực trên thế giới đối với TMĐT
1 Đánh giá vai trò của TMĐT đối với nền kinh tế thế giới
TMĐT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu thế kỷ 21 Giá trị của kinh tế mạng không phải chỉ ở chỗ nó có thể lập tức tạo ra lợi nhuận và sự giàu có hữu hình cho xã hội, mà còn tạo ra một mô hình xã hội mới đề cao sức sáng tạo kinh tế của mỗi thành viên xã hội Nó đã làm thay đổi mạnh mẽ cuộc sống, công việc và cách nghĩ của con người, thúc đẩy kinh tế phát triển
Nhiều nhà dự báo chiến lược cho rằng, TMĐT sẽ đẩy nhanh hơn tiến độ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Vì vậy, TMĐT sẽ giúp các nước đang phát triển có cơ hội rút ngắn khoảng cách với các nước trên thế giới một cách nhanh chóng hơn Việc tận dụng được cơ hội mới mà TMĐT mang lại sẽ khẳng định vị trí kinh tế của quốc gia trong xã hội thông tin
Xét trên giác độ kinh doanh, TMĐT được coi là không thể thay thế trong chiến lược kinh doanh của các nước phát triển và khâủ hiệu của họ là: “hoặc là TMĐT, hoặc không tồn tại” Vì thế nó đã trở thành thứ vũ khí sắc nhọn mà các công ty sử dụng trong nền kinh tế cạnh tranh Nhưng xét trên giác độ thuế, tiềm năng phát triển của hình thức thương mại này sẽ là nguyên nhân làm đau đầu các cơ quan quản lý thu thuế của mọi quốc gia do tính chất toàn cầu của nó
Trang 19Ngoài ra, TMĐT còn mở ra cơ hội mới cho các ngân hàng với tư cách là nhà cung cấp
cơ sở hạ tầng, các nhà cung cấp thanh toán điện tử, bảo hiểm thanh toán, hoạt động giao dịch
và các nhà tài chính hỗ trợ Và như vậy, khi TMĐT phát tiển sẽ càng làm tăng sức cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng
2 Phát triển TMĐT ở Mỹ và một số nước, khu vực trên thế giới
Nhận thức được xu hướng tất yếu của TMĐT, hầu như tất cả các nước trên thế giới, cả các nước phát triển và đang phát triển đều có sự chuẩn bị để tham gia vào môi trường này Đi đầu trong cuộc chơi này vẫn là những nước công nghiệp phát triển, nhất là Mỹ, nhờ có một hạ tầng thông tin tiên tiến, mức xuất khẩu các sản phẩm tin học lớn nhất thế giới cùng các dịch
vụ tin học khác của Mỹ có mức xuất khẩu hơn 40 tỷ USD, mà việc giao dịch mua bán, sử dụng các sản phẩm này đều có thể thông qua mạng máy tính
Mỹ là nước tích cực nhất trong việc đưa ra những đề hướng, chính sách, các hướng giải quyết trong TMĐT Năm 1996, Bộ tài chính Mỹ cho ra mắt cuốn “Chính sách thuế đối với thương mại toàn cầu”, với mục đích ủng hộ tính trung hoà về thuế thu nhập, giữa điện tử và phi điện tử Cuốn sách cho rằng việc bảo đảm tính thống nhất trong TMĐT phải trở thành nhận thức chung trên toàn cầu, cần làm rõ quyền đánh thuế đối với TMĐT - tránh thuế trùng nhau Đến tháng 7/1997, Mỹ lại công bố “khung kết cấu TMĐT toàn cầu” do chính tổng thống Mỹ AlGor chỉ đạo nghiên cứu Khung kết cấu này kêu gọi chính phủ các nước bằng mọi khả năng giúp đỡ các xí nghiệp, công ty ứng dụng thương mại qua Internet và kiến nghị Internet sẽ là khu vực miễn thuế toàn cầu “khung kết cấu TMĐT toàn cầu” gồm 5 nguyên tắc
cơ bản: Xí nghiệp tư nhân cần giữ vai trò chủ đạo; Hạn chế những yêu cầu không cần thiết của chính phủ đối với TMĐT; Chính phủ tham gia TMĐT chỉ là để cung cấp một môi trường luật pháp thương mại hợp lý và ngắn gọn; Chính phủ phải thừa nhận tính độc đáo riêng của Internet; Thúc đẩy TMĐT trên cơ sở toàn cầu Ngoài ra, khung kết cấu còn bàn đến vấn đề thuế thương mại trong lĩnh vực TMĐT, hệ thống trả tiền điện tử, kỹ thuật thông tin, kết cấu
cơ sở điện tín , đưa ra những cơ sở thống nhất về pháp lý thương mại, bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, bả vệ quyền bí mật riêng tư của cá nhân trên mạng, sự an ninh của mạng Trước tiềm lực to lớn của TMĐT, mọi người đều thừa nhận rằng việc hình thành một khung kết cấu mang tính toàn cầu như trên nhằm đảm bảo sự phát triển không ngừng của TMĐT là điều hết sức cần thiết
Trang 20Ngày14/5/1998, Uỷ ban thương mại Thượng nghị viện Mỹ đã thông qua các dự luật miễn thuế cho Internet tạo điều kiện phát triển tự do hoá cho các xí nghiệp, công ty trên toàn nước Mỹ Ngày 20/5, Mỹ lại hối thúc các Bộ trưởng 132 nước thành viên trong Tổ chức buôn bán thế giới, nhất trí thông qua hiệp định miễn thuế ít nhất 1năm đối với các công ty, tổ chức
có giao dịch quốc tế thông qua Internet, điều này giúp cho mọi cơ sở kinh doanh sản xuất đều
có thể vượt “không gian không có biên giới địa lý” để chiếm lĩnh thị trường nước ngoài
Tuy nhiên, Mỹ vẫn phải nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên quan đến TMĐT
do các nhân tố không xác định của TMĐT như pháp luật không kiện toàn, sự kiểm soát về thuế quá mức của chính phủ, tính an toàn của Internet đều sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển của hoạt động TMĐT trên mạng
Bên cạnh Mỹ là Canada cũng đang bừng bừng tham vọng trở thành nước lãnh đạo về TMĐT với dự tính sẽ đạt mức giao dịch TMĐT trong nước trên 13 tỷ USD vào trước 2002 Chính sách TMĐT của Canada có bốn trọng điểm lớn:
Hình thành một nhận thức mới trong toàn dân, rằng nhất thiết phải dựa vào nền kinh tế số để phát triển;
Định ra những quy tắc thị trường rõ ràng và đúng đắn;
Nâng cao khả năng thu nạp giao dịch trên mạng của xa lộ thông tin cao tốc;
Khuyến khích và trợ giúp các tầng lớp xã hội nắm bắt và thực hiện mọi cơ hội buôn bán trên mạng
Đối với liên minh Châu Âu EU, nhờ có hệ thống cơ sở kỹ thuật vững vàng, hệ thống viễn thông hiện đại nên đã đạt được khá nhiều thành tựu trong việc phát triển của TMĐT Hiện nay ngoài mạng Internet, các nước EU đã ứng dụng TMĐT trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Để TMĐT tiếp tục phát triển, EU cũng rất chú trọng đưa ra những hướng chiến lược cụ thể Trước hết là đưa ra những cơ sở pháp lý cho hình thức kinh doanh mới mẻ mà hiệu quả này Tuy còn những bất đồng giữa các nước thành viên nhưng từ năm 1996, cơ quan điều hành EU đã thông qua những biện pháp, những công nhận chung về luật pháp giữa các nước này, đồng thời đưa ra cơ chế pháp lý toàn Châu Âu về điều tiết TMĐT Nỗ lực chung của các nước Châu Âu trong lĩnh vực TMĐT còn thể hiện ở việc tự do hoá thị trường viễn thông từ 1/1/98, các thị trườngviễn thông Châu Âu đã hoàn toàn mở cửa cho cạnh tranh và trong giai đoạn đầu của cuộc cạnh tranh này các nhà hoạt động viễn thông cả cũ và mới này đều được
Trang 21giảm thuế cho các hoạt động trong lĩnh vực viễn thông Dự kiến trong giai đoạn 1998 - 2000,
EU sẽ chi phí khoảng 4000 triệu ECU cho việc hình thành một cộng đồng thông tin mà hạt nhân là TMĐT
Để góp phần tham gia vào việc thúc đẩy quá trình phát triển và giải quyết những vấn đề của TMĐT, những năm gần đây, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đã tổ chức một loạt các hội nghị có liên qua đến TMĐT nhằm thảo luận về các vấn đề trong xã hội thông tin, mạng Internet, chế độ bảo vệ thông tin và quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật của TMĐT Tại hội nghị TMĐT cấp bộ trưởng mang chủ đề “một thế giới không biên giới quốc gia cho TMĐT toàn cầu” (5/1997), Bộ trưởng của 26 nước thành viên OECD cùng các đại diện của tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp đều thống nhất quan điểm : cần đưa ra những tiêu chuẩn kỹ thuật và những chính sách hợp lý để nâng cao hơn nữa lòng tin của giới thương mại
xã hội đối với TMĐT, định ra những tiêu chuẩn giao dịch chung trên phạm vi toàn cầu để bảo
vệ lợi ích cho người tiêu dùng Từ ngày 7 đến 9/10/1998, đã diễn ra Hội nghị “thị trường điện
tử toàn cầu” tại Canada Hội nghị này là một mốc đánh dấu những cố gắng to lớn mà các nước thành viên OECD đã thực hiện để phát huy hiệu quả, lợi ích kinh tế xã hội của TMĐT Bên cạnh đó, OECD còn đưa ra hàng loạt các khuyến nghị chính sách liên quan đến chính sách thuế như nâng cao hiệu quả và đơn giản hoá hệ thống thu thuế giao dịch điện tử, xác lập những giới hạn cụ thể về quyền hạn và nghĩa vụ thuế đối với hoạt động TMĐT qua Internet
Ngoài những nước, tổ chức và khu vực kể trên, TMĐT đã bắt đầu hình thành và phát triển ở một số nước và khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, tổ chức APEC, ASEAN và các nước thành viên, Austraylia
Sự phát triển của nền kinh tế Internet ở châu Á còn gặp nhiều thách thức Trước hết là
có những khoảng cách lớn trong quá trình phát triển ngành công nghiệp thông tin, ngành quan trọng đối với nền kinh tế Internet Tại Singapore và Hàn Quốc, 40% dân số đã hòa mạng máy tính tư nhân, nhưng tại ấn Độ và Indonesia, tỷ lệ này dưới 2% Có những hàng rào khác đang cản trở sự phát triển của nền kinh tế Internet ở Châu Á Rất ít người Châu Á có thẻ tín dụng
và họ có thói quen thích mua hàng trực tiếp Các ngân hàng của châu Á cũng không tin tưởng vào các cuộc giao dịch trên mạng
Nhận thấy sự cấp bách phải tham gia Internet, các nước Châu Á đang cố gắng đuổi kịp trong cuộc chạy đua này Nền kinh tế Hàn Quốc sẽ trải quả những thay đổi mạnh mẽ trong
Trang 22năm nay để thích nghi với Internet và công nghệ thông tin Tổng thống Hàn Quốc Kim Dea Jung cho biết năm 2000 sẽ trở thành một năm quan trọng đối với sự phát triển của một xã hội kiến thức và thông tin Ông nói năm nay Chính phủ Hàn Quốc sẽ dành 1.000 tỷ Won (879,2 triệu USD) để giúp tạo ra 5.000 công ty liên doanh trên máy tính, tạo thêm được hơn 100.000 việc làm Trong 5 năm tới, việc trao đổi thông tin qua máy tính sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn
100 lần so với hiện nay
Các nhà lãnh đạo ASEAN họp ở Manlila, Philippines tháng 11/1999 đã thỏa thuận khuyến khích việc hợp tác về kỹ thuật công nghệ thông tin và thương mại điện tử Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thảo luận với các đại diện của khu vực công nghệ thông tin về sự phát triển cơ sở hạ tầng của ngành thông tin trong khu vực Để khuyến khích hoạt động kinh doanh điện tử, chính phủ Philippines đang xem xét khả năng thành lập một khu vực đặc biệt cho các công ty chuyên về kinh doanh điện tử để cho phép họ sử dụng điện thoại quốc tế cạnh tranh
III Những thành công và những thất bại ban đầu trong việc ứng dụng TMĐT
1 Những lợi ích mà TMĐT đem lại cho nền kinh tế Mỹ
Mỹ là nước có vị trí hàng đầu và đã thu được hiệu quả rất lớn nhờ cuộc cách mạng tin học mà nổi bật là nền kinh tế mạng Các xí nghiệp, công ty sử dụng hệ thống máy tính tổng hợp để sản xuất và thực hiện chế độ quản lý theo “hệ thống tham dự và liên hệ với nhau” Nền kinh tế Mỹ phát triển chủ yếu không biểu hiện ở việc tăng số lượng mà phần lớn phản ánh sự nâng cao nhanh chóng chất lượng và hiệu quả Từ đầu năm1980 đến nay, việc nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ của Mỹ tương đương với 50% tốc độ tăng trưởng GDP, một thành tựu trước đây không ai dám mơ ước Từ 1990 đến nay, năng suất lao động ở Mỹ tăng trung bình 2,5% hàng năm Tỷ lệ lạm phát giảm từ hai con số đầu thập kỷ 80 xuống còn chưa đầy 3% những năm đầu thập kỷ 90
Kỹ thuật tin học, đặc biệt là Internet đã dần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về thời gian và không gian trong và ngoài nước tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông các nhân tố kinh tế như hàng hoá, dịch vụ, nguồn vốn và nguồn tri thức trong phạm vi toàn cầu, khiến ngày càng nhiều công ty, xí nghiệp Mỹ tham gia vào kinh doanh toàn cầu 10 năm trước đây,
số xí nghiệp Mỹ kinh doanh trên phạm vi toàn cầu chỉ chiếm 20% trong số các xí nghiệp của
Mỹ, nhưng hiện nay con số này đã vượt quá 60% Năm 1999 số người Mỹ mua hàng trên mạng là 39 triệu người, tăng gấp đôi so với 17 triệu người năm 1998 Đã có 34% số hộ gia
Trang 23đình người Mỹ nối mạng Internet và 17% số hộ đã mua bán hàng qua mạng Theo Công ty dịch vụ thông tin toàn cầu Yankee Group, hiện nay ở Mỹ có 23% số công ty "thị trường trung gian" có trang Web kinh doanh điện tử trên mạng Internet, có 38% công ty lớn có trang Web kinh doanh điện tử trên mạng Những công ty xếp loại công ty" thị trường trung gian" là những công ty có hơn 500 nhân viên,thu nhập từ 100 triệu đến 1 tỷ USD Ước tính ở Mỹ hiện
có khoảng 12.000 công ty "thị trường trung gian"
Từ 1992, Mỹ đã lần lượt giành lại được địa vị là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới và có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới từ tay Đức và Nhật Bản Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ năm
1990 tăng gấp đôi so với năm 1980 và dự kiến năm 2000 sẽ tăng gấp 4 lần năm 1990 Thời kỳ phồn vinh của nền kinh tế Mỹ ngày càng kéo dài Từ 1954 đến 1982, Mỹ có 36 chu kỳ ngắn, bình quân mỗi chu kỳ kéo dài 48 tháng trong đó thời kỳ phồn vinh kéo dài 29 tháng Nhưng từ đầu 1980, Mỹ có hai chu kỳ bình quân kéo dài 100 tháng trong đó thời gian phồn vinh kéo dài
92 tháng Và hiện nay, thời kỳ phồn vinh của nền kinh tế Mỹ đã vượt xa mọi kỷ lục: hơn 110 tháng mà chưa có dấu hiệu suy thoái
Năm 1991, máy tính cá nhân mới bắt đầu thâm nhập các gia đình Mỹ, nhưng đến cuối thập kỷ, máy tính đã phổ cập hầu hết các gia đình, biến các công ty phần mềm như Microsoft
và Intel trở thành những người khổng lồ trong nền kinh tế mới Mạng Internet và TMĐT đã trở nên thông dụng đối với các công ty Mỹ, đem lại cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet như AOL và Amazon những hợp đông kinh doanh bạc tỷ Một nghiên cứu của Công ty Cisco Systems và trường Đại học Texas công bố tháng 6/1999 cho biết, mạng Internet đã đem lại cho nước Mỹ 300 tỷ USD thu nhập và 1,2 triệu việc làm Trong bốn năm tính đến năm 1999, thu nhập về Internet đã tăng 174,5% Dịch vụ thương mại trên mạng phát triển nhanh hơn mọi
dự đoán và có thu nhập vượt ngưỡng 102 tỷ USD trong năm 1998, gần bằng GDP của Thụy Sĩ
2 Những thành tựu mà nền kinh tế thế giới đạt được trong ứng dụng TMĐT
Theo thông tin từ công ty Dữ liệu Quốc Tế IDC, tính đến nay hoạt động kinh doanh trên mạng Internet đã tạo việc làm cho hơn 2,5 triệu lao động trên toàn thế giới, doanh thu từ Internet trong năm 1999 tăng 74% so với năm 1998 Ước tính, hiện có hơn 50000 công ty có nguồn thu chủ yếu là từ các hoạt động liên quan đến Internet Dự báo tới năm 2001, doanh thu
từ các dịch vụ trực tuyến toàn cầu sẽ đạt trên 1000 tỷ USD
Trang 24Với sự tài trợ của tập đoàn Systems Cisco , các nhà nghiên cứu đã làm việc với hơn
3000 công ty thương mại hàng hoá và dịch vụ trực tuyến để tìm kiếm những thành tựu kinh doanh mà các công ty này gặt hái được trong năm 1998 Chỉ riêng thương mại “truyền thống” trên mạng Internet đã mang lại hơn 1 tỷ USD, chẳng hạn như số hàng bán về sách, đĩa CD và
đồ chơi của các nhà hàng bán lẻ như Amazon.com, Bamsandnobles.com và E.Toy Những đại
lý môi giới trung gian như các đại lý du lịch và các đại lý chứng khoán trực tuyến cũng đã kiếm được khoảng 58 tỷ USD
Tuy nhiên, gần một nửa tổng thu nhập của mạng Internet có được là nhờ số hàng bán phần cứng và phần mềm cần thiết đối với việc buôn bán điện tử và xây dựng hạ tầng cơ sở Internet mang lại
Sự tăng trưởng với tốc độ cao về tiềm năng kinh tế của mạng Internet đã làm cho các nhà nghiên cứu hết sức lúng túng trong ba năm qua, cứ sau mỗi năm một, thu nhập tạo ra trên mạng Internet lại được tăng gấp đôi và hiện chưa thấy có dấu hiệu chững lại
Khi mạng Internet mang lại cho mỗi công ty sử dụng mạng khả năng tiềm tàng biến mạng này thành thành cơ sở công bố riêng của mình, thì cũng chính là lúc nó giúp cho các nhà kinh doanh giảm được nhiều chi phí trong việc xây dựng các cửa hàng và tạo ra được một cơ
sở khách hàng ở cấp độ toàn cầu
3 Những thất bại ban đầu trong việc ứng dụng TMĐT
Đối với nhiều công ty TMĐT, vinh quang và sự giàu có đã không đến với họ Thay vào
đó, họ phải đối mặt với sự khan hiếm tiền mặt và hụt giá cổ phiếu và điều quan trọng là không
hề kiếm được lợi nhuận
Vài tháng trước đây, được làm việc cho một công ty “ dot.com”, hay công ty qua mạng
là rất tuyệt Rất nhiều nhà đầu tư đã đổ tiền vào các công ty dot-com Nhưng giờ đây “cơn sốt vàng” đã qua đi Sẽ chỉ còn những công ty nào thật vững mới tồn tại được
Ở Châu âu, công ty tư vấn Internet Framtidsfabriken AB (một thời là ví dụ cho sự thành công của Thụy Điển), sẽ phải cắt giảm 340 người lao động để tiết kiệm tiền Tại Anh, nhà cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu - công ty Freeserve - đang trong quá trình thảo luận
để thay đổi chủ Công ty bán lẻ quần áo trên mạng của Anh Boo.com cũng đã sụp đổ trong 5 tháng vừa qua vì các khoản chi phí khổng lồ vượt quá khoản thu từ khách hàng Tại Đức, công
ty dịch vụ Internet Gigabell là công ty đầu tiên trong chuỗi công ty Neuer Markt đã lâm vào
Trang 25tình trạng không trả được nợ hồi tháng 9 vừa qua, sau 3 năm hoạt động Các nhà phân tích cho rằng Neurer Markt sẽ thành công trong tương lai, song với quy mô nhỏ hơn trước, làm cho
8000 công nhân bị thất nghiệp (kể từ tháng 1/2000)
Cũng trong tình cảnh như vậy, hàng loạt công ty dot-com của Mỹ đang chết dần Theo nghiên cứu vừa công bố của Webmerger.com (một công ty nghiên cứu và cung cấp dịch vụ Internet ở San Francisco) thì ít nhất 130 công ty dot-com đã đóng cửa kể từ tháng 1/2000 và nhịp độ này đang tăng lên Chỉ riêng trong hai tuần đầu tháng 11, 21 công ty dot-com đã phải đóng cửa, so với 22 công ty đóng cửa trong cả tháng 10 và là con số lớn nhất nói lên sự thất bại của các công ty dot-com cho tới nay Các trang Web TMĐT như Furniture.com và Joysmart.com chiếm tới 60% tổng số các công ty Internet phải đóng cửa Các công ty B2B chiếm khoảng 20%, trong nhóm này các công ty cung cấp nội dung trang Web như APB news.com chiếm 1/4 Số các công ty dot-com làm ăn thua lỗ đã tăng lên nhanh chóng từ tháng 4/2000, khi nhu cầu thị trường liên quan đến Internet bắt đầu suy giảm Trước thời điểm này, các công ty Internet đạt đến thời cực thịnh về vốn đầu tư và các kỷ lục bán hàng Giá cổ phiếu của nhiều công ty dot-com tăng lên đến gần 100USD trước khi thị trường tụt dốc Hiện nay, nhiều cổ phiếu tụt giá chỉ còn ở mức một con số
Hơn 60 công ty đã phải giảm bớt nhân viên Các công ty thông tin nội dung Web và các nhà bán lẻ trực tuyến như Oxygen Media, Amazon.com và AllAdvantage.com chiếm một phần lớn trong lĩnh vực này, đẩy số nhân viên bị sa thải lên mức kỷ lục 5677 người vào tháng 10/2000 Các nhà phân tích cho rằng số công ty Internet phá sản trong thực tế còn cao hơn nhiều so với con số đã thống kê vì trong số này có nhiều công ty Internet nhỏ ít người quan tâm Theo số liệu thống kê của Webmerger.com, California là nơi có nhiều công ty dot-com đóng cửa nhất, chiếm 35%, tiếp theo là New York tới 11% Các công ty Châu Âu chiếm 8% trong tổng số công ty Internet bị phá sản
Về nguyên nhân người ta cho rằng, cái gọi là “nền kinh tế mới” đang phải chịu quy định của những luật đầu tư kiểu cũ đang trong quá trình đổi mới, các công ty kinh doanh điện
tử đơn giản là gặt hái những gì mà họ đã gieo qua việc chen lấn trên thị trường và ra mắt công chúng quá sớm trước khi họ chứng tỏ được mô hình kinh doanh của mình, các nhà đầu tư chạy đua để đổi lấy lợi nhuận tiềm năng sẽ phải chấp nhận rủi ro cao cho đến khi nào thị trường có thể đánh giá được các tiêu chuẩn giá trị Trong quá trình đó, những công ty yếu
Trang 26kém, ít may mắn sẽ bị xoá bỏ Mặt khác, các công ty luôn đặt ra và thổi phồng những mục tiêu vượt quá khả năng của họ Tốc độ cất cánh quá phi thường của Internet cũng làm cho mọi người choáng váng về một viễn cảnh hứa hẹn Nhưng chính tốc độ sụp đổ của các công ty cũng làm mọi người choáng váng bởi chưa quen với thị trường không bền vững như vậy Vì thế các công ty đặc biệt là các công ty dot-com cần phải học cách đối phó với thị trường ấy.
Theo các chuyên gia, phải đến giữa sang năm cuộc khủng hoảng của các công ty com mới chấm dứt Khi đó, những công ty sống được là công ty có hình mẫu kinh doanh tốt, nguồn vốn dồi dào Đó cũng sẽ là các mục tiêu đáng tiền nhất
Trang 27dot-CHƯƠNG III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TMĐT Ở
VIỆT NAM
I TMĐT - những bước đi ban đầu
1 TMĐT - bước khởi đầu còn lắm gian nan
Để tiếp cận với TMĐT cần phải trải qua ba bước Đó là chuẩn bị, chấp nhận và ứng dụng Chuẩn bị ở đây là một loạt các hoạt động từ nâng cao nhận thức, trình độ kiến thức và xác minh mức độ cần thiết của TMĐT, và quyết định tiếp cận với nó cho đến việc hoạch định những chỗ cần phải thay đổi cho thích ứng trên mọi bình diện Quá trình này được kéo dài cho đến khi xây dựng được một cơ sở hạ tầng ổn định cần thiết Chấp nhận là việc thừa nhận tính pháp lý của TMĐT sau khi đã có hệ thống luật thích ứng và phù hợp cùng với một môi trường thuận lợi Cuối cùng, ứng dụng có nghĩa là từng bước áp dụng TMĐT vào mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực, bắt đầu từng phần cho tới khi hoàn thiện
Theo đánh giá của các cơ quan hữu quan, hiện nay Việt Nam đang tiến hành giai đoạn đầu tiên của bước thứ nhất Một số cuộc hội thảo về TMQT đã được tổ chức và một số các chương trình hợp tác nghiên cứu cũng được thực hiện nhằm nâng cao và mở mang kiến thức
về TMĐT Cùng với xu thế chung, Việt Nam đã cùng APEC và ASEAN tiến hành nhiều cuộc thảo luận lập kế hoạch liên quan dến TMĐT Và dự án về thành lập Hội đồng quốc gia về TMĐT và một chương trình hành động quốc gia sơ bộ đã được đệ trình để Chính phủ xem xét Trên cơ sở đó, nhiều công ty đã bắt đầu tiến hành song vẫn mang tính chất thử nghiệm
Nếu như năm 1998 cả nước mới có khoảng 12000 thuê bao thì đến hết 1999, con số này
là gần 50000 người Mức độ tăng trưởng bình quân lên đến 300%/năm Như vậy quả là rất cao nhưng tính theo con số tuyệt đối thì hiện nay lượng người sử dụng còn rất nhỏ Theo thống kê
sơ bộ của công ty VCC mới chỉ có khoảng 1000 đến 2000 trang Web có tính thương mại (của các doanh nghiệp), khoảng từ 50 đến 100 trang Web của các tổ chức xã hội Trên thực tế chỉ
có trên 500 trang Web có tên miền riêng và trong số đó chỉ có ba trang Web được coi là có hoạt động thương mại thực sự, đó là Cybermail của VNN, Bluesky của siêu thị điện tử máy tính Hà Nội, và thế giới sách của Fahasa TP Hồ Chí Minh Thời gian đầu, ngay khi nối mạng
Trang 28Internet, đã có hàng nghìn người truy cập vào trang Web của các siêu thị đó, nhưng rồi thưa dần và đến nay thì đã vắng hoe.
Tuy nhiên, việc khai thác TMĐT của các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở cấp độ sử dụng thư điện tử (e-mail) để trao đổi thông tin, truy cập Internet để tìm thông tin, xây dựng trang Web để quảng cáo sản phẩm dịch vụ chứ chưa có mấy doanh nghiệp tiến hành được các giao dịch trực tuyến theo đúng nghĩa của TMĐT là đặt hàng và thanh toán qua mạng
Siêu thị điện tử đầu tiên do công ty phát triển phần VASC mở ra vào tháng 12/1998 đã đánh dấu bước phát triển đầu tiên của TMĐT ở Việt Nam Thông qua website của siêu thị này, người tiêu dùng có thể mua bất cứ loại mặt hàng gì qua mạng từ cây kim tới chiếc xe hơi Tuy nhiên do còn quá mới nên kết quả là doanh số mua bán qua mạng là không cao và việc mua bán mới chỉ là hình thức bởi người bán vẫn phải mang hàng đến nhà thì người mua mới thanh toán tiền Ngay cả siêu thị máy tính Bluesky ở Hà Nội, được coi là có hoạt động thương mại thực sự, tỷ lệ giao dịch qua mạng cũng chỉ chiếm khoảng 2 - 5% trên tổng doang thu của siêu thị Trung bình mỗi tháng có khoảng 20-25 đơn đặt hàng qua mạng song vẫn tiến hành thanh toán theo phương thức thông thường tức là trả bằng tiền mặt và kèm thêm chứng từ trên giấy
Những nguyên nhân cản trở phát triển TMĐT ở Việt Nam đã được nói đến nhiều nhưng nổi bật nhất là giá cước truy cập Internet còn quá cao so với thu nhập của người dân Bản thân các dịch vụ Internet còn hạn chế Người ta chủ yếu dùng Internet để gửi thư điện tử, truy cập trang Web, dịch vụ nhóm tin, trò chuyện trên mạng và tìm tập tin , một số các dịch vụ mới trên Internet có thể tiết kiệm nhiều chi phí cho doanh nghiệp như điện thoại qua Internet, fax qua Internet, mạng riêng ảo cho doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa được phép sử dụng ở Việt Nam
Ngoài ra, còn có ý kiến cho rằng, TMĐT chưa phát triển mạnh là do việc sử dụng thẻ tín dụng chưa phổ biến ở Việt Nam, trong khi nhiều người Việt Nam lại có thói quen dùng tiền mặt trong các giao dịch, rất ít người mở tài khoản hoặc dùng séc trong thanh toán Một nguyên nhân nữa là khả năng chống thâm nhập trong hệ thống mạng của Việt Nam hiện còn hạn chế Mà nếu thiếu một hệ thống bảo mật thông tin hữu hiệu thì rất khó thuyết phục khách hàng mua bán qua mạng Nhược điểm lớn nhất đang tồn tại trên các trang Web thương mại đó
là mục tiêu chưa được xác định rõ ràng Phần lớn các trang Web thương mại của Việt Nam
Trang 29chưa đánh giá đúng nhu cầu và định hướng phát triển trang Web của công ty, chưa trả lời rõ các câu hỏi quảng cáo và giới thiệu về công ty như thế nào, trao đổi thông tin giữa các thành viên trong công ty với khách hàng, huấn luyện đào tạo qua mạng và nhất là bán hàng qua mạng ra sao Nhiều trang Web Việt Nam cũng chưa xây dựng được một hệ thống truyền tin và phản hồi trên Web
Thực tế này cho thấy, để hội nhập và bứt lên trong cuộc chạy đua kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tập trung mọi nỗ lực để phát triển mạnh TMĐT trong thời gian tới
Mặc dù vậy, đây vẫn là thành quả đáng khích lệ khi mà Việt Nam mới chỉ chính thức hoà mạng từ tháng 11/1997, và sẽ là những nhân tố chính cho phát triển TMĐT ở Việt Nam Trên cơ sở những hoạt động sơ khai ban đầu, một số doanh nghiệp và cả từ phía chính phủ cũng đang chuẩn bị tiến hành thử nghiệm TMĐT Một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực này là ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Ngân hàng này hiện đang trong quá trình xúc tiến việc thử nghiệm điện tử thông qua hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng Mục tiêu chủ yếu là tạo dựng những bước đi ban đầu cho TMĐT ở Việt Nam và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoà nhập thị trường thương mại quốc tế
2 Thị trường công nghệ thông tin (CNTT) và xu hướng phát triển mạng Internet ở Việt Nam
Theo nhận định của ông Robert Hughes, Tổng giám đốc của Hewlett
Packard (HP) tại Việt Nam thì thị trường CNTT của Việt Nam vẫn đang phát triển
Rất nhiều khách hàng tại Việt Nam đã biết được lợi ích của việc áp dụng những kỹ
thuật mới trong hoạt động kinh doanh của mình , nhưng cho đến bây giờ có rất
nhiều khách hàng chưa tận dụng hết những kỹ thuật cao cấp này Họ hy vọng
những sản phẩm CNTT ở Việt Nam thường chú trọng vào những sản phẩm hơn là
các giải pháp về mạng Khuynh hướng này đang dần được thay đổi
Thị trường CNTT của Việt Nam năm 1997 là 156 triệu USD Với giả định tỷ
lệ phần mềm và dịch vụ năm 1998 là 20%, năm 1999 là 22%, thị trường CNTT
năm 1998 là 180 triệu USD và năm 1999 là 195 triệu USD Tốc độ tăng trưởng thị
trường CNTT của nước ta tăng trung bình 20% Chỉ tính riêng Thành phố Hồ Chí
Minh, giá trị sản phẩm CNTT được mua bán trên thị trường năm 1998 khoảng 70
triệu USD, bằng 40% thị trường CNTT cả nước Tốc độ tăng trưởng bình quân từ
1997 đến 1999 là khoảng 30% một năm Hầu hết các doanh nghiệp và cơ quan đều
Trang 30sử dụng máy tính Nhiều hệ thống tin học trị giá hàng trăm ngàn thậm chí hàng
triệu USD cũng đã được lắp đặt
Mặc dù tổng tiêu thụ CNTT năm 1998 là 180 triệu USD( quá ít so với vài
chục tỷ ở các nước Đông Nam Á) nhưng thị trường Việt Nam vẫn là “miền đất
hứa” cho các hãng sản xuất thiết bị thông tin khổng lồ trên thế giới Họ đã ồ ạt vào
Việt nam trong mấy năm qua để tích cực chuẩn bị thị trường cho tương lai Chính
điều này đã khiến cho các nhà phân phối của Việt Nam phải ra sức cạnh tranh thì
mới có cơ may tồn tại Bởi các nhà phân phối CNTT trong nước vẫn đang bị lép vế
so với các nhà phân phối nước ngoài, chỉ chiếm 1/3 tổng số công ty phân phối
(1999)
Từ tháng 4/2000, công ty phát triển Đầu tư công nghệ FPT đã hợp tác với
Harvey Nash trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ phát triển phần mềm cho thị
trường Châu Âu Quan hệ hợp tác này trong vòng 5 năm sẽ mang lại cho FPT
khoản doanh thu 10 tỷ USD Ngay trong 2001, doanh thu dự kiến sẽ là 1 triệu
USD Như vậy, dịch vụ phần mềm đã có hướng phát triển mới, trong tương lai hệ
thống CNTT sẽ được nâng cấp
Nếu cơ sở hạ tầng viễn thông được cải thiện, cộng với nguồn nhân lực sẵn
có, tiềm năng công nghệ phần mềm của Việt Nam có thể đạt tới con số 0,5 tỷ USD
Tháng 11/1997, Việt Nam chính thức gia nhập vào mạng Internet Mặc dù
muộn hơn so với các quốc gia khác song nó đã đánh dấu bước khởi đầu quan trọng
cho phát triển TMĐT, để bắt kịp với xu thế thời đại
Sau hơn một năm hoạt động (tính đến đầu năm 1999), mạng Internet Việt
Nam đã có 17000 khách hàng, trong đó có 11500 khách hàng là của mạng VNN
thuộc Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam và do VDC (Công ty điện toán
và truyền số liệu) trực tiếp quản lý và đến cuối năm 1999 cả nước có gần 50000
người truy cập Internet, mức độ tăng trưởng thuê bao lên đến 300%/năm Theo số
liệu năm 1999, tốc độ tăng trưởng số khách hàng của mạng này đạt mức khá cao là
23% Thời điểm này,VNN được coi là nhà cung cấp dịch vụ Internet đóng vai trò
chủ đạo với thị phần là 65%
Tốc độ phát triển Internet ở Việt Nam là khá nhanh, cả bề rộng và chiều sâu
Theo VCD, năm 1999 chỉ tính riêng ở TP Hồ Chí Minh, số khách hàng sử dụng
dịch vụ Internet VNN là 6300 người, chiếm 55% thị phần Còn tính trên toàn quốc,