Để có thể sử dụng dịch vụ ADSL, bạn phải có một đường dây điện thoại được đăng ký chuyển sang công nghệ ADSL nhưng vẫn duy trì liên lạc điện thoại bình thường, một modem ADSL và một thiế
Trang 1Bạn có thấy ngày càng có nhiều điểm dịch vụ Internet “kiêu hãnh” treo những chiếc băng-rôn quảng cáo mình xài “đường truyền Internet tốc độ cao ADSL”? Ở Việt Nam, cho tới thời điểm cuối tháng 4-2004 này có hai nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet ADSL là VNN (với Mega VNN) và FPT (MegaNET và MegaBIZ)
ADSL (đọc là ây-đi-ét-eo) viết tắt từ asymmetric digital subscriber line
(đường dây thuê bao số bất đối xứng) Đây là một công nghệ truyền dữ liệu mới cho phép gửi nhiều dữ liệu hơn trên các đường dây điện thoại bằng đồng đang tồn tại (POTS, plain old telephone service, dịch vụ điện thoại cũ đơn giản) Trong khi POTS bị hạn chế tốc độ truyền tải ở 52Kbps, ADSL hỗ trợ tốc độ truyền tải dữ liệu (data rate) từ 1,5 - 9Mbps khi nhận dữ liệu (gọi là tốc độ tải xuống, downstream)
và từ 16 – 640Kbps khi gửi dữ liệu đi (tốc độ tải lên, upstream) Vì thế, ADSL còn được gọi là công nghệ Internet băng rộng (broadband)
Sở dĩ gọi là “bất đối xứng” (Asymmetric) vì trong công nghệ này, tốc độ tải lên Internet bao giờ cũng chậm hơn rất nhiều so với tải từ Internet xuống Thật ra, tình trạng này cũng xảy ra với giao thức Dial-up, khi tốc độ download luôn cao hơn upload, chỉ có điều là không quá chênh lệch như ADSL
Trang 2có thể đạt tốc độ truyền tải tối đa là 2Mbps (cho chiều tải xuống) và 640Kbps cho chiều tải lên Trong khi MegaNET và MegaBIZ giới thiệu mình có khả năng truyền tải 3-4Mbps (chiều xuống) và 640Kbps (chiều lên) Đó là những tốc độ Internet
“choáng cả mình mẩy tứ chi” khi mà kết nối theo phương thức “cổ điển” dial-up rán hết mức cũng chỉ đạt 56Kbps (về lý thuyết)
Trang 3Để có thể sử dụng dịch vụ ADSL, bạn phải có một đường dây điện thoại được đăng ký chuyển sang công nghệ ADSL (nhưng vẫn duy trì liên lạc điện thoại bình thường), một modem ADSL và một thiết bị splitter (hay là bộ lọc Line Filter)
để tách riêng tín hiệu thoại và tín hiệu dữ liệu
Bộ nhớ đệm Cache
Thời L2 Cache còn phải nằm trên mainboard
Khi nghe giới thiệu về CPU, bạn ắt biết tới các thuật ngữ L1 Cache, L2 Cache, L3 Cache
Cache (đọc là kets, hay còn gọi là cạc) là tên gọi của bộ nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn xài liền không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về) Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập
Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là
memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa)
* Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất
có hiệu quả Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn
Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các bộ vi xử lý Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium
là 16 KB Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1) Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2) Các cache này nằm
Trang 4giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache
CPU Slot 1 dạng cartridge với L2 Cache nằm cạnh nhân CPU
* Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa,
nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong
bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng
Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache)
Trở lại chuyện bộ nhớ cache Hồi thời Pentium đổ về trước, bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1 Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc độ CPU Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz Sang Pentium III cũng vậy Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache) Lúc đó, tốc độ L2
Trang 5Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370
CPU Socket 370 với L2 Cache nằm ngay trên nhân CPU
Như đã nói, dung lượng của Cache CPU lợi hại lắm nghen Phổ biến nhất là L2 Cache là một chip nhớ nằm giữa L1 Cache ngay trên nhân CPU và bộ nhớ hệ thống Khi CPU xử lý, L1 Cache sẽ tiến hành kiểm tra L2 Cache xem có dữ liệu mình cần không trước khi truy cập vào bộ nhớ hệ thống Vì thế, bộ nhớ đệm càng lớn, CPU càng xử lý nhanh hơn Đó là lý do mà Intel bên cạnh việc tăng xung nhịp cho nhân chíp, còn chú ý tới việc tăng dung lượng bộ nhớ Cache Do giá rất đắt, nên dung lượng Cache không thể tăng ồ ạt được Bộ nhớ cache chính L1 Cache vẫn chỉ ở mức từ 8 tới 32 KB Trong khi, L2 Cache thì được đẩy lên dần tới hiện nay cao nhất là Pentium M Dothan 2 MB (cho máy tính xách tay) và Pentium 4 Prescott
1 MB (máy để bàn) Riêng dòng CPU dành cho dân chơi game và dân multimedia
“prồ” là Pentium 4 Extreme Edition còn được bổ sung L3 Cache với dung lượng 2
MB Đây cũng là CPU để bàn có tổng bộ nhớ cache lớn nhất (L1: 8 KB, L2: 512 KB, L3: 2 MB)
Chipset và chip
Đúng như cái tên cúng cơm của chúng, hai thuật ngữ này có liên hệ dây mơ
rễ má với nhau nhưng lại khác nhau
Chipset (đọc “chíp-sét”) là bộ chíp gồm nhiều con chíp (hay một con chíp tích hợp chức năng của nhiều con chíp)
Chip là một con chíp
* CHIP:
Trang 6Những kiểu đóng gói chip
Nói một cách bài bản, chíp là một mẩu nhỏ vật liệu bán dẫn (hiện thường sử dụng silicon) có nhúng trên đó một mạch tích hợp (integrated circuit) Một con chíp điển hình nhỏ chưa tới 1,6 cm vuông nhưng có thể chứa tới hàng triệu thành phần điện tử (tức transitor) Các công nghệ và vật liệu sản xuất mới giúp kích thước và trọng lượng của con chíp ngày càng thêm nhỏ, thêm nhẹ Với công nghệ sản xuất 0,13-micron, một con chíp GPU NVIDIA GeForce 6800 Ultra chứa tới 222 triệu transistor
Có những loại chíp khác nhau Thí dụ, chíp CPU (bộ vi xử lý) chứa đựng toàn
bộ một đơn vị xử lý, trong khi chíp bộ nhớ chỉ chứa bộ nhớ trống rỗng
Chíp hiện được đóng gói với nhiều dạng khác nhau Ba kiểu đóng gói chính là:
- DIP (Dual In-Line Package): Kiểu đóng gói hàng đôi này có ở các con chíp dạng “bọ” (bug) truyền thống, với 8 tới 40 chân được xếp thành hai hàng
- SIP (Single In-Line Package): Đóng gói hàng đơn này với các chân cắm chạy thành một hàng như một cây lược
- PGA (Pin-Grid Array): Kiểu đóng gói chân sắp xếp thành vỉ như lưới này được dùng cho những con chíp hình vuông với các chân cắm được bố trí trong những ô vuông đồng tâm Ngoài loại CPGA (Ceramic Pin Grid Array) với chân đế bằng sứ trước đây, người ta hiện đang sử dụng loại PPGA (Plastic Pin Grid Array) với chân đế bằng nhựa
Ngoài ra, với bộ nhớ, còn có một loại đóng gói là SIMM (Single In- Line
Memory Module) mà có thể tới 9 con chíp được gắn thành một hàng trên một bo mạch nhỏ SIMM có đường dẫn (path) 32-bit Sau này, có thêm DIMM (Dual In-Line Memory Module) với các con chíp xếp thành hai hàng và có đường dẫn 64-bit Sẵn đây, bạn cũng cần phân biệt, một thanh bộ nhớ SDRAM hay DDR gọi là một
Trang 7module (memory module) Trên đó có hàn hay gắn những mẩu silicone nhỏ gọi là con chíp (memory chip)
Còn một kiểu đóng gói thường được Intel dùng cho một số con chíp trong bộ chipset là MBGA (Micro Ball Grid Array) không dùng chân cắm mà là các viên bi hợp kim siêu nhỏ
Chưa hết Ở thế hệ CPU mới sắp tới là Prescott và Tejas có giao diện Socket
775, Intel đưa ra một loại đóng gói chíp mới gọi là LGA (Land Grid Array) thay các chân cắm bằng các điểm tiếp xúc Cụ thể, CPU LGA775 sẽ có 775 điểm tiếp xúc, trong khi CPU PPGA478 có 478 chân
* CHIPSET:
Bộ chipset gồm một số mạch tích hợp được thiết kế để thực hiện một hay nhiều chức năng có liên quan với nhau Các thế hệ chipset mới thường được bao gồm các chức năng mà trước đây phải cần tới hai hay nhiều bộ chipset riêng rẽ Trước đây, bộ chipset gồm có hai hay nhiều con chíp vật lý riêng Ngày nay, trong một số trường hợp, nguyên cả bộ chipset có thể được tích hợp vào trong một con chíp
Bộ chipset Intel 865PE
Trong thực tế, thuật ngữ chipset thường được dùng để chỉ chức năng cốt lõi của một mainboard Nói cho dễ hiểu, chipset là bộ chíp chủ điều khiển mainboard
Và mainboard được thiết kế dựa trên các chức năng công nghệ mà một bộ chipset
hỗ trợ Đó là lý do mà bạn thấy người ta gọi mainboard chipset 845, mainboard chipset 865,
Trang 8Chẳng hạn, bộ chipset Intel 865PE gồm có hai con chip 82865PE (MCH) và 82801ER (ICH5-R) Bạn chú ý, người ta gọi là “bộ chipset Intel 865PE” chứ không phải là “con chíp Intel 865PE”
- Chíp Intel 82865PE MCH 760 chân hỗ trợ CPU Pentium 4 có công nghệ siêu phân luồng HT, bộ nhớ DDR400, mode Dual Channel (riêng con chíp 82865G
(MCH) của bộ chipset i865G thì tích hợp cả nhân xử lý đồ họa Intel Extreme
Graphics 2)
- Chíp Intel 82801ER (ICH5-R) có 460 viên bi tích hợp lủ khủ các bộ điều khiển (controller) các thiết bị I/O như Ultra ATA 100, Serial ATA- RAID-0, USB 2.0,
âm thanh AC'97 có 6 kênh, LAN, EHCI, ASF,
Sơ đồ bộ chipset Intel 865G với hai con chíp 82865G và ICH5/ICH5-R
ASPI
Khi cài đặt phần mềm ghi đĩa CD, xử lý video, bạn thường bị yêu cầu phải có driver ASPI trong máy Nói nôm na là ASPI “cặp kè chấm muối mè” với cái ổ ghi đĩa CD hay DVD của bạn.
ASPI viết tắt từ Advanced SCSI Programming Interface (giao diện lập trình SCSI tiên tiến),
một đặc tả giao diện do hãng Adaptec, Inc phát triển Nó mô tả cách một chương trình ứng dụng
có thể liên lạc với một thiết bị SCSI (Small Computer System Interface, giao diện hệ thống máy tính nhỏ) thông qua một driver thiết bị SCSI phổ biến Nhiệm vụ của nó là gửi các lệnh tới một
Trang 9adapter chủ (host adapter) SCSI ASPI tương thích với hầu hết các hệ điều hành và đã trở thành một tiêu chuẩn công nghiệp cho việc điều khiển các thiết bị SCSI Nó cung cấp một lớp “trừu tượng” che giấu các chi tiết không liên quan về host adapter trước mắt nhà lập trình, không làm cho họ thêm rối rắm Nó tiêu chuẩn hóa giao diện này để làm đơn giản hóa việc phát triển ứng dụng ASPI cho phép các nhà lập trình phát triển các ứng dụng và các bộ driver điều khiển thiết bị làm việc với tất cả các adapter SCSI tương thích ASPI.
Để ASPI vận hành cần phải có driver thiết bị, do nhà Adaptec bào chế Đây là một chương trình hay driver phần mềm dùng giao thức ASPI để giao tiếp với bus SCSI, thật sự tương tác với thiết bị SCSI Người ta có thể sắp xếp chúng như sau: ứng dụng/tiện ích, ASPI, driver ASPI và card SCSI
Tất cả các công cụ CD Ripper (trích xuất dữ liệu từ CD) đều cần có driver ASPI để truy xuất các ổ đĩa CD-ROM/CD-RW/DVD khi chúng đọc dữ liệu Compact Disc Digital Audio (CDDA) trên đĩa
Do Windows 95/98/ME đã bị mất khả năng truy xuất trực tiếp thiết bị SCSI, bạn cần phải cài đặt driver ASPI nếu xài các hệ điều hành này Còn nếu xài Windows NT4/2000/XP, bạn không cần thiết phải install driver ASPI riêng, vì bản thân hệ điều hành đã được tích hợp trình điều khiển SCSI (gọi
là Generic ASPI Driver); nhưng bạn vẫn có thể cài driver của Adaptec, và lúc đó, Windows sẽ xài driver mới được cài này.
Bạn có thể download driver ASPI của Adaptec bằng cách vào Website của Adaptec (www.adaptec.com), phần Support/Download rồi chọn hệ điều hành mình đang xài và tìm tại mục SCSI Software Driver ASPI mới nhất hiện nay là phiên bản 4.7.1.2 hỗ trợ Windows 98, NT 4, ME,
2000 và XP Nếu muốn “đánh nhanh, đánh gọn”, bạn có thể download theo link http://download.adaptec.com/software_pc/aspi/aspi_v472a2.exe (khoảng 518KB) Sau khi tải về, bạn kích hoạt file để bung nén vào một thư mục trên đĩa cứng (mặc định là ADAPTEC) Chạy file aspichk.exe để kiểm tra xem trong máy đã có driver ASPI chưa và phiên bản mấy Chạy file aspinit.exe để cài đặt driver ASPI, xong thì nhớ cho boot lại máy, à há!
và một trong hai file sau:
WIN95\SYSTEM\ASPIENUM.VXD (từ driver của Adaptec) hay WIN95\ASPI2HLP.SYS (có
sẵn trong Windows 9x).
Số CPU - Processor Number
Trang 10Kể từ dòng CPU mới dành cho máy tính xách tay có mã là Dothan được chính thức giới thiệu hồi trung tuần tháng 5-
2004, Intel bắt đầu áp dụng một cách gọi tên mới cho các
bộ vi xử lý CPU của mình, gọi là
Số CPU (Processor Number) Các CPU Intel sẽ không được gọi theo tốc độ nữa (như Pentium 4 3,2 GHz), mà bằng
số hiệu đặt theo một nguyên tắc chung (như CPU 745, CPU 746, )
Số CPU hội tụ các yếu tố: cấu trúc (architecture), bộ nhớ đệm (cache), tốc độ đồng hồ (clock speed), bus bề mặt (front side bus), và các công nghệ Intel khác
Như vậy, chỉ cần có sự thay đổi dung lượng cache hay tích hợp công nghệ mới nào đó, CPU sẽ được mang một số hiệu mới Điều này giải phóng Intel khỏi cuộc chạy đua tốc độ, và thoát khỏi cái vòng kim cô chỉ có thể làm mới sản phẩm của mình bằng cách tăng tốc độ xử lý hay tăng bus hệ thống như trước đây Và giữa các máy tính, máy nào có Số CPU với 2 chữ số sau lớn hơn có nghĩa là mới hơn và có thể mạnh hơn
Chỉ tội cho các đại lý và người tiêu dùng, bước đầu sẽ phải tập làm quen với cách gọi tên CPU Intel mới Giải pháp tốt nhất có lẽ là in hẳn những tấm thẻ bỏ túi
để tra cứu Số CPU, chứ nhớ sao nổi mà nhớ!
Pentium M Low Voltage (LV) 7xx
Pentium M Ultra Low Voltage
Mobile Intel Pentium 4 (bao
gồm các Mobile Intel Pentium
Trang 111 Pentium 4 2,8 GHz (Northwood, 512 KB L2, 533 MHz FSB)
2 Pentium 4 2,8A GHz (Prescott, 1 MB L2, 533 MHz FSB)
3 Pentium 4 2,8C (Northwood, 512 KB L2, 800 MHz FSB, Hyper-Threading)
4 Pentium 4 2,8E (Prescott, 1 MB L2, 800 MHz FSB, Hyper-Threading)
tư của người ta, nhất là khi vào mạng Ngày 26-2-1999, Intel bị kiện ra Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) về cái vụ PSN Cuối cùng, Intel phải chữa cháy bằng cách cho phép BIOS có tùy chọn đóng hay mở chức năng PSN này, và tới tháng 4-
2000, Intel từ bỏ việc nhúng PSN vào CPU, kể từ Pentium 4 Williamette
BẢNG TRA CỨU SỐ CPU
Trang 12Bảng so sánh băng thông của các giao diện AGP
Trang 13Vào thượng tuần tháng 6-2003, trên thị trường TPHCM đã có khá nhiều loại card AGP 8X của
ASUS, Gigabyte, MSI, XFX, Pine, sử dụng các chipset NVIDIA (GeForce4 MX440-8X, GeForce4 Ti
4200, Ti 4800, GeForce FX), ATI (RADEON 9200, 9700, 9800), SiS (Xabre 200, Xabre 400)
Mainboard hỗ trợ AGP 8X cũng về nhiều Các chipset Intel E7205, i875 và i865 thật sự hỗ trợ
AGP 8X Riêng VGA on-board của chipset i865G có giao diện AGP 8X Các chipset SiS chơi được
AGP 8X có 648, R658, 655, 648 FX.
GeForce FX, thế hệ GPU 8X mới của NVIDIA
Tuy có điện thế 0.8-V (so với 1.5-V của AGP 4X), các card AGP 8X vẫn tương thích lùi với chuẩn AGP 4X Nhưng tuyệt đối không được gắn vào slot AGP 2X (điện thế 3.3-V) Bạn có thể gắn card AGP 8X trên mainboard AGP 4X, vừa không phải lên đời card AGP khi nâng cấp hệ thống sau này, vừa có thể khai thác thế mạnh về tốc độ xung của chip và bộ nhớ
Thế hệ card AGP GeForce FX với hệ thống giải nhiệt đồ sộ, khiến card chiếm mất 2 khoang PCI
Nói chung là với mức giá chênh nhau không cao (94 USD so với 77 USD, so sánh ở card GeForce4 MX440 của MSI), việc đầu tư cho một card AGP 8X là đáng để bạn cân nhắc khi mua máy mới Giá card AGP 8X bộ nhớ 64 MB DDR thấp nhất ở TPHCM hiện nay là SiS (50 USD, Pine Xabre 200), NVIDIA (80 USD, XFX GeForce4 MX440), và ATI (104 USD, Gigabyte RADEON 9200-64D)
CD-R và CD-RW
Còn nhớ, chỉ mới cách đây chừng 5 năm, một người trong nhóm bạn mê vi tính chúng tôi có điều kiện tài chính hơn cả đã “hy sinh” mua một ổ ghi CD-R hiệu Yamaha 2x xài giao diện SCSI với giá gần 500 USD về phục vụ nhu cầu ghi đĩa phần mềm của cả nhóm Mỗi lần muốn ghi đĩa, tôi phải gỡ ổ cứng của máy tính đem qua nhà anh bạn đó, và phải chờ trên 30 phút mới ghi được một đĩa.
Trang 14Bây giờ thì chuyện ghi đĩa CD đã trở nên quá đỗi bình thường Giá ổ ghi, đĩa trắng ngày càng
rẻ (thậm chí còn rẻ hơn cả đĩa mềm!), và tốc độ ghi thì cực nhanh Bạn chỉ cần chưa tới 50 USD là
đã có thể tậu được một ổ ghi CD-RW hàng hiệu với tốc độ ghi CD-R cao nhất hiện nay 52x.
CD-R (viết tắt của Compact Disc-Recor
CD-R có xuất xứ từ hình thức lưu trữ WORM
dable drive), có nghĩa là ổ ghi đĩa CD Nhưng bây giờ, người ta quen dùng CD-R để chỉ loại đĩa CD-ROM (Compact Disc-Read-Only Memory, đĩa CD bộ nhớ chỉ
có thể đọc) chỉ có thể ghi dữ liệu một lần Nó phân biệt với CD-RW (CD-ReWritable disc) là loại đĩa CD- ROM có thể ghi rồi xóa và ghi lại nhiều lần Theo Sách Cam (Orange Book ), đĩa CD-RW phải đạt tiêu chuẩn ghi xóa 1.000 lần trở lên Trong thực tế, một
số nhà sản xuất cam đoan rằng đĩa CD-RW của mình
có tuổi thọ tới 100.000 lần ghi xóa Dĩ nhiên “tuổi thọ” kinh hồn này chỉ có thể đạt được trong môi trường phòng thí nghiệm Các đĩa CD-RW thường có lớp phủ “mềm” hơn CD-R, dễ bị “tổn thọ” do trầy xước, dấu tay chứa mồ hôi, dầu mỡ, bụi cát
(Write Once/Read Many, ghi một lần, đọc nhiều lần)
ra đời từ cuối những năm 1980 Đây là một dạng ổ quang dùng tia laser cường độ thấp ghi dữ liệu lên bề mặt vật lưu trữ được tráng bằng phiến nhôm phản chiếu Các đặc tả của CD-R được ghi trong Orange Book II vào năm 1990 và hãng Philips là nhà sản xuất đầu tiên tiếp thị một sản phẩm CD-R vào giữa năm 1993 Nó dùng công nghệ như WORM, nhưng thay phiến nhôm tráng mặt đĩa bằng lớp nhuộm màu hữu cơ (organic dye layer) Chất lượng nhựa làm nền đĩa và loại chất nhuộm quyết định tuổi thọ của đĩa CD Theo quảng cáo, đĩa CD có thể thọ được từ 70 tới 200 năm.
Hồi xưa, thiết bị ghi đĩa được gọi là ổ CD-R vì chỉ ghi được đĩa CD- R Còn sau này, các ổ ghi được cả hai loại đĩa: một lần và nhiều lần được gọi là ổ CD-RW.
CD-ROM là một dạng đĩa quang CD, nhưng chủ yếu được dùng để lưu trữ dữ liệu máy tính Hồi trước, đĩa CD-R chỉ có thể ghi một lần, không thể ghi thêm lên phần còn trống được Sau này, công nghệ phần mềm ghi đĩa và phần cứng mới đã cho phép bạn ghi nội dung lên đĩa CD-R theo từng phiên (session) cho tới khi kín thì thôi Đó là chức năng ghi đa phiên (multisession recording), rất quan trọng và hữu ích nếu như bạn muốn dùng ổ ghi đĩa để backup dữ liệu làm việc của mình.
Ổ ghi RW xuất hiện lần đầu tiên vào giữa năm 1997 Hồi ban đầu, nó có thể đọc đĩa ROM, ghi được các đĩa CD-R, nhưng lại chưa thể tạo ra được những đĩa CD-ROM thông thường Kết quả là đĩa ghi bằng ổ CD-RW chỉ có thể đọc bằng một ổ CD-RW Sau này, tiêu chuẩn MultiRead (do hai hãng Philips Electronics và Hewlett-Packard liên kết phát triển), cho phép các ổ CD-ROM đọc được các đĩa do các ổ CD-RW ghi ra
Các ổ ghi đĩa CD-R hay CD-RW đọc được các định dạng đĩa CD, các phương pháp ghi khác nhau Ngoài đĩa CD-ROM dữ liệu, chúng còn chơi được các đĩa AudioCD, VideoCD,
Trang 15
Mini CD
Đĩa CD chuẩn có đường kính 12cm, với dung lượng chuẩn hiện nay là 650MB (ghi được 74 phút dữ liệu) Nhưng hiện đang ngày càng phổ biến các đĩa CD-R/CD-RW có khả năng chứa tới 700MB dữ liệu (80 phút) Một số hãng cũng giới thiệu loại đĩa 90 phút (chứa 791MB dữ liệu) và 99 phút (870MB), nhưng hiện hiếm có ổ đĩa hỗ trợ chúng Loại đĩa Mini CD có đường kính 8cm (chứa 185MB dữ liệu) Ngoài ra còn có một dạng Mini CD gọi là "business card CD" được “chặt” hai đầu,
có dung lượng 20- 60MB, chủ yếu dùng để giới thiệu doanh nghiệp như một dạng card visit hay brochure điện tử.
Tốc độ ghi và đọc của ổ CD-R/CD-RW được tính bằng x (mỗi x tương đương 150KB/s) Vào đầu quý 2-2004, tốc độ ghi và đọc cao nhất của CD-R là 52x (7.800KB/s) và của CD-RW là 32x (4.800KB/s)
Giao diện kết nối với máy tính của các ổ CD-R/CD-RW phổ biến hiện nay là E-IDE (UltraATA/33) cho ổ gắn trong; và USB 1.1/2.0 hay IEEE 1394 cho ổ gắn ngoài Chuẩn SCSI hiện không còn phổ biến.
Clock, Speed tốc độ và tốc độ
Card AGP NVIDIA GeForce 6800 Ultra sử dụng bộ nhớ GDDR3 tốc độ 1,1 GHz
Khi “đụng chạm” tới mấy cái món có dính dáng tới tốc độ máy tính như CPU,
bộ nhớ, card xử lý đồ họa, bạn thường gặp những thuật ngữ như Clock, Speed, Bus, Bữa nay, chúng ta cùng “mổ xẻ” chúng nhé!
Trang 16Dĩ nhiên là bạn cần “lận lưng” mớ hiểu biết cơ bản về những thuật ngữ cơ bản
- Clock: Tiếng Anh có nghĩa là đồng hồ Trong máy tính của bạn có lủ khủ
đồng hồ à nghen Clock ở đây là một mạch điện tử phát các xung có khoảng cách đều nhau với tốc độ lên tới hàng triệu chu kỳ mỗi giây Các xung này được dùng
để đồng bộ sự di chuyển thông tin qua các kênh truyền thông nội bộ của máy tính
- Clock speed: Tốc độ đồng hồ Còn gọi là clock rate Tốc độ xử lý các lệnh
của một bộ vi xử lý Mỗi máy tính chứa một đồng hồ nội bộ (internal clock) có chức năng điều hòa tốc độ xử lý các lệnh và đồng bộ hóa tất cả các thành phần khác nhau có trong máy tính Cụ thể, CPU đòi hỏi phải có một số lượng chu kỳ đồng hồ (clock cycles hay clock ticks) cố định để xử lý mỗi lệnh Đồng hồ này càng nhanh bao nhiêu, số lệnh mà CPU có thể xử lý được mỗi giây nhiều hơn bấy nhiêu Tốc độ đồng hồ được tính bằng megahertz (MHz) hay gigahertz (GHz)
- Bus: Gọi là kênh, tuyến hay buýt, là đường dẫn điện nội bộ để đưa các tín
hiệu truyền từ thành phần này sang thành phần khác trong máy tính Có thể ví bus là xa lộ thông tin Giống như CPU, các bus mở rộng cũng có các tốc độ đồng
hồ khác nhau Lý tưởng nhất là tốc độ đồng hồ CPU và tốc độ đồng hồ bus ngang nhau để không có bộ phận nào trong hệ thống chạy chậm hơn các bộ phận khác Nhưng trong thực tế, tốc độ đồng hồ bus thường chậm hơn của CPU, nên xảy ra tình trạng “thắt cổ chai” (bottleneck) Đó là lý do mà trong tình hình tốc độ CPU không ngừng được đẩy lên chóng cả mặt, người ta đã phát triển các bus mới có khả năng nâng tốc độ cao hơn như AGP, PCI Express,
- Width: Chiều rộng, là kích thước của một bus Nó quan trọng lắm à
nghen Vì nó quyết định có bao nhiêu dữ liệu có thể được truyền tải một lần Tỷ dụ: một bus 32-bit có thể truyền cùng một lúc 32 bits data
- Memory bus: Bus bộ nhớ hay còn có tên khác là bus hệ thống (system
bus) hay frontside bus, local bus, hoặc host bus) Đây là bus nối CPU với bộ nhớ chính trên mainboard Tuy nhiên, phổ biến là người ta dùng memory bus để chỉ giao diện bộ nhớ Thí dụ: bộ nhớ 128-bit hay 256-bit Bus càng lớn, dung lượng dữ liệu có thể truyền đi một lần càng cao, dẫn tới tốc độ bộ nhớ càng nhanh hơn
- Memory speed: Tốc độ bộ nhớ Hiện nay được tính bằng MHz Thí dụ
DDR400 có nghĩa là DDR tốc độ 400 MHz Hiện nay, trên một số card AGP cao cấp, như GeForce FX 5950 Ultra, nhà sản xuất trang bị DDR2 (DDR thế hệ 2) 950 MHz, hay GeForce 6800 Ultra gắn DDR3 có tốc độ lên tới 1,1 GHz (DDR1100)
Trang 17Bộ nhớ DDR2
- Memory bandwidth: Băng thông bộ nhớ là dung lượng dữ liệu mà bộ nhớ
có thể xử lý mỗi giây Thí dụ: DDR400 có băng thông 3200 MB/s hay DDR333 (2700 MB/s) Bạn chú ý, đó là lý do mà người ta còn gọi DDR400 là DDR PC3200 hay DDR333 (PC2700) Hiện nay, DDR3 1.1 GHz có băng thông tới 35,2 GB/s
- Core speed: Tốc độ của nhân bộ vi xử lý, như CPU hay GPU (bộ xử lý đồ
họa) Thí dụ, tốc độ nhân GPU NVIDIA GeForce FX 5950 Ultra là 475 MHz
Xin bạn chớ có ngạc nhiên rồi lo lắng tới “chê cơm, biếng ngủ” sợ mình bị lừa mua phải CPU hay bộ nhớ DDR “bị đôn dên” (overclock) khi thấy những công
cụ test cho ra kết quả bus CPU hay tốc độ của DDR quá thấp
Với CPU Pentium 4, bạn cần phân biệt Front Side Bus (bus bề mặt, FSB) với Bus Speed (tốc độ bus, hay bus hệ thống) Do Pentium 4 xài công nghệ tăng tốc bus gọi là Quad-Pumped, FSB được tăng tốc độ lên gấp 4 lần Thí dụ Pentium 4 bus 400 có FSB 100 MHz, bus 533 (FSB 133 MHz) và bus 800 (FSB 200 MHz)
Còn với DDR, vốn là đích thị là loại bộ nhớ có tốc độ truyền tải dữ liệu kép (Double Data Rate), nên DDR400 có FSB là 200 MHz, hay DDR333 là 166 MHz
Tên gọi
DDR Tốc độ FSB Tốc độ dữ liệu Băng thông bộ nhớ Tổng băng thông bộ
nhớ khi chạy mode Dual Channel DDR266
Trang 18PHẠM HỒNG PHƯỚC
H.D.D.
H.D.D hay HDD viết tắt từ Hard Disk Drive, tức là cái ổ đĩa cứng trong máy tính Bộ phận lưu trữ dữ liệu này là một thành phần hợp thành không thể thiếu của một chiếc máy tính.
Còn nhớ cái thời “mồ ma” máy tính 386/486, ổ đĩa cứng chỉ có dung lượng vài trăm
MB Bước sang thời Pentium, nó vượt qua được cái ngưỡng 1GB Từ đó, HDD không ngừng phát triển về dung lượng, tốc độ và chủng loại.
Cấu trúc bên trong của HDD gồm những bộ phận chính:
Cấu trúc bên trong HDD
- Phiến đĩa (platter): Đây là những phiến kim loại tròn có nhiệm vụ lưu trữ dữ liệu Mỗi phiến đĩa đều có thể lưu trữ dữ liệu trên cả hai mặt Trên mặt phiến đĩa được phủ một lớp màng mỏng chất nhạy từ tính (magnetically sensitive substance) có chứa thành phần chính là iron oxide (vì thế, nhiều phiến đĩa có màu cam ánh nâu) Một lớp mỏng hợp kim cobalt được phủ lên mặt đĩa qua quá trình mạ điện Hồi trước, do dung lượng các phiến đĩa thấp, các HDD có dung lượng cao cần rất nhiều phiến đĩa chồng lên nhau và cũng kéo theo ngần ấy đầu đọc Kết quả là tốc độ đọc/ghi chậm và dung lượng HDD bị giới hạn Ngày nay, dung lượng phiến đĩa đã được tăng lên kết hợp với những bước đột phá về công nghệ tăng cường mật độ dữ liệu (areal density, số bit dữ liệu có thể ghi trên một inch vuông) Nhờ vậy, dung lượng của HDD đã có thể tăng nhanh chóng Chẳng hạn, HDD Seagate Barracuda 7200.8 giao diện SATA có dung lượng tới 400GB nhưng chỉ cần có 3 phiến đĩa với 6 đầu từ
Trang 19- Trục quay và động cơ quay (Spindle và Spindle Motor): Có chức năng làm quay các phiến đĩa Thiết bị này phải được điều khiển cực kỳ chính xác và hoạt động thật êm Ở HDD giao diện EIDE hay SerialATA, tốc độ quay của phiến đĩa hiện cao nhất là 7200RPM (vòng/phút).
- Đầu đọc và ghi (Read/Write Head): Đầu từ này khi hoạt động sẽ chạm lên mặt phiến đĩa và quay theo để đọc và ghi dữ liệu Mỗi mặt phiến đĩa cần có một đầu từ.
- Cơ cấu truyền động đầu từ (head actuator): Thiết bị để gắn tất cả các đầu từ có trong HDD Nó có nhiệm vụ di chuyển các đầu từ quanh các phiến đĩa Các model HDD cũ, dung lượng dưới 100MB, dùng loại truyền động động cơ bước (stepper motor actuator), tức loại động cơ điện di chuyển từ một vị trí ngừng này tới một vị trí ngừng khác, và không thể ngừng giữa hai vị trí Còn tất cả các HDD ngày nay được thiết kế với cơ cấu truyền động voice coil (Voice Coil Actuator) Chức năng là bảo đảm cho các đầu từ di chuyển vào các vị trí chính xác và an toàn cao nhất Kỹ thuật này tăng tính chính xác cho đầu từ, bảo đảm cho đầu từ chỉ bắt đầu chạm vào phiến đĩa ở những vị trí không có dữ liệu và thu đầu từ về vị trí “đậu” an toàn trước khi phiến đĩa ngừng quay.
Hồi nẳm, Quantum đưa ra loại HDD Big Foot có kích thước to đùng (5,25-inch) Còn bây giờ, hai kích thước HDD phổ biến nhất là 3,5-inch (cho máy PC để bàn, máy chủ, )
và 2,5-inch (cho máy tính xách tay) Nhờ công nghệ tăng mật độ dữ liệu và dung lượng phiến đĩa, HDD hiện có cả loại mỏng (slim).
Các kích thước HDD (từ trái qua): 5,25-inch (Big Foot); 3,5-inch và 2,5-inch
Với dòng HDD gắn trong, ngoài giao diện SCSI (chủ yếu cho các máy chủ, máy trạm) vượt trội về tính ổn định và tốc độ quay đĩa (hiện có loại Ultra 320 SCSI đạt 15K RPM, 15.000 vòng/phút), HDD cho máy tính cá nhân có hai giao diện phổ biến IDE và EIDE (IDE nâng cao) hay gọi chung là PATA, cùng giao diện mới nhất là Serial ATA (SATA) Tốc độ quay đĩa của ba giao diện IDE/EIDE và SATA hiện là 5400 và 7200RPM Còn tốc độ truyền dữ liệu phổ biến của EIDE là 100MB/s (UltraATA/100) Giao diện UltraATA/133 thì bị chết yểu do không được Intel hỗ trợ Tốc độ truyền tải dữ liệu của SATA-150 hiện nay về lý thuyết đạt tới 150MB/s Về hình thức, ổ IDE và SATA giống y chang nhau, chỉ khác phần các chân cắm cáp Ở SATA, đầu cắm cáp điện có 15 chân và đầu cắm cáp data có 7 chân.
Trang 20Cáp điện (bên trái) và cáp data của chuẩn SATA
Với dòng HDD gắn ngoài, hiện nay có hai giao diện là USB và FireWire Tốc độ truyền tải dữ liệu của USB 2.0 đạt 480Mbps và của FireWire 400Mbps.
Ổ HDD bỏ túi có cả hai giao diện USB 2.0 và IEEE 1394
Để cải thiện tốc độ của HDD, người ta dùng thêm công nghệ bộ nhớ tạm (cache) với dung lượng bộ nhớ đệm trang bị cho HDD phổ biến là 2MB Với giao diện SATA, hiện có loại trang bị cache tới 8 hay 16MB
Trang 21Internet, Intranet và Ethernet
Bạn thấy đó, cả ba thuật ngữ Internet, Intranet
và Ethernet đều chung một họ nhà Net (mạng)
Mạng máy tính toàn cầu World Wide Web này không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin, liên lạc, chuyển tải dữ liệu, mà cung cấp các dịch vụ cho phép người tiêu dùng có thể mua vô số món hàng hóa theo phương thức trực tuyến (online), nghĩa
là chọn hàng, đặt hàng và thanh toán qua mạng
INTRANET:
Intranet là mạng thông tin, liên lạc cục bộ cũng dùng giao thức TCP/IP như Internet, của một tổ chức nào đó (thường là một công ty) chỉ cho phép các thành viên công ty hay những người được cấp quyền truy cập Người dùng máy tính ở Việt Nam trước khi được ngao du trên mạng Internet như hiện nay, hồi nẳm đã được làm quen với mạng Intranet, như Cinet, Phương Nam,
Do là mạng cục bộ, tuy bạn cũng dùng giao thức quay số kết nối Dial-up bằng modem tới số điện thoại máy chủ và duyệt thông tin, tải file, gửi và nhận e-mail giống hệt với Internet; nhưng khác là chỉ loanh quanh trong phạm vi mạng
Trang 22mình làm thành viên, không thể liên thông với các mạng khác chứ đừng nói chi héo lánh ra được tới mạng Internet
Có thể nói cho dễ hiểu, Intranet là mạng Internet cục bộ
là DIX Ethernet) Nhưng nó chỉ thật sự phổ biến rộng khi hồi đầu thập niên 1980, Viện các Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE) chính thức chuẩn hóa một mạng CSMA/CD
có chức năng tương tự và gọi là chuẩn IEEE 802.3, hợp chuẩn quốc tế ISO
Xin lưu ý, Ethernet và IEEE 802.3 chỉ hơi khác nhau về mặt thuật ngữ và định dạng dữ liệu cho các frame Còn lại thì chúng như anh em sinh đôi Vì thế, ngày nay, người ta dùng thuật ngữ Ethernet để gộp chung hai chuẩn DIX Ethernet
và IEEE 802.3
Ban đầu, mỗi thiết bị trong mạng Ethernet chỉ có thể cách nhau tối đa vài trăm mét Các ứng dụng công nghệ mới đã giúp kéo dài khoảng cách này tới hàng chục km Ứng dụng phổ biến nhất của mạng Ethernet quen gọi là mạng LAN (local area network, mạng cục bộ), nối kết các máy tính trong một đơn vị (thường là chung một tòa nhà) lại với nhau thông qua máy chủ Còn nếu phải kết nối xa hơn,
có khi cách nhau nhiều cây số, người ta dùng công nghệ mạng diện rộng WAN (wide area network)
Mô hình kết hợp Ethernet với chuẩn kết nối không
dây qua hệ điều hành Windows XP
Tốc độ truyền tải dữ liệu ban đầu của Ethernet LAN là 10Mbps (10Base) Sau này phát triển lên 100Mbps (100Base), còn gọi là Fast Ethernet Chuẩn cao
Trang 23cấp nhất hiện nay là Gigabit Ethernet LAN (1000Base), đạt tốc độ tới 1 Gbps Nhưng tốc độ của nó cũng đang được một nhóm gọi là Liên minh 10 Gigabit Ethernet (10 Gigabit Ethernet Alliance, 10GEA) thành lập năm 2002 cố gắng đẩy lên tới 10 Gbps (sử dụng cáp sợi quang), gọi là chuẩn 10GbE
Hiện nay, các mainboard thế hệ mới nhất đều hỗ trợ chuẩn GigaLAN Trên thị trường Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện một số LAN switch 1 Gbps
Những chữ bí ẩn trên bàn phím
Trên bàn phím máy tính, ngoài các chữ cái, chữ số và các phím chức năng (F1, F2, ), người ta còn kèm cho nó một mớ phím in những chữ bí ẩn, thường được viết dạng rút gọn.
Trang 24- Esc (hay Escape) : hủy bỏ (cancel) một hoạt động đang chạy, thoát ra khỏi một ứng dụng nào đó
đang mở.
- Tab : nhảy cột, di chuyển nhanh trỏ chuột sang tab khác, đẩy chữ về tay phải với khoảng cách
rộng
- Caps Lock : bật và tắt chế độ gõ chữ IN HOA.
- Bộ ba phím Shift, Alt (hay Alternate), và Ctrl (hay Control) được gọi là các phím bổ túc
(modifiers) Tùy quy định của từng chương trình ứng dụng, dùng một hay hai phím trong chúng kết hợp với một hay hai phím nào đó để tạo các tổ hợp phím hay thực hiện một tác vụ, chức năng nào
đó của chương trình Phím Alt của Windows và Unix tương đương với phím Command trong
Macintosh Phím Shift cũng có chức năng gõ chữ IN HOA không cần bật phím Caps Lock
- Num Lock (hay Num Lk) : bật hay tắt cụm phím số bên phải
- Scroll Lock (hay Scr Lk) : phím điều khiển các hoạt động của
các phím điều khiển trỏ chuột trong một số chương trình, tạm
ngưng chức năng cuộn văn bản hay ngưng hoạt động của một
chương trình Tuy nhiên, nhiều ứng dụng nay không còn tuân lệnh
phím này nữa Nó bị coi là “tàn dư” của các bàn phím IBM PC cũ.
- Print Scrn (hay Prt Sc) : chụp ảnh màn hình desktop lưu vào bộ
nhớ đệm clipboard Sau đó, bạn có thể dán (paste) hình ảnh này
vào bất cứ ứng dụng nào hỗ trợ hình ảnh, hay các trình xử lý đồ
họa (Paint, Photoshop, ) Ở các chương trình xử lý đồ họa, bạn
chọn New trong trình đơn File và dùng lệnh Paste trong trình đơn
Edit (hay dùng tổ hợp phím Ctrl+V) để dán hình ảnh vừa chụp vào ô trắng mà tùy nghi xử lý nó như một ảnh bình thường
- Insert (hay Ins) : nạp các dạng thức (style), tắt hay mở chức năng viết đè (overwrtie) trong các
trình soạn thảo văn bản (như Word) Phím này chủ yếu chỉ xài được trong những ứng dụng xử lý word hay soạn thảo văn bản.
- Delete (hay Del) : xóa file hay đối tượng được chọn hay đang mở, xóa cụm chữ được chọn hay
xóa khoảng trống và các chữ nằm bên tay phải trong Word Đây cũng là một phím “lợi hại” để mở BIOS khi khởi động máy với khá nhiểu bo mạch chủ.
- Pause : dừng màn hình đang mở (kể cả khi máy vừa khởi động) hay kết hợp với phím Ctrl để
tạm dừng hay mở lại file đang chơi trong nhiều chương trình xem phim, nghe nhạc.
- Break : phím tạm thời dừng dòng liên lạc của máy tính Nó thường dùng để kết thúc một phiên
kết nối đang hoạt động của modem Tuy nhiên, không phải bàn phím nào cũng có phím này và không phải tất cả các chương trình ngày nay đều ủng hộ nó
- Home : lui nhanh trỏ chuột về đầu dòng trong khi đánh văn bản ở Word hay trở về ảnh đầu tiên
trong bộ ảnh đang xem (như trong ACDSee), chuyển về tab trước trong môi trường bảng.
- Page Up : cuộn cửa sổ lên phía đầu màn hình, nhảy cóc trỏ chuột nhiều dòng về phía đầu
trang/cửa sổ đang mở trong khi đánh văn bản ở Word hay mở lui ảnh trước ảnh đang xem (như trong ACDSee).
- Page Down : cuộn cửa sổ về cuối màn hình, nhảy cóc trỏ chuột nhiều dòng về phía cuối
trang/cửa sổ đang mở trong khi đánh văn bản ở Word hay mở sang ảnh tiếp theo ảnh đang xem (như trong ACDSee).
Trang 25- End : phóng nhanh trỏ chuột về cuối dòng trong khi đánh văn bản ở Word hay vọt tới ảnh cuối
cùng trong bộ ảnh đang xem (như trong ACDSee), chuyển sang tab kế tiếp trong môi trường bảng
- Backspace : trở lui trỏ chuột về tay trái và xóa các ký tự đã đánh đang nằm bên trái trong Word,
xóa ô chọn trong Excel và xóa vùng chữ tô chọn, hay mở lui ảnh trước ảnh đang xem (như trong ACDSee).
- Phím lá cờ Windows : mở menu Start của Windows.
là một trong những bước ngoặt lớn nhất trong công nghệ lưu trữ trong hơn một thập niên qua Các thế mạnh của nó về tốc độ, dung lượng, truyền tín hiệu xa hơn, an toàn hơn
đã giúp SATA nhanh chóng thay thế giao diện Parallel ATA già nua (ra đời từ thập niên 1980), nhất là trong các môi trường máy chủ và lưu trữ trên mạng
Bảng so sánh giữa ATA và SATA:
Băng thông 100/133 MB/Secs 150/300/600 MB/Secs
Chiều dài cáp tối đa 18 inch (45.72cm) 1 meter (100cm)
Peer-to-Peer (nối ngang hàng) Không Được
Hai đầu cắm SATA trên mainboard
SATA được thiết kế để thay
thế cho thế hệ HDD giao diện ATA hiện nay trong khi vẫn duy trì được giao thức lệnh Nó là một kiến trúc “serial” (tuần tự) mới ngược với bus ổ đĩa bên trong
“parallel” (song song) Hay cụ thể hơn, nó là một liên kết tuần tự
Trang 26(serial link) – một sợi cáp có tối thiểu chỉ 4 sợi dây hình thành một mối kết nối từ điểm này tới điểm kia (point-to-point) giữa các thiết bị SATA gom nhiều mẩu dữ liệu lại thành từng gói và truyền đi với tốc độ cao hơn (về lý thuyết tới 30 lần) so với “parallel” Ở HDD ATA, chức năng kiểm tra lỗi CRC (Cyclic Redundancy Checking, kiểm độ dư vòng) chỉ được thực hiện trên các dữ liệu đang được truyền tãi qua lại Còn SATA tích hợp CRC trên cả hai mức độ lệnh và gói dữ liệu để cải thiện tính an toàn và ổn định của bus Với tốc độ truyền tải dữ liệu tới 150 MB/s (so với tốc độ cao nhất của HDD ATA hiện nay - UltraATA/133 là 133 MB/s), SATA cải thiện sức hoạt động của HDD, tăng tốc độ của nó lên tương ứng với các tốc độ ngày càng cao của các thiết bị và phần mềm ứng dụng về âm thanh, phim ảnh, SATA đem lại nhiều cái lợi : tốc độ truyền dữ liệu cao mà không cần tăng số vòng quay, các sợi cáp mỏng và gọn làm trống thùng máy giúp thông thoáng và tản nhiệt tốt hơn, các đầu cắm dễ dàng và chính xác), hỗ trợ tháo gỡ nóng (hot plug), giảm số chân cắm trong sắp xếp RAID, Càng tuyệt vời hơn nữa khi SATA có tính tương thích lùi rất tốt, hỗ trợ tất cả các thiết bị ATA và ATAPI, tương thích với các driver và phần mềm Parallel ATA hiện nay
- Trong ảnh: Cáp dữ liệu IDE (bản rộng) và SATA
Cáp dữ liệu SATA dẹp có hai đầu cắm 7 chân giống hệt nhau (thay
vì 40 chân như ở ATA) Chiều dài của cáp SATA có thể lên tới 1 mét, thay vì chỉ 45,72 cm ở ATA) Đầu cắm điện dẹp với 15 chân nhỏ, có cáp chuyển đổi để nối với đầu cắm điện IDE 4 chân thông dụng hiện nay Điện thế của SATA là 250mV (so với 5V của ATA)
ATA-to-SATA adapter
Các nhà sản xuất linh kiện đã nhanh chóng tung ra các bộ chuyển đổi to-SATA adapter (cho phép gắn HDD IDE vào đầu cắm SATA trên mainboard) hay SATA-to-ATA adapter (gắn HDD SATA vào các mainboard chỉ hỗ trợ IDE) Những máy đời cũ không hỗ trợ SATA ngay từ chipset cũng có thể hưởng thụ được tính
ATA-ưu việt của SATA bằng cách gắn thêm card Serial ATA RAID host adapter giao diện PCI
Trang 27Hiện nay, người ta đang phát triển thế
hệ thứ hai của SATA gọi là Serial ATA II (số thành viên của nó đã lên tới hơn 160 công ty) Giao diện này sẽ có nhiều chức năng mới, và nổi bật nhất là tốc độ truyền tải dữ liệu sẽ tăng lên tới 300MB/s
Các chipset mới, như Intel 865, 875, đều hỗ trợ SATA Giá HDD SATA trên thị trường Việt Nam ngày càng rẻ hơn và không còn quá chênh lêch so với HDD IDE
USB từ 1.0 tới 2.0
Logo USB, USB 1.1, USB On-The-Go
Tới bây giờ thì cái cổng giao tiếp I/O USB đã trở nên quá phổ biến,
ngày càng đẩy các bác COM, Serial, Parallel về nhà hưu trí So với các thế hệ đàn anh, USB cho thấy rõ ưu thế về tính tương thích rộng, nhỏ gọn và nhất là tốc
Bắt đầu được sử dụng từ năm 1996 với một vài nhà sản xuất máy tính thiết
kế cổng USB vào sản phẩm của mình Tháng 10-1996, các hệ điều hành Windows cũng đã được cung cấp các driver điều khiển cho USB và làm việc với các phần mềm đưọc phát triển đặc biệt cho chuẩn giao tiếp I/O mới này Cụ thể là USB đã được tích hợp vào Windows 98 và các hệ điều hành Microsoft sau đó Nhưng phải mãi tới năm 1998, khi các chiếc máy tính iMac hỗ trợ USB bán chạy như tôm tươi, chuẩn USB mới trở nên phổ biến rộng rãi,
Một cổng USB đơn có thể được dùng để kết nối tới 127 thiết bị ngoại vi, như chuột, modem, bàn phím, máy in, máy scan, Chuẩn USB càng tiện lợi cho người
Trang 28dùng hơn nhờ hỗ trợ tính năng cài đặt Plug-and-Play (cắm là chạy) và đặc biệt là tính năng gắn và gỡ nóng hot plugging (có thể cắm và gỡ thiết bị USB trong khi máy tính vẫn đang hoạt động và không cần phải khởi động lại)
Cáp và hai loại cổng USB Cổng dẹp ở phía máy tính Cổng gần vuông
có vạc góc ở thiết bị ngoại vi
USB còn có một khả năng trên cả tuyệt vời nữa là cung cấp điện năng cho một số loại thiết bị USB từ điện nguồn hệ thống thông qua bus USB giúp thiết bị ngoại vi
đó không cần phải được cấp điện riêng Tuy nhiên, do điện thế của bus USB không lớn nên nó chỉ đủ năng lượng cấp cho những thiết bị nhỏ Bạn ắt đã thấy những bộ sạc pin máy điện thoại di động lấy nguồn điện từ cổng USB của máy tính
Phiên bản ban đầu của USB là 1.0, và kể cả bản 1.1, cũng chỉ có tốc độ truyền tải dữ liệu 12Mbps Mặc dù đã nhanh hơn serial hay parallel, nhưng tốc độ
cỡ đó vẫn còn rất chậm Thế là Hewlett-Packard, Intel, Lucent, Microsoft, NEC và Philips đã phối hợp nhau phát triển chuẩn USB mới có tốc độ cao hơn nhằm đáp ứng được các yêu cầu về băng thông của các công nghệ đang phát triển rất nhanh
Và tới tháng 4-2000, đặc tả USB 2.0 ra đời USB 2.0, hay còn gọi là Hi-Speed USB,
có tốc độ truyền tải dữ liệu tới 480Mbps, nghĩa là còn cao hơn IEEE 1394 (400Mbps) USB 2.0 là phiên bản mở rộng của USB 1.1, hoàn toàn tương thích với USB 1.1, và cùng xài chung loại cáp và đầu cắm như USB 1.1
Nhưng, USB 2.0 vẫn có những hạn chế chưa làm hài lòng dân “prồ” Chẳng hạn, nó đòi hỏi tất cả mọi liên lạc giữa máy tính và thiết bị hay giữa các thiết bị với nhau phải thông qua một USB host Nghĩa là các thiết bị không thể liên lạc trực tiếp với nhau Thế là chuẩn USB 2.0 mới gọi là USB On-The-Go (USB OTG) ra đời, khắc phục hạn chế này Đây là một đặc tả cho một dạng thiết bị mới có thể hoạt động như một thiết bị ngoại vi, lẫn một host rẻ tiền Khi có chức năng của một thiết bị ngoại vi, thiết bị USB OTG có thể nối trực tiếp với máy tính Khi làm nhiệm
vụ của một host, nó có thể kết nối với các thiết bị ngoại vi USB khác Các sản phẩm chuẩn USB OTG bắt đầu dược xuất xưởng từ năm 2004
Theo đặc tả kỹ thuật, cáp USB chỉ có chiều dài tối đa 5 mét Nếu các thiết bị cách nhau hơn 5 mét, bạn phải nối tiếp thông qua những USB hub
Với các mainboard đời cũ chỉ hỗ trợ USB 1.1, bạn có thể gắn thêm card USB 2.0 Adapter giao diện PCI để cung cấp các cổng USB 2.0 Trên thị trường cũng có bán những cáp adapter để chuyển từ cổng parallel thành cổng USB giúp bạn tiếp tục sử dụng các thiết bị (như máy in, scanner, ) cũ dùng giao diện parallel
Trang 29Cáp chuyển đổi parallel sang USB, thường dùng để máy in đời
cũ chỉ có cổng Parallel có thể gắn vào máy tính có cổng USB
Card PCI cung cấp 5 cổng USB 2.0 cho máy tính đời cũ không có cổng USB 2.0
Plug-and-Play, cắm là chạy
- Bus PCI cũng hỗ trợ PnP
Viết tắt là PnP, Plug-and-Play
tính tự động nhận diện thiết bị và nạp driver cho bạn sử dụng ngay,
hễ gắn vào máy tính là thiết bị có thể chạy ngay tắp lự chẳng cần mất công setup phức tạp
Hồi xửa hồi xưa, hầu như tất cả các thiết bị đều phải có kèm mỗi cái một cái card plug-in riêng (các bo mạch in) Bạn hẳn còn nhớ khoảng giữa thập niên 1990, máy quét ảnh (scanner) muốn chạy phải có cái card gắn vào máy tính Ngày nay, ngoài những card plug-in đó, nhiều “thiết bị” chỉ
là những con chip nhỏ xíu xiu được gắn thường trú luôn trên bo mạch chủ Rồi, các loại card plug-in mới có thể chứa hơn một thiết bị
Để hệ thống máy tính hoạt động, mỗi thiết bị phải được điều khiển bằng
“driver thiết bị” riêng Và để điều khiển một thiết bị nào đó, CPU (theo sự điều khiển của driver thiết bị tương ứng) gửi các lệnh và dữ liệu tới thiết bị, và đọc trạng thái và dữ liệu từ các thiết bị khác nhau Để làm được điều này, mỗi driver thiết bị phải biết địa chỉ của thiết bị mà mình điều khiển Mà việc biết một địa chỉ như thế tương đương với việc thiết lập một kênh thông tin
Trang 30Mỗi thiết bị gắn vào máy tính đều cần có một địa chỉ riêng và phải được cấp một phần tài nguyên hệ thống Khi hệ thống hay thiết bị không có tính năng PnP, bạn phải tự tay (manual) thiết đặt cấu hình cho nó Công việc cực kỳ gian nan, nhất là khi phải phân bố ngắt (IRQ), truy xuất bộ nhớ trực tiếp (DMA) Tình trạng máy tính bị man man, trục trặc do xung đột thiết bị xảy ra thường xuyên Và chuyện cài đặt hay nâng các máy tính luôn là một nỗi ám ảnh kinh hoàng ngay cả cho các tay có nghề, chứ đừng nói chi dân “ngang hông”
Để góp phần giải quyết cái “kiếp nạn” này, đặc tả PnP đã được Microsoft phát triển với sữ hợp tác từ Intel và nhiều nhà sản xuất phần cứng khác Mục tiêu của PnP là hình thành một chiếc máy tính có phần cứng và phần mềm làm việc ăn
rơ với nhau để tự động cấu hình cho các thiết bị và sắp xếp các nguồn tài nguyên, cho phép các sự thay đổi và bổ sung phần cứng mà không cần phải sắp xếp lại tài nguyên
Hình thức PnP đầu tiên đã ra đời từ cách đây nhiều năm cho các bus EISA (Extended Industry Standard Architecture, kiến trúc chuẩn công nghiệp mở rộng)
và MCA (micro channel architecture, kiến trúc vi kênh) Tiếc là các bus này không trở nên phổ biến Phải đợi tới năm 1995, PnP mới bắt đầu nổi đình đám với sự ra đời của hệ điều hành Windows 95 và ngày càng nhiều phần cứng máy tính được thiết kế hỗ trợ PnP
Thật ra, việc tự động dò tìm và cấu hình phần mềm và phần cứng chẳng đơn giản chút nào Nó phải có sự cộng tác của nhiều phần cứng, phần mềm 4 thành phần phải có của một hệ thống PnP là phần cứng hệ thống (chispet, bộ điều khiển bus hệ thống, phải có khả năng PnP), phần cứng ngoại vi (bản thân các thiết bị cộng thêm này phải tương thích PnP), BIOS hệ thống (hỗ trợ PnP và đóng vai trò then chốt để làm PnP hoạt động), và hệ điều hành (phải hỗ trợ PnP, từ Windows
95 trở về sau này)
Bạn có thể gắn các thiết bị không PnP (non-PnP) vào các hệ thống PnP BIOS sẽ làm ngơ chúng, coi như các “đạo cụ sân khấu”, chẳng thèm quản lý Nhưng vì BIOS vẫn phải dành tài nguyên cho chúng, việc gắn quá nhiều thiết bị non-PnP vào một hệ thống PnP sẽ làm các thiết bị PnP hoạt động chập chờn, do có quá nhiều nguồn bị chiếm giữ
Hiện nay, thế giới máy tính còn có thêm chuẩn Universal Plug-and- Play (UPnP) là một kiến trúc mở rộng khái niệm PnP cho các thiết bị và dịch vụ mạng
(như máy in, camera, tivi, )
Internet
Cái chữ này sao mà quen mắt, quen tai,
cả quen miệng nữa, quá chừng chừng
Trang 31Internet còn thể gọi nôm na là “mạng quốc tế” Nó là một hệ thống các mạng máy tính được liên hết lại với nhau trên phạm vi cả thế giới để thực hiện các tác vụ truyền thông dữ liệu Chức năng chủ yếu của Internet là một mạng thông tin toàn cầu Người sử dụng bất kể đang ở đâu trên Trái đất, hễ kết nối được với Internet, là có thể đồng bộ hóa dữ liệu của mình với cộng đồng Internet Người ta
có thể truyền tải dữ liệu, liên lạc trực tuyến, trao đổi thư tín, giải trí, và ngay cả làm việc trên mạng
Nói hơi bị cao siêu một tí tẹo, theo giải thích của từ điển trực tuyến Encyclopaedia Britannica, Internet là một kiến trúc hệ thống đã cách mạng hóa các phương thức truyền thông và thương mại bằng cách cho phép các hệ thống máy tính khác nhau trên khắp thế giới nối kết với nhau Bởi lẽ đó, có người mô tả Internet là “mạng của các mạng”
Internet nổi lên ở Mỹ trong thập niên 1970, nhưng không xuất hiện trước công chúng cho tới đầu những năm 1990 Thế kỷ 21 được coi là kỷ nguyên của Internet
Tiền thân của Internet là ARPAnet, mạng chuyển mạch gói tin của cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp (ARPA) thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ Mạng mang tính thử nghiệm này ra đời vào đầu thập niên 1970 với mục đích tạo thuận lợi cho việc phối hợp nghiên cứu khoa học Nó nối kết các cơ sở quốc phòng, các viện nghiên cứu và các trường đại học lại với nhau Rồi nó phát triển dần trỏ thành xương sống (backbone) của mạng Internet Chính ARPAnet đã phát triển TCP/IP, một trong các giao thức quan trọng nhất trong nối mạng toàn cầu hiện nay
Cũng xin bạn phân biệt Khác với các dịch vụ trực tuyến (on-line), được điều khiển tập trung, Internet được phi tập trung hóa (decentralized) ngay từ trong thiết kế Mỗi máy tính Internet, gọi là một “host”, là một thực thể độc lập
Cũng xin nói thêm, Internet (gọi tắt là Net) hỗng có đồng nghĩa với World Wide Web (Web) đâu à nghen Internet
và Web là hai thực thể riêng rẻ nhưng có mối quan hệ với nhau Internet là một mạng luới khổng lồ Web là một cách truy xuất thông tin qua trung gian của Internet Hay nói cách khác, Web là một trong các phương cách để phổ biến thông tin trên Internet
Hiện nay Internet được quản lý bởi hai tổ chức chính: Internet Society (ISOC, Hội Internet) và Internet Corporation For Assigned Names And Numbers (ICANN, Công ty Internet sắp xếp tin và số)
ISOC là một tổ chức phi chính phủ được thành lập vào năm 1992, bao gồm hơn 100 tổ chức và hàng ngàn cá nhân để điều hành mạng Internet toàn cầu Và
Trang 32để thưởng công ISOC, vào tháng 10-2002, người ta đã cho nó quyền quản lý tên miền org
Còn ICANN là nhà quản lý tên miền và cung cấp các địa chỉ IP
Monitor là cái màn hình
Cùng 17-inch, màn hình LCD ít chiếm không gian hơn CRT
Đây là một bộ phận không thể thiếu được của một bộ máy tính Tiếng Anh
đọc “mo-ni-tơ” đích thị là cái màn hình
Thật ra, còn có một thuật ngữ khác để chỉ thiết bị này là “display screen” (màn hình hiển thị) Nhưng khi nói “display screen”, nó chỉ có nghĩa là cái màn hình (screen) Trong khi “monitor” bao hàm toàn bộ “cái hộp” hiển thị và hàm ý các khả năng đồ họa
Có nhiều cách để phân loại màn hình máy tính
Cơ bản nhất là phân biệt theo khả năng hiển thị màu sắc của chúng Có ba loại:
Trang 33- Đơn sắc (monochrome): chỉ có hai màu, một cho nền và một cho tiền cảnh Cặp màu này có thể là đen và trắng, xanh lá và đen, hoặc màu hổ phách và đen
- Sắc độ xám (gray-scale): đây là một dạng màn hình đơn sắc đặc biệt có khả năng hiển thị các sắc thái xám khác nhau
- Màu (color): có thể hiển thị các chế độ màu từ 16 tới hơn 16 triệu màu sắc khác nhau Đôi khi người ta gọi nó là màn hình RGB, vì nó chấp nhận 3 tín hiệu màu riêng biệt: đỏ, xanh lá và xanh dương, tức ba màu cơ bản
Trong mỗi loại màn hình (phân biệt theo màu sắc) đó, người ta còn phân loại theo kích thước màn hình Giống như ở tivi, màn hình máy tính cũng được đo theo đường chéo từ góc này sang góc đối diện bằng đơn vị inch Màn hình cơ bản
có kích thước VGA (14-inch) Các màn hình từ 16 - inch trở lên gọi là màn hình
“nguyên trang” (full-page) Bạn chú ý, ngoại trừ màn hình LCD là có kích thước thật, các màn hình CRT (tức màn hình dùng ống phóng tín hiệu màu) luôn có một khu vực rìa (cặp theo bốn mép) không thể hiển thị hình ảnh (thường là mất toi 1 inch) Vì thế, các nhà sản xuất màn hình phải công bố rõ cho người tiêu dùng biết
“khu vực có thể xem được” (viewable area) của từng loại màn hình Thí dụ, màn hình 17 - inch chỉ hiển thị thực tế có 16-inch
Các chuẩn phân giải màn hình:
- VGA (Video Graphics Array): 640x480 pixels
- SVGA (Super VGA): 800x600 pixels
- XGA (Extended Graphics Array): 1024x768 pixels
- SXGA (Super XGA): 1280x1024 pixels
- UXGA (Ultra XGA): 1600x1200 pixels
- QXGA (Quad XGA): 2048x1536 pixels
- QSXGA (Quad SXGA): 2560x2048 pixels
- QUXGA (Quad UXGA): 3200x2400 pixels
- WXGA (Wide XGA): màn hình rộng 1366x768 pixels
- WSXGA+ (Wide SXGA+): màn hình rộng 1680x1050 pixels
- WUXGA (Wide UXGA): màn hình rộng 1920x1200 pixels
- WQUXGA (Wide QUXGA): màn hình rộng 3840x2400 pixels
Độ phân giải (resolution) của một màn hình chỉ mật độ ảnh điểm (pixel) được nén chặt bao nhiêu trong một đơn vị diện tích Nói chung, số pixel càng cao, hình ảnh càng sắc nét Kích thước VGA chuẩn là 640x480 pixels Hầu hết màn hình đời mới (từ 15-inch trở lên) có thể hiển thị chuẩn SVGA 1024x768 pixels Những model cao cấp “high-end” còn có thể hiển thị 1280x1024 hay thậm chí 1600x1200 pixels
Mức độ sắc nét của màn hình còn dựa trên đơn vị “dot pitch”, tức khoảng cách giữa các pixel Khoảng cách càng nhỏ, hình ảnh càng sắc nét Đơn vị là mm Chẳng hạn, Dot Pitch: 0.28 mm
Công nghệ sản xuất màn hình hiện gồm hai loại ống đèn hình CRT (cathode ray tube) và tinh thể lỏng LCD (Liquid Crystal Display), nhưng xu thế của thế giới đang chuyển sang LCD (hiện đại hơn, ít hao điện, đỡ hại mắt, chiếm ít không
Trang 34gian, ) CRT là công nghệ màn hình nguyên thủy, hiện có hai dạng: thường (màn hình cong, nguyên thủy) và phẳng (flat, thế hệ mới) Còn LCD từ dạng Flat Panel (bảng phẳng) thường hiện nay đã chuyển sang công nghệ TFT (Thin Film Transistor, đèn bán dẫn dạng phim mỏng), hay còn gọi là LCD “ma trận động” (active-matrix), công nghệ cung cấp độ phân giải tốt nhất trong tất cả các công nghệ LCD hiện thời
Màn hình hiện nay gồm hai công nghệ xử lý tín hiệu chính: analog (tương tự) và digital (kỹ thuật số) Trong khi các màn hình CRT chỉ là analog, các màn hình tinh thể lỏng LCD có thể được sản xuất với chuẩn analog hay digital hoặc cả hai
- Chọn hàng của những hãng có tên tuổi, có uy tin
- Có chế độ bảo hành chính hãng từ 2 năm trở lên
- Kích thước mèng nhất cũng phải 15-inch, còn phổ biến hiện nay là 17-
Trang 35Flat (cho hình ảnh đẹp, chuẩn, và đỡ hại mắt) Nếu phải xài loại thường,
không nên chọn màn hình quá cong
- Tự động điện thế (Auto-Volt)
- Đạt các chuẩn quốc tế về an toàn và môi trường
- Ưu tiên chọn loại điều khiển bằng nút nhấn có chức năng OSD
DOS hay MS-DOS
Cho dù đang xài Windows XP, bạn click vào menu Start/All Programs/Accessories và thấy ngay cái lệnh Command Prompt (dấu nhắc dòng lệnh) với cái icon C:\ gợi nhớ một thời MS-DOS Mà quả thật, nhấn vào lệnh này, bạn sẽ được đưa trở về giao diện dòng lệnh (command line), cho dù chỉ là DOS
“giả”, hay nói bài bản hơn là “DOS trong Windows”
DOS (Disk Operating System, hệ điều hành chạy trên đĩa mềm) của Microsoft là một giao diện người dùng dòng lệnh Phiên bản đầu tiên MS- DOS 1.0 phát hành hồi năm 1981 cho các máy tính IBM, và phiên bản MS-DOS cuối cùng 6.22 ra đời vào năm 1994 Mặc dù không còn được sử dụng phổ biến hiện nay, DOS vẫn còn có thể được truy xuất từ mọi hệ điều hành Windows bằng cách bài bản là mở menu Start/Run và gõ vào box open dòng lệnh command hay lệnh CMD trong Windows NT/2000/XP
- Máy tính IBM PC chạy MS-DOS
Khác với giao diện người dùng đồ họa GUI, thứ gì cũng được bày sẵn dưới hình thức trực quan nhìn thấy và điều khiển ngay tắp lự, ở MS- DOS, muốn điều khiển nó, bạn phải nhớ thuộc lòng hàng loạt câu lệnh, cú pháp, cho dù có thể viết tắt Chẳng hạn CD hay CHDIR (Change Directory, để thay đổi thư mục), DIR (cho phép xem các file nằm trong một thư mục), FDISK (công cụ định dạng đĩa), RD hay RMDIR (xóa bỏ các thư mục trống), SMARTDRV (nạp SmartDrive để tạo ổ đĩa tạm bằng bộ nhớ),
Chuyện ra đòi của DOS được thuật lại như sau Hồi năm 1980, IBM đầu tiên
đã tiếp xúc với Bill Gates và hãng Microsoft để thảo luận về tình trạng của các máy tính gia đình và các sản phẩm Microsoft Gates đã cho IBM một số ý tưởng về những gì để làm nên một máy tính gia đình tuyệt cú mèo Trong đó có phần mềm Basic ghi vào một con chíp ROM Microsoft vào lúc ấy đã sản xuất nhiều phiên bản Basic cho các hệ thống máy tính khác nhau, bắt đầu với Altair Vì thế, Gates tỏ ra hạnh phúc dữ lắm nếu như có thể viết một phiên bản Basic cho máy IBM danh giá
Về phần một hệ điều hành (OS) cho các máy tính mới này, do Microsoft chưa từng viết một OS nào trước đó, nên Gates đề nghị IBM khảo sát một OS gọi
là CP/M (Control Program for Microcomputers, chương trình điều khiển cho các vi máy tính), do Gary Kildall của Digital Research viết Kindall có bằng Tiến sĩ về máy
Trang 36tính và CP/M của ông là OS thành công nhất thời đó, bán được hơn 600.000 bản IBM đã cố gắng liên lạc với Kildall; các sếp của hãng gặp được Kildall, nhưng bị ông này từ chối ký hợp đồng IBM bèn nhanh chóng quay trở lại tìm Gates và hợp đồng nhờ Microsoft viết cho mình một OS mới, và cuối cùng cái hệ MS- DOS này
đã xóa sổ cả CP/M của “kẻ làm cao” Kildall
"Microsoft Disk Operating System" hay MS-DOS được viết trên nền QDOS (Quick and Dirty Operating System) của Tim Paterson thuộc hãng Seattle Computer Products, cho máy tính nguyên mẫu dựa trên bộ vi xử lý Intel 8086 Hy hữu hơn khi QDOS lại dựa trên CP/M của Kildall Cụ thể là Paterson đã mua một cuốn sách hướng dẫn CP/M và dùng nó làm bửu bối để viết OS của mình ròng rã trong vòng sáu tuần Dĩ nhiên, ông phải chế biến khéo léo cho QDOS khác với CP/M tới mức đủ để không vi phạm bản quyền Micrososft đã bí mật mua lại QDOS của Seattle Computer Products với giá 50.000USD IBM chớ hề biết Sau đó, Gates còn òn ỉ được IBM cho phép giữ lại bản quyền của MS-DOS và tiếp thị nó riêng rẻ, không dính gì tới cái dự án IBM PC Gates hốt bạc nhờ vụ này Năm 1981, Paterson bỏ Seattle Computer Products chạy qua đầu quân bên Microsoft
Sau này, IBM đã chế ra hệ điều hành mới của riêng mình gọi là PC DOS, như PC-DOS 2000 được giới thiệu là hơn hẳn MS-DOS
DOS là OS 16-bit, không hỗ trợ môi trường đa người dùng và đa nhiệm Windows 95 vẫn trên nền DOS Từ Windows NT trở đi, Windows “cắt đứt dây chuông” với DOS, nhưng vẫn chạy được các chương trình viết cho DOS
Trang 3710 LỆNH HÀNG ĐẦU CỦA DOS
1 cd Change Directory, thay đổi thư mục
2 dir Xem nội dung trong thư mục
4 del Xóa bỏ các file
5 edit Biên tập (xem, hình thành hay sửa chữa các file)
6 move Cho phép di chuyển các file hay thư mục từ folder này tới folder khác hay t
sang ổ đĩa khác
7 ren
(rename) Đổi tên file hay thư mục
8 deltree Viết gọn từ "delete tree", lệnh xóa triệt để các file hay thư mục khỏi máy tính
9 cls Lệnh cho phép bạn xóa toàn bộ các nội dung của màn hình và chỉ để lại mộ
10 format Nạp file format.com để xóa sạch sẽ toàn bộ các thông tin khỏi một đĩa mềm
cứng
Windows và window
Chỉ thêm và bớt có cái đuôi chữ S là ý nghĩa hai từ cực kỳ thông dụng với
dân xài máy tính này đã khác nhau tới mức “đại bác bắn không tới”
Cả hai từ Windows và window đều là tiếng Anh Nếu xét nghĩa đen thủi đen
thui thì chúng là anh em của nhau: windows là số nhiều của window (cửa sổ) Còn
với dân máy tính, Windows là hệ điều hành của nhà Microsoft, và window là cửa sổ
ứng dụng trong Windows
Windows: hệ điều hành Microsoft
Windows là một gia đình các hệ điều hành cho máy tính cá nhân PC dùng
giao diện đồ họa người dùng (graphical user interface, GUI) thay cho dòng lệnh
(command line) như thời MS-DOS Hiện nay, Windows đang được sử dụng trong
90% tổng số máy PC trên thế giới Windows cung cấp tính năng quản lý bộ nhớ ảo
(virtual memory), đa nhiệm, hỗ trợ nhiều thiết bị ngoại vi Tới nay, Windows đã có
rất nhiều phiên bản và được thiết kế cho đủ các dòng máy tính từ bỏ túi, cầm tay,
để bàn tới máy trạm và máy chủ
Trang 38- Màn hình khởi động Windows 1.01
Hai năm sau khi phát hành phiên bản đầu tiên (1981) của MS-DOS 1.0, một
hệ điều hành dành cho các máy tính IBM PC, Microsoft trình làng Windows vào ngày 10-11-1983 Tháng 20-11-1985, Windows 1.0 ra đời Trải qua nhiều lần thay đổi và nâng cấp, Microsoft mới thật sự chinh phục được người xài máy tính với Windows 3.1(ra đời ngày 6- 4-1992) và Windows for Workgroups 3.11 (8-11-1993) Đây là hệ điều hành 16-bit chạy trên cả hai dòng máy tính MS-DOS
- Màn hình khởi động Windows 3.1
Windows chạy độc lập đầu tiên là Windows 95 cũng là hệ điều hành Windows 32-bit đầu tiên, được tích hợp DOS vào trong Windows, phát hành vào ngày 24-8-
1995 Trước khi chính thức mang tên cúng cơm Windows 95, hệ điều hành này còn được gọi là Windows 4.0 với tên mã là Chicago Trải qua thêm 4 đời 95-SP1 (31-12-1995), 95A (OSR-1, tháng 2-1996), 95B (OSR-2.0, tháng 8-1996) và 95C (OSR-2.5, tháng 11-19970, dòng Windows cho máy tính cá nhân này lần lượt lên Windows 98 (tên mã Memphis, ra đời 25-6-1998), 98SE (5-5-1999) và qua bước chuyển tiếp Widows ME (14-9-2000) trước khi lột xác hoàn toàn thành Windows XP (25-10-2001)
Để chạy các máy trạm và máy chủ, Microsoft phát triển dòng Windows NT (NT viết tắt từ New Technology, công nghệ mới) Nó có hai phiên bản Windows NT Server (cho máy chủ) và Windows NT Workstation (chạy một mình hay cho máy trạm) Dòng Windows này được phát triển từ NT 3.1 (27-7-1993) lên dần tới NT 3.51 (30-5-1995) để chuyển sang NT 4.0 (24-8-1996) rồi làm một cú đại nhảy vọt
Trang 39sang Windows 2000 (17-2-2000) và mới nhất là Windows Server 2003 (tháng 2003)
4-Window: cửa sổ của Windows
Đây là một cái khung hình chữ nhật trên màn hình desktop hiển thị một tài liệu hay một chương trình đang chạy Với các máy tính và hệ điều hành định hướng đồ họa cao hiện nay, bạn có thể mở nhiều cửa sổ làm việc cùng một lúc Bạn có thể thoải mái di chuyển vị trí, thay đổi kích thước, giấu hay cho hiển thị bất
cứ cửa sổ nào Trong mỗi cửa sổ, bạn có thể chạy một chương trình hay hiển thị một tài liệu khác nhau Đó là nhờ tính năng đa nhiệm (multitasking) của Windows,
và ngày nay còn được tăng thêm sức mạnh bởi công nghệ siêu phân luồng (HT) của CPU Intel Pentium 4
Trang 40với nhiều chức năng, công nghệ và chuẩn mới Có thể nói, đây là lần thay đổi nền tảng PC một cách căn cơ và đồng bộ nhất từ trước tới nay Và những người sử dụng máy tính phải bắt đầu làm quen với chúng
Bộ nhớ DDR và DDR2 khác nhau
DDR2 là bộ nhớ DDR thế hệ thứ hai, mở ra khả năng đẩy tốc độ bộ nhớ và băng thông bộ nhớ lên cao hơn Tuy kích thước y chang nhau (dài 133mm) và có cấu trúc gần như “sao y bản chính”, hai thế hệ DDR này hoàn toàn không tương thích nhau Chúng khác nhau về điện thế (DDR 2,5V, DDR2 chỉ 1,8V), số chân (DDR 184 chân, DDR2 tới 240 chân) và tín hiệu của chúng đều khác nhau Vì thế socket của hai loại DDR này cũng được thiết kế khác nhau, socket DDR2 không thể gắn DDR, và ngược lại
Vị trí của khe cắt (gọi là Key hole) ở cạnh chân DDR2 và DDR cũng khác nhau Nhưng do khe cắt trên DDR2 được di dời vào gần giữa hơn, khó phân biệt đầu phải, đầu trái hơn, nên bạn phải “cẩn thận gấp đôi” khi gắn thanh DDR2 vào socket
Với DDR2, cấu hình Dual Channel cũng linh hoạt hơn Bạn có thể gắn và thanh 256MB ở một socket kênh 1, và hai thanh 128MB ở hai socket kênh 2 (chứ không bắt buộc phải dùng mỗi kênh một thanh và có cùng dung lượng như ở DDR)
Để bảo đảm điện năng lên tới 150w, người ta đã thiết kế đầu cắm mới có 6 chân