bảo hiểm y tế tự nguyện
Trang 1Lời nói đầu
Đảm bảo khả năng tài chính cho việc chi trả viện phí và các khoản chi phí khác trong quá trình khám chữa bệnh là một việc rất quan trọng đối với tất cả mọi ngời trong xã hội, trong trờng hợp họ không may mắc phải rủi ro về sức khoẻ Bảo hiểm y tế ra đời đã đảm nhiệm đợc công việc đó, với hai hình thức
tự nguyện và bắt buộc Bảo hiểm y tế đã góp phần rất lớn vào công tác chăm sóc sức khoẻ của mọi ngời trong xã hội
Để hiểu rõ thêm về thực trạng cũng nh tình hình triển khai của nhánh Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta hiện nay, em đã chọn đề tài: “Thực trạng Bảo
hiểm y tế tự nguyện ở Việt nam và các giải pháp hoàn thiện để phát triển” Đề tài gồm các phần sau:
Phần I: Khái quát chung về Bảo hiểm y tế.
Phần II: Thực trạng Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt nam hiện nay.
Phần III: Các giải pháp nhằm phát triển loại hình Bảo hiểm
y tế tự nguyện ở Việt nam hiện nay.
Trong khuôn khổ đề án môn học, cũng nh sự khó khăn về tìm kiếm nguồn tài liệu (số liệu) của Bảo hiểm y tế, chắc chắn đề tài cha thể đi sâu vào phân tích cặn kẽ thực trạng cũng nh đa ra các giải pháp để nhằm phát triển loại hình này Em hy vọng rằng trong quá trình thực tập cũng nh viết chuyên
đề thực tập em sẽ có thể làm rõ hơn nội dung này
Trang 2Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: PGS.TS.hồ sĩ sà đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này!
Trang 3I Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm y tế.
1 Sự cần thiết:
Trong cuộc sống hàng ngày con ngời luôn luôn gặp phải những rủi ro trong đó phải kể đến rủi ro về sức khoẻ nh: ốm đau, bệnh tật Điều này đã dẫn
đến việc xuất hiện các chi phí về khám chữa bệnh mà mọi ngời không thể xác
định đợc trớc (mang tính đột xuất), vì vậy dù lớn hay nhỏ các chi phí này đều gây khó khăn cho ngân quỹ của gia đình, mỗi cá nhân đặc biệt với những ngời
có mức thu nhập thấp Trong trờng hợp gặp rủi ro về sức khoẻ, không những
nó làm giảm thu nhập của bản thân, mà còn tác động sấu đến sức khoẻ của
ng-ời đó Do vậy đng-ời sống của họ càng thêm khó khăn
Để khắc phục những rủi ro trên cũng nh ổn định vể mặt tài chính trong ờng hợp không may mắn gặp phải rủi ro về sức khoẻ, ngời ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau Trong đó Bảo hiểm y tế là biện pháp tốt nhất để mọi ng-
tr-ời có thể khắc phục đợc những rủi ro trên Đợc ra đtr-ời vào cuối thế kỷ XIX Bảo hiểm y tế ngày càng phát triển và cho đến nay nó đã tỏ rõ là một biện pháp không thể thiếu trong đời sống của con ngời với việc khắc phục những rủi ro
về mặt sức khoẻ
2 Tác dụng:
Bảo hiểm y tế ra đời có những tác dụng thiết thực sau:
Thứ nhất: Giúp những ngời tham gia Bảo hiểm y tế khắc phục những
khó khăn về mặt kinh tế khi họ bất ngờ bị ốm đau, bệnh tật bởi vì trong quá trình điều trị bệnh chi phí phát sinh rất tốn kém, mặt khác thu nhập của bản thân ngời đó lại bị giảm tử đó ảnh hởng đến ngân quỹ của gia đình
Phần I:
Khái quát chung về Bảo hiểm y tế
Trang 4Thứ hai: Góp phần giảm gánh nặng cho Ngân sách của Nhà nớc Các
n-ớc trên thế giới thờng có các khoản chi từ Ngân sách cho hệ thống y tế Nhng các khoản chi này thờng không đáp ứng đợc nhu cầu khám chữa bệnh đặc biệt
ở các nớc đang phát triển Để khắc phục tình trạng này Chính phủ các nớc ờng thực hiện các biện pháp nh: Thu viện phí, kêu gọi nguồn viện trợ trong và ngoài nớc Nhng các giải pháp này thờng không hiệu quả khi mức sống của dân c tại các nớc này thờng là thấp, nên sự phụ thuộc vào nguồn ngân sách của công tác y tế thờng vấn là lớn
th-Do vậy Bảo hiểm y tế là biện pháp tốt nhất để giảm gánh nặng cho ngân sách của chính phủ
Thứ ba:
Bảo hiểm y tế góp phần nâng cao chất lợng và thực hiện sự công bắng xã hội trong khám chữa bệnh Sự đóng góp vào quỹ Bảo hiểm y tế đã góp phần
hỗ trợ cho ngân sách y tế, từ đó ngành y tế có thể có điều kiện để trang bị cơ
sở vật chất đầy đủ, hiện đại để phục vụ các đối tợng khám chữa bệnh tốt hơn
3 Đối tợng Bảo hiểm y tế.
Khi ngời tham gia Bảo hiểm y tế gặp rủi ro về sức khoẻ nh: ốm đau, bệnh tật thì sẽ đợc cơ qua Bảo hiểm y tế chi trả các khoản chi phí, mức chi trả phụ thuộc vào mức mà ngời tham gia đóng góp
Do vậy đối tợng Bảo hiểm y tế là sức khoẻ của ngời đợc Bảo hiểm
Trang 54 Đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế.
Thông thờng ở các nớc ngời ta đều chia các đối tợng tham gia ra làm hai loại cụ thể:
Loại 1: Đối tợng tham gia bắt buộc.
Với loại hình này đối tợng tham gia là bắt buộc đợc quy định trong các văn bản pháp luật của mỗi nớc Cụ thể ở Việt nam đối tợng tham gia bắt buộc
đợc quy định cụ thể ở điều 2 trong Nghị định 58/1998/NĐ-CP ban hành ngày 13/08/1998 của chính phủ
Loại 2: Đối tợng tham gia tự nguyện.
Với loại hình tự nguyện đối tợng tham gia là tự nguyện không bắt buộc, tức là mọi ngời có nhu cầu đều có thể tham gia (trừ một số đối tợng cá biệt khác) Cụ thể ở Việt nam đối tợng tham gia tự nguyện đợc quy định ở điều 22 của nghị định 58/1998/NĐ-CP trên
5 Phạm vi Bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế là hoạt động nhằm thanh toán chi phí y tế cho ngời tham gia theo nguyên tắc cân bằng thu chi nguồn quỹ Về nguyên tắc mọi ngời dân trong xã hội đều có quyền tham gia nhng thực tế Bảo hiểm y tế không chấp nhận Bảo hiểm thông thờng cho ngời tham gia mắc bệnh nan y nếu không có thoả thuận gì thêm
Đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro về sức khoẻ đều đợc thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiêu mức khác nhau tuỳ thuộc vào phạm vi tham gia của mỗi ngời cũng nh “mức độ thiệt hại” mà họ phải gánh chịu
Tuy nhiên Bảo hiểm y tế sẽ từ chối chi trả trong những trờng hợp ngời tham gia tự huỷ hoại bản thân, trong tình trạng say cũng nh nhiều trờng hợp khác tuỳ thuộc vào quy định của mỗi nớc khác nhau Cụ thể ở Việt nam đợc quy định trong điều 10 của nghị định 58/1998/NĐ-CP của chính phủ
Trang 6Ngoài ra mỗi Quốc gia còn có những chơng trình chăm sóc sức khoẻ Quốc gia khác nhau Cơ quan Bảo hiểm y tế cũng không có trách nhiệm
đối với những ngời đợc Bảo hiểm y tế nếu họ khám chữa những bệnh thuộc chơng trình này
6 Các phơng thức Bảo hiểm y tế.
Căn cứ vảo mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho ngời có thẻ Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm y tế đợc phân ra thành các phơng thức sau:
Thứ nhất: Bảo hiểm y tế trọn gói
Theo phơng thức này cơ qua Bảo hiểm y tế sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi Bảo hiểm y tế cho ngời đợc Bảo hiểm y tế
Thứ hai: Bảo hiểm y tế trọn gói, trừ các cuộc đại phẫu thuật
Phơng thức này cơ quan Bảo hiểm y tế sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí
y tế thuộc phạm vi Bảo hiểm y tế, trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu thuật (theo quy định của cơ quan y tế)
Thứ ba: Phơng thức Bảo hiểm y tế thông thờng
Theo phơng thức này trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm y tế đợc giới hạn tơng xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của ngời đợc Bảo hiểm y tế
Tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển của mỗi nớc mà thực hiện một hoặc hai hay cả ba phơng thức trên, đồng thời mỗi phơng thức lại có các hình thức tham gia khác nhau
Ví dụ: Phơng thức Bảo hiểm y tế thông thờng có hai hình thức tham gia bảo hiểm là: Bắt buộc và tự nguyện
Thông thờng ở các nớc ngèo thờng thực hiện phơng thức Bảo hiểm y tế thông thờng, và ở nớc ta cũng vậy
7 Nguồn quỹ Bảo hiểm y tế.
Trang 7Quỹ bảo hiểm y tế là một quỹ tài chính có quy mô phụ thuộc vào số lợng các thành viên tham gia Bảo hiểm y tế đóng góp và mức độ đóng góp của các thành viên Với mục đích nhân đạo không vì mục đích kinh doanh quỹ Bảo hiểm y tế chủ yếu đợc hình thành từ hai loại nguồn chính sau:
-> Ngời sử dụng đóng góp
-> Ngời lao động đóng góp
Việc quy định tỷ lệ đóng góp vào nguồn quỹ của các bên phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử của mỗi Quốc gia
Cụ thể ở Việt nam với đối tợng tham gia bắt buộc việc đóng góp (đợc quy
định trong điều lệ Bảo hiểm y tế) bằng 3% tổng quỹ lơng hoặc tổng thu nhập, trong đó ngời sử dụng lao động đóng 2/3, ngời lao động đóng 1/3 vào quỹ Bảo hiểm y tế nếu còn tham gia lao động Những ngời nghỉ hu, mất sức lao động tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc sẽ đóng góp 3% mức lơng hu hoặc mức trợ cấp mất sức lao động vào quỹ Bảo hiểm y tế
Đối với hình thức Bảo hiểm y tế tự nguyện quỹ Bảo hiểm y tế đợc thu của những ngời có nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ đồng thời đợc hạch toán riêng và đ-
ợc chi trả cho các chi phí khám, chữa bệnh, thanh toán cho đại lý Bảo hiểm y
tế và chi cho công tác quản lý
Ngoài ra quỹ Bảo hiểm y tế còn đợc sự hỗ trợ của ngân sách nhà nớc, các
tổ chức xã hội đóng góp mặt khác trong quá trình hoạt động nguồn quỹ nhàn rỗi còn đợc sử dụng cho đầu t bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu do kho bạc Nhà nớc phát hành hay của các Ngân hàng Thơng mại, nhằm bảo đảm sự tăng trởng, cũng nh khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế khi cần thiết
Việc sử dụng nguồn quỹ thì tuỳ thuộc vào mỗi nớc mà có quy định khác nhau ở Việt nam 91,5% đợc dành cho quỹ khám, chữa bệnh; trong đó dành 5% lập quỹ dự phòng khám chữa bệnh 8,5% cho chi phí quản lý thờng xuyên của hệ thống Bảo hiểm y tế của Việt nam theo quy định trong nghị định 58/1998/NĐ-CP ngày 13/08/1998 của chính phủ
Trang 88.Một vài nét về bảo hiểm y tế ở Việt Nam:
Bảo hiểm y tế thực tế đã góp phần rất lớn vào công tác chăm sóc sức khoẻ
và thực hiện công bằng xã hội trong việc khám chữa bệnh cho mọi ngời dân trong xã hội Để hiểu rõ hơn về Bảo hiểm y tế Việt nam ta xem xét quá trình
ra đời của ngành này
a Trớc năm 1992.
Trớc năm 1992 ở nớc ta cha có Bảo hiểm y tế, sự chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân trong xã hội đợc Nhà nớc bao cấp và chi từ Ngân sách, đồng thời việc chăm sóc sức khoẻ này chủ yếu đợc thực hiện cho bộ phận cán bộ công nhân viên chức Nhà nớc
Do tốc độ phát triển của nền kinh tế ta trong trong thời kỳ này là rất trì trệ, cũng nh chịu ảnh hởng của hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp Vì vậy ngân sách của nớc ta trong thời kỳ này là rất hạn hẹp Điều này tác động xấu đến công tác chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân trong xã hội, mặt khác tỷ lệ tăng dân số của nớc ta trong thời kỳ này cũng khá cao, dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh cũng nh chăm sóc sức khoẻ của mọi ngời dân trong xã hội tăng cao và trở nên bức xúc
Từ các vấn đề nảy sinh ở trên việc tìm một giải pháp để giải quyết là hết sức cần thiết và Bảo hiểm y tế Việt nam ra đời trên cơ sở sự cần thiết khách quan đó
Trang 9Trong quá trình thực tế triển khai thực hiện Nghị định trên cho thấy có những điểm cần điều chỉnh bổ sung cho phù hợp Do đó các quy đinh cũ đã đ-
ợc thay thế bằng điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ Điều lệ ban hành kèm Nghị định này có kế thừa điều lệ cũ và có hai điểm mới so với Nghị định 229/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trởng ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1992 Hai
điểm đó là:
+ Ngời tham gia phải cùng thanh toán chi phí khám chữa bệnh (cụ thể mức thanh toán là 20% tổng chi phí khám chữa bệnh) Mức thanh toán này không qua 6 tháng lơng
+ Bổ sung thêm đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc
Và cho đến nay Bảo hiểm y tế vẫn thực hiện theo điều lệ ban hành kèm Nghị định này
ở trên là vài nét về quá trình phát triển của Bảo hiểm y tế Việt nam Để hiểu rõ hơn phần nào về sự phát triển của Bảo hiểm y tế ở Việt nam ta xem xét thực trạng của nhánh Bảo hiểm y tế tự nguyện hiện nay
Cùng với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nớc về cơ chế quản lý nền kinh tế, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay ngành y tế cũng đã có những bớc đổi mới quan trọng về cơ chế, chính sách quản lý y tế Nghị định 229/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1992 của Hội Đồng Bộ Trởng (nay là Chính phủ) và Nghị định 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ
Phần II:
Thực trạng Bảo hiểm y tế tự nguyện
ở Việt nam hiện nay.
Trang 10đã ban hành điều lệ Bảo hiểm y tế nhằm mở rộng đối tợng tham gia Bảo hiểm
y tế, huy động sự đóng góp của các bên tham gia để chi cho việc khám chữa bệnh
Việc này đã làm thay đổi cơ bản chính sách khám chữa bệnh từ bao cấp sang hạch toán Sự thay đổi này đã đa lại những kết quả hết sức to lớn, không những đã mở rộng thêm quyền đợc khám chữa bệnh rộng rãi hơn, đảm bảo tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân mà còn giảm đợc gánh nặng cho Ngân sách của Nhà nớc
Hoạt động của sự nghiệp Bảo hiểm y tế đã thực sự là một yếu tố tích cực góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân của Đảng và Nhà nớc ta
Để hiểu rõ hơn về Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt nam hiện nay ta đi vào xem xét từng phần sau:
I Hệ thống các văn bản pháp quy ở nớc ta.
Kể từ khi ra đời cho đến nay Nhà nớc ta, các Bộ ngành đã có khá nhiều các văn bản pháp quy nh các Nghị định của chính phủ, các Thông t liên bộ và các văn bản khác Điều này đã góp phần rất lớn vào công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân ở nớc ta trong thời gian vừa qua Tuy nhiên bên cạnh những mặt đợc đó, còn tồn tại những mặt cha đợc nh: hệ thống các văn bản còn chồng chéo do vậy ảnh hởng đến quá trình triển khai thực hiện, ngoài ra
do có quá nhiều văn bản nh vậy làm cho những ngời trực tiếp thực hiện chính sách gặp rất nhiều khó khăn trong công việc của mình
Hơn nữa việc quy định không chi tiết trong mỗi văn bản pháp quy nh vậy
sẽ dẫn đến ngời thực hiện chính sách khó triển khai Ví dụ: việc quy định hộ nghèo đợc cấp thẻ Bảo hiểm y tế tại thông t số: 05/1999/TTLB - BLĐTBXH -
Trang 11BYT - BTC của liên Bộ lao động thơng binh xã hội, Bộ y tế, Bộ tài chính do quy định không chi tiết về chuẩn hộ nghèo đợc cấp thẻ Bảo hiểm y tế nên dẫn
đến một số địa phơng thực hiên sai, hay không cấp đợc thẻ đúng cho đối tợng,
từ đó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của ngời đáng ra đợc hởng, cũng nh chính sách chăm sóc sức khoẻ cho ngời nghèo của Đảng và Nhà nớc ta
II.tình hình triển khai:
1 Đối tợng tham gia.
Đối tợng tham gia của hình thức Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta gồm 3 loại chính sau:
+ Học sinh - Sinh viên
+ Nông dân và ngời có nhu cầu
+ Bảo hiểm y tế cho ngời ngèo
a Đối tợng tham gia là Học sinh - Sinh viên.
a11 Sự cần thiết phải Bảo hiểm y tế cho Học sinh - Sinh viên
Học sinh - sinh viên là những thành viên sẽ làm chủ đất nớc sau này, do vậy việc đảm bảo sức khoẻ cho đối tợng này là rất quan trọng để họ có thể an tâm trong việc học tập của mình tại nhà trờng Mặt khác tỷ lệ Học sinh - Sinh viên ngèo là khá lớn nên có một biện pháp bảo đảm tài chính cho họ khi không may gặp phải rủi ro về bệnh tật là rất quan trọng
Tham gia Bảo hiểm y tế, học sinh - sinh viên đợc quản lý về sức khoẻ,
đ-ợc giải quyết kịp thời các rủi ro ốm đau, tai nạn trong thời gian học tập ở ờng, với loại hình này gia đình học sinh tham gia Bảo hiểm y tế an tâm hơn nếu không may con họ phải điều trị tại các cơ sở y tế, vì các chi phí dù lớn đến bao nhiêu cũng đợc bảo hiểm y tế chi trả Đó chính là sự u việt của Bảo hiểm
Trang 12tr-y tế Học sinh - Sinh viên Bảo hiểm tr-y tế Học sinh - Sinh viên thực sự tạo điều kiện cho y tế trờng học hoạt động phù hợp với mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh - sinh viên, trong đó có giáo dục thể chất, hơn thế nữa còn giáo dục tính nhân đạo, tính cộng đồng cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trờng Nh vậy Bảo hiểm y tế học sinh - sinh viên thực sự cần thiết đối với việc khôi phục, củng cố mạng lới y tế nhằm phục vụ sức khoẻ ban đầu, cũng nh chữa bệnh cho học sinh tại các cơ sở y tế.
Hơn nữa thực tiễn triển khai cho thấy Học sinh, Sinh viên là loại đối tợng tham gia nhiều nhất trong nhánh Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta (Số liệu năm 2000 cho thấy có 3294830 Học sinh - Sinh viên tham gia chiếm 79,66%
so với tổng đối tợng tham gia tự nguyện là 4136221 ngời), cũng nh sự thiết thực của loại hình này đối với Học sinh - Sinh viên Nên Bảo hiểm y tế cho Học sinh - Sinh viên là một tất yếu khách quan trong công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân cũng nh tiến tới thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân của Đảng và Nhà nớc ta trong thời gian tới
a1 Thực tiễn triển khai loại hình này
Sau 5 năm thực hiện Bảo hiểm y tế Học sinh - Sinh viên; theo hớng dẫn của liên Bộ Giáo Dục và Đào tạo - Y tế, nhìn chung Bảo hiểm y tế Học sinh - Sinh viên đã thực sự góp phần quan trọng trong việc thực hiện tốt chủ trơng xã hội hoá công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung và Học sinh - Sinh viên nói riêng Để thấy rõ hơn thực trạng của loại đối tợng này ta xem xét bảng thống kê số liệu sau:
3.460.540 12,61 90,77
3.396.400 -1,85 93,03
3.294.830 -2,99 79,65
Trang 13(Nguồn: Chuyên đề Kinh tế Bảo hiểm ; (*): So với tổng số đối tợng tham gia tự nguyện).
Nhận xét:
Qua bảng số liệu cũng nh biểu đồ trên cho ta thấy đối tợng tham gia Học sinh - Sinh viên có xu hớng giảm qua các năm Cụ thể năm 1999 so với năm
1998 giảm 1,85%; năm 2000 so với năm 1999 giảm 2,99%
Mặt khác tỷ lệ đối tợng tham gia của loại đối tợng Học sinh - Sinh viên so với tổng số đối tợng tham gia tự nguyện cũng có xu hớng giảm Cụ thể năm
1997 là 92,53% đến năm 1998 còn 90,77%, năm 2000 còn 79,65%
Ngoài ra việc sử dụng 35% kinh phí Bảo hiểm y tế học sinh - sinh viên để lại ở một số nơi là sai mục đích ví dụ nh: xây dựng trờng học Đấy là những khoản chi không thuộc vào số phí để lại điều này nó dẫn đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở trờng học là rất sơ sài Do vậy không kích thích đợc sự tham gia của học sinh - sinh viên
Trên là một số thực trạng vấn đề còn tồn tại đối với đối tợng tham gia là học sinh - sinh viên trong loại hình Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta hiện nay
b Đối tợng tham gia là nông dân.
b1 Sự cần thiết phải thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân
ở nớc ta nông dân chiếm đại bộ phận trong dân số Do vậy trong quá trình thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân không thể thiếu đợc đối tợng này Mặt khác triển khai Bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân sẽ mang lại công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ toàn dân
Hơn nữa thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân sẽ nâng cao
đ-ợc tính cộng đồng và trách nhiệm của mỗi thành viên trong xã hội, cũng nh
Trang 14nguồn quỹ của Bảo hiểm y tế sẽ đảm bảo đợc công tác cân bằng thu chi (khi
đối tợng này đợc mở rộng) thêm nữa nông dân là đối tợng có thu nhập thấp, do vậy việc thực hiện Bảo hiểm y tế cho họ sẽ giúp họ chi trả những khoản chi phí khám chữa bệnh phát sinh khi họ không may mắc phải bệnh tật mà với họ những khoản chi phí này thờng lớn hơn khả năng chi trả của họ Do vậy đảm bảo cho cuộc sống của họ diễn ra đợc bình thờng
b2 Thực trạng của việc thực hiện loại hình này
Để hiểu rõ thực trạng của loại hình này ta xem xét bảng sau:
Chiếm (%) (so với tổng) 3,63 3,75 3,39 3,01
(Nguồn: Tạp chí bảo hiểm y tế - Chuyên đề kinh tế bảo hiểm)
Theo em sở dĩ có những điều trên là do sự nhận thức trong Nông dân về Bảo hiểm y tế, cũng nh những quyền lợi mà họ đợc hởng khi tham gia là rất kém, thậm chí một số nơi họ không hiểu gì về Bảo hiểm y tế
Ngoài ra nhiều tỉnh cha triển khai loại hình này hay triển khai nhng do công tác tuyên truyền kém nên không thu đợc hiệu quả
Trang 15Một trong những tỉnh triển khai thành công nhất chính sách này là tỉnh Hải Phòng điển hình trong năm 1998 tỉnh đã có 61.500 nông dân tham gia Bảo hiểm y tế chiếm gần 50% tổng số đối tợng tham gia loại hình này trong cả nớc Với hai mức đóng phí 40 nghìn đồng và 70 nghìn đồng/năm Cơ quan Bảo hiểm y tế ở đây đã phối hợp tốt với các cơ sở y tế thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho nông dân có thẻ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho nông dân Do vậy đã thu đợc kết quả rất tốt trong khi triển khai loại hình.
Ngoài Hải Phòng ra các tỉnh, thành phố khác hầu nh triển khai loại hình này rất kém hiệu quả, không thu hút đợc nông dân tham gia
c Các đối tợng khác mang tính chất nhân đạo - Bảo hiểm y tế cho ngời nghèo.
c1 Sự cần thiết
Hỗ trợ ngời nghèo khám chữa bệnh miễn phí thông qua cấp thẻ Bảo hiểm
y tế là một giải pháp quan trọng góp phần xoá đói giảm nghèo bền vững, thực hiện công bằng xã hội nói chung và chăm sóc sức khoẻ ngời nghèo nói riêng khi mà ngời nghèo hầu nh thiếu mọi nguồn lực để vơn lên, hoà nhập phát triển cùng cộng đồng
Mặt khác việc thực hiện Bảo hiểm y tế cho ngời nghèo còn thể hiện đợc bản chất tốt đẹp của nớc ta là một nớc Xã Hội Chủ Nghĩa, luôn đặt con ngời vào trung tâm của sự phát triển xã hội Hơn nữa chính sách này thực hiện tốt
sẽ có tác động tích cực đến sự ổn định chính trị từ đó tác động tốt đến sự phát triển kinh tế ở nớc ta
c2 Thực trạng của việc triển khai loại hình này cho ngời nghèo ở nớc
ta hiện nay.
Nh trên ta thấy với bản chất tốt đẹp của Chủ Nghĩa Xã Hội luôn đặt con ngời vào vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội Điều này đợc thể hiện qua hệ thống chính sách xã hội mang đầy tính nhân văn, nhân bản và cách mạng sâu
Trang 16Đầu tiên là chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho ngời nghèo:
Nghị định 95/CP ngày 27/08/1994 của Chính phủ đã quy định ngời nghèo
sẽ đợc miễn viện phí khi khám chữa bệnh Bên cạnh đó, ngành y tế khuyến khích các cơ sở y tế khám chữa bệnh miễn phí cho ngời thuộc diện ngời nghèo
mà cha có thẻ Bảo hiểm y tế, với những giải pháp đó, ngời quá nghèo sẽ đợc khám chữa bệnh không mất tiền với sự hỗ trợ của Nhà nớc và xã hội
Tiếp đến nữa là chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho ngời nghèo theo hình thức cấp thẻ Bảo hiểm y tế:
Điều này đợc quy định tại thông t số BTC ngày 29/01/1999 của liên Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội, Bộ y tế,
05/1999/TTLB-BLĐTBXH-BYT-Bộ tài chính
Khi chính sách cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho ngời nghèo đợc ban hành, các
địa phơng, cơ sơ tổ chức triển khai kịp thời, năm 1999 mới có 34 tỉnh, thành phố mua và cấp đợc 688.826 thẻ Bảo hiểm y tế cho ngời nghèo, chiếm 6,5%
so với tổng số ngời nghèo trong cả nớc, thì đến năm 2000 đã có 44 tỉnh, thành phố cấp đợc 1.111.578 thẻ tăng 61% so với năm 1999, nâng tỷ lệ số ngời nghèo đợc cấp thẻ Bảo hiểm y tế lên 13,8%
Theo báo cáo của các địa phơng đến tháng 9/2001 đã có 48 tỉnh, thành phố đã hoàn thành các thủ tục cần thiết để có thể cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho khoảng 1.750.000, ngời nghèo tăng 57% so với năm 2000, nhng mới đạt 13% ngời nghèo đợc cấp thẻ Bảo hiểm y tế so với tổng số ngời nghèo theo chuẩn hộ nghèo công bố ngày 1/11/2000 của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội
Năm 2001 nhiều tỉnh, thành phố đã mở rộng diện ngời nghèo đợc trợ cấp thẻ Bảo hiểm y tế nh thành phố Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh thực hiện 100%; Phú Yên, Đà Nẵng 80%; Ninh Thuận, Nghệ An 50%; Hà Tây 40%; Bình Định, Lâm Đồng 36%; và nhiều địa phơng khác đã tích cực triển khai khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế tại trạm y tế xã
Từ kinh nghiệm thực hiện khám chữa bệnh cho ngời nghèo thông qua việc cấp thẻ Bảo hiểm y tế không mệnh giá (thanh toán sau, theo kết quả khám
Trang 17chữa bệnh cho ngời nghèo) ở một số tỉnh trớc đây, trong năm 2001, do khó khăn về nguồn lực, tỷ lệ hộ nghèo cao, một số tỉnh trớc đây thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho ngời nghèo theo giấy chứng nhận hộ đói nghèo đã lựa chọn phơng thức cấp thẻ Bảo hiểm y tế không mệnh giá (các tỉnh: Phú Yên, Hoà Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lai Châu).
Nhìn chung việc thực hiện khám chữa bệnh cho ngời nghèo theo phơng thức cấp thẻ Bảo hiểm y tế năm 2001 có xu hớng ngày càng phát triển và nhận
đợc sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp ở địa phơng cùng với
sự phối hợp giữa các ngành có liên quan đợc đồng bộ hơn, tuy nhiên tốc độ triển khai còn chậm cha đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu
Qua những số liệu trình bày ở trên cho thấy, nhiều tỉnh, thành phố đã nghiêm túc thực hiện thông t liên Bộ, triển khai sớm và cố gắng đạt mức quy
định là phát hành thẻ Bảo hiểm y tế cho 30% số ngời nghèo nhất Nhng hiện nay còn có 17 tỉnh, thành phố đến nay vẫn cha tổ chức việc cấp thẻ Bảo hiểm
y tế cho ngời nghèo đó là: Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Quảng Trị, Khãnh Hoà, Kon Tum, Lai Châu, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Tuyên Quang
(Nguồn: Tạp trí Bảo hiểm y tế)
Tình hình khám chữa bệnh của ng ời nghèo theo chế độ Bảo hiểm y tế:
Ngời nghèo có thẻ Bảo hiểm y tế đợc khám chữa bệnh theo đúng quy
định hiện hành của Nhà nớc, bình đẳng nh các đối tợng có thẻ Bảo hiểm y tế bắt buộc và không phải thực hiện cùng chi trả Mặc dù mệnh giá của thẻ Bảo hiểm y tế ngời nghèo so với mức đóng bình quân Bảo hiểm y tế bắt buộc chỉ bằng 25%, song do quỹ Bảo hiểm y tế thực hiện theo nguyên lý: Ngời có mức
đóng cao giúp ngời có mức đóng thấp, vì vậy ngời nghèo có thẻ Bảo hiểm y tế khi khám bệnh nội trú hay điều trị nội trú đều đợc hởng thụ và cung cấp dịch
vụ y tế theo bệnh lý, ngang bằng giữa những ngời cùng có thẻ Bảo hiểm y tế thuộc đối tợng khác khi đi khám chữa bệnh
Trang 18Theo số liệu thống kê cha đầy đủ năm 2000 có khoảng 600.000 lợt ngời nghèo khám chữa bệnh ngoại trú, bằng 55% số thẻ đã phát hanh, với chi phí trên 10,7 tỷ đồng; bình quân chi phí một lần khám chữa bệnh ngoại trú khoảng 18.000 đồng Đã có 55.000 lợt ngời nghèo đến điều trị nội trú tại các tuyến, bằng khoảng 6% số ngời nghèo có thẻ Bảo hiểm y tế, tổng chi phí đã thanh toán cho các cơ sở khám chữa bệnh là 13,8 tỷ đồng, bình quân chi phí một đợt điều trị nội trú là 250.000 đồng.
Phân tích số liệu thống kê trên và so sánh với số liệu tơng ứng của thẻ Bảo hiểm y tế bắt buộc ta dễ dàng nhận thấy: chi phí cho một lần khám chữa bệnh ngoại trú và một đợt điều trị nội trú của ngời nghèo tơng đơng và có phần cao hơn một chút so với chi phí bình quân của thẻ Bảo hiểm y tế bắt buộc, song tỷ lệ số đợt đi khám chữa bệnh của ngời nghèo lại thấp hơn nhiêu
so với tỷ lệ đi khám chữa bệnh của thẻ Bảo hiểm y tế bắt buộc (Bảo hiểm y tế bắt buộc khám chữa bệnh ngoại trú 180%, điều trị nội trú là 12%) Điều này
có thể giải thích bằng việc: Ngời nghèo thực sự ốm đau, không thể làm việc
đ-ợc mới đi khám chữa bệnh; nhiều ngời nghèo cha hiểu đầy đủ quyền lợi của ngời có thẻ Bảo hiểm y tế trong những năm đầu; nơi cung cấp dịch vụ còn xa nơi c trú của ngời nghèo
Đến thời điểm hiện tại hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam đã phối hợp với ngành y tế địa phơng tổ chức khám chữa bệnh cho ngời có thẻ Bảo hiểm y tế tại tuyến y tế xã và đã triển khai ở 3.292 xã trên tổng số gần 11.000 xã trong cả nớc Nh vậy bộ phận ngời nghèo có thẻ Bảo hiểm y tế đã đợc chăm sóc sức khỏe ngay từ tuyến cơ sở Đây là mô hình mang lại hiệu quả thiết thực đối với công tác chăm sóc sức khoẻ cho ngời có thẻ Bảo hiểm y tế nói chung, cho ng-
ời nghèo có thẻ Bảo hiểm y tế nói riêng Bảo hiểm y tế Việt Năm đang tiếp tục
mở rộng việc đa công tác khám chữa bệnh về các xã, phờng còn lại trong những năm tới
Những khó khăn, tồn tại trong tổ chức thực hiện:
Mặc dù việc thực hiện thông t 05 đã đạt đợc những kết quả bớc đầu, thể hiện đợc sự cố gắng rất lớn của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và các ngành