Trong giai đoạn này, mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước chưa có văn bảnhướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho các đối tượng dân cư nông thôn và laođộng tự do, song căn cứ vào yêu cầu nh
Trang 1THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN
2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM Y TẾ VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN VIỆT NAM.
2.1.1 Bảo hiểm y tế ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, chính sách BHYT được xây dựng theo loại hình bảo hiểm y tế
xã hội, là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sựđóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức, cá nhân để thanhtoán chi phí KCB theo quy định cho người có thẻ BHYT khi ốm đau Ra đời từ năm
1992 bằng Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, sau 17năm chính sách BHYT ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi về cách thức tổ chức, phươngthức chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT Trước năm 2003, BHYT ViệtNam do Bộ Y tế trực tiếp quản lý, điều hành Từ năm 2003 đến nay, chính sáchBHYT do BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chínhphủ Từ 01/07/2005 đến 30/9/2009, chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ Điểm cơ bản trong phương thức chitrả chi phí KCB cho người có thẻ BHYT trong giai đoạn này là thanh toán thực chi,bãi bỏ trần thanh toán trong điều trị nội trú, một số loại thủ thuật, phẫu thuật đượcthanh toán trong điều trị nội trú, chi phí của nhiều loại vật tư y tế tiêu hao được BHYTthanh toán không nằm trong cơ cấu giá dịch vụ y tế, đối với đối tượng bắt buộc là bãi
bỏ quy định cùng chi trả 20% Riêng đối với các dịch vụ kỹ thuật cao theo danh mụccủa Bộ Y tế có chi phí lớn trên 7 triệu đồng thì bệnh nhân BHYT bắt buộc được thanhtoán 60% chi phí nhưng không được vượt quá hai mươi triệu đồng cho một lần sửdụng dịch vụ kỹ thuật đó, phần còn lại người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB (trừngười nghèo, người có công, hưu trí được thanh toán 100%) Vì vậy, quyền lợi củangười có thẻ BHYT giai đoạn này được mở rộng gần như tối đa nhưng từ năm 2005quỹ BHYT bắt đầu bị bội chi Ngày 14/11/2008 Luật BHYT đầu tiên tại Việt Nam rađời, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách BHYT tại Việt Nam Từ1/10/2009, chính sách BHYT tại Việt Nam được thực hiện theo Luật BHYT số25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội, Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày27/7/2009 của Chính phủ, Thông tư số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 củaliên Bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT Điểm thay đổi cơ bản trongchính sách BHYT mới là bệnh nhân phải cùng chi trả chi phí KCB (trừ một số đốitượng đặc biệt), tăng mức đóng, mở rộng đối tượng và có lộ trình tiến tới BHYT toàndân vào năm 2014 bằng cách chuyển dần các đối tượng tham gia BHYT tự nguyệnsang diện BHYT bắt buộc Trong thời gian các đối tượng chưa thuộc diện tham gia
Trang 2BHYT bắt buộc thì tiếp tục tham gia BHYT tự nguyện, BHYT tự nguyện là giai đoạnquá độ để tiến tới BHYT toàn dân
* Các loại hình bảo hiểm y tế ở nước ta hiện nay
- BHYT bắt buộc: áp dụng cho các đối tượng được hưởng lương và sinh hoạt
phí, bao gồm cán bộ công chức, người lao động trong các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế, tổ chức chính trị xã hội, người về hưu, mất sức, các đối tượng ưu đãi xã hội,các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí thông qua BHXH, thân nhân
sĩ quan quân đội, công an nhân dân Việt Nam, người nghèo theo chuẩn của Bộ Laođộng - TB&XH Trừ đối tượng người nghèo có mức đóng 130.000 đồng/người/nămcòn các đối tượng khác trong nhóm BHYT bắt buộc có mức đóng bằng 3% tiền lương,tiền công theo hợp đồng lao động, tiền sinh hoạt phí hoặc 3% mức lương tối thiểu hiệnhành tuỳ theo từng nhóm đối tượng
- BHYT tự nguyện: áp dụng đối với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT
[16], bao gồm 2 nhóm đối tượng là BHYT tự nguyện học sinh, sinh viên và BHYT tựnguyện nhân dân Ngày 27/8/2008 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 117/2008/QĐ-TTg về việc triển khai loại hình BHYT tự nguyện cho người cận nghèo nhưng sang năm
2009 mới bắt đầu được triển khai thực hiện
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm y tế tự nguyện Việt Nam.
Ở Việt Nam, BHYT tự nguyện được áp dụng với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia
BHYT, được triển khai thực hiện theo địa giới hành chính và nhóm đối tượng theo loạihình KCB nội, ngoại trú như đối với đối tượng BHYT bắt buộc
- Tuỳ theo từng giai đoạn, BHYT tự nguyện nhân dân có thể có các đối tượng:thành viên hộ gia đình, hội viên hội đoàn thể, thân nhân người lao động, cá nhân
* Quá trình hình thành và phát triển BHYT tự nguyện nhân dân tại Việt Nam: Từ khi
BHYT được thực hiện từ năm 1992 đến nay, BHYT tự nguyện nhân dân được chialàm 4 giai đoạn:
2.1.2.1 Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 8/1998
Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 299/HĐBT ngày15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
Trong giai đoạn này, mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước chưa có văn bảnhướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho các đối tượng dân cư nông thôn và laođộng tự do, song căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, trên cơ sở Điều lệ BHYT và các chủtrương, định hướng của Đảng và Nhà nước, hệ thống cơ quan BHYT đã nỗ lực phốihợp với chính quyền các cấp xây dựng và triển khai thí điểm nhiều mô hình BHYT tựnguyện cho nhân dân theo các đề án đã được UBND tỉnh, thành phố phê duyệt
Trang 3Điển hình trong giai đoạn này là mô hình thí điểm BHYT tự nguyện cho nôngdân của Hải Phòng Hải Phòng là địa phương thực hiện thí điểm BHYT tự nguyện từrất sớm với các hình thức đa dạng và được duy trì qua nhiều năm Để triển khaiBHYT tự nguyện cho nông dân, Hải Phòng xây dựng mức đóng BHYT tự nguyện là35.000đ/người/năm; trong đó có khoảng 20% số đối tượng tham gia được ngân sách
xã hỗ trợ 1/3 mức đóng; người tham gia được hưởng quyền lợi như người tham giaBHYT bắt buộc Điều kiện triển khai để phát hành thẻ là có ít nhất 50% dân của mộtđơn vị thôn hoặc xã tham gia BHYT
Trong quá trình thực hiện, do công tác quản lý và tổ chức thiếu chặt chẽ, cácChi nhánh BHYT huyện chạy theo số lượng nên bỏ qua nguyên tắc, phát hành thẻ chocác đơn vị dân cư chưa đạt tỷ lệ quy định Năm 1997 Hải Phòng đã phát hành được:130.000 thẻ cho những người tham gia BHYT tự nguyện, đưa tổng số người có thẻBHYT chiếm gần 40% dân số toàn thành phố, đó là năm số người tham gia BHYTcao nhất trong các năm và cũng là cao nhất trong cả nước Nhưng sau đó, tình trạngmất cân đối quỹ (thu không đủ chi) đã xuất hiện và đến năm 1998 thì quỹ đã mất cânđối trầm trọng, sang năm 1999 buộc phải ngừng phát hành thẻ BHYT tự nguyện nhândân đại trà trên địa bàn
Nhìn chung, việc cân đối quỹ BHYT tự nguyện của các địa phương đều gặpkhó khăn, năm nào cũng phải điều chỉnh tăng mức đóng, nên số người tham giaBHYT tự nguyện ngày càng giảm, thời điểm người dân tham gia nhiều nhất là năm
1996, sau đó giảm dần theo từng năm:
(Nguồn: Phòng kế hoạch – tổng hợp ban BHYT-BHXH Việt Nam)
2.1.2.2 Giai đoạn từ 8/1998 đến năm 2002
Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CPngày 15/8/1998 của Chính phủ, nhưng chưa có Thông tư hướng dẫn về BHYT tựnguyện nhân dân
Vì vậy, việc triển khai BHYT tự nguyện nhân dân vẫn tiếp tục dưới hình thức thíđiểm, mang tính nhỏ lẻ, thiếu thống nhất, kết quả thu được không đáng kể Mô hìnhBHYT cho thân nhân người lao động, thành viên, hội viên của một số hội, đoàn thể
Trang 4cũng bước đầu được thí điểm Nổi bật trong giai đoạn này là thành phố Hà Nội, khinăm trước triển khai BHYT tự nguyện nhân dân tại Gia Lâm, năm sau lại triển khai tạiSóc Sơn, với mong muốn thực hiện BHYT toàn dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.Tuy nhiên, dù đầu tư nhiều tiền của và công sức, hầu hết các mô hình thí điểm đềuthất bại, đa số duy trì không được quá 1 năm mà nguyên nhân chính là do số ngườitham gia ít, không cân đối được thu chi quỹ BHYT tự nguyện Đến cuối năm 2002,trên địa bàn cả nước chỉ còn 30.000 người tham gia BHYT tự nguyện.
2.1.2.3 Giai đoạn từ 2003 đến 01/7/2005
Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CPngày 15/8/1998 của Chính phủ, Thông tư số 77/2003/TTLT-BYT-BTC ngày 7/8/2003của liên Y tế - Bộ Tài chính
Trong giai đoạn này, BHYT tự nguyện được áp dụng cho mọi đối tượng có nhucầu tham gia BHYT và được thực hiện theo quy định của Nghị định số 58, Thông tư số
77, Thông tư đầu tiên hướng dẫn BHYT tự nguyện Nội dung cơ bản của Thông tư làtriển khai BHYT tự nguyện nhân dân theo hộ gia đình và hội viên hội đoàn thể, có điềukiện về tỷ lệ số người tham gia trong cộng đồng mới phát hành thẻ (triển khai tại xãphường theo hộ gia đình khi có ít nhất 100% thành viên trong hộ gia đình và 20% số hộgia đình tại xã, phường tham gia; triển khai theo hội đoàn thể khi có ít nhất 40% số ngườitrong hội tham gia), mức đóng phân theo khu vực thành thị và nông thôn., có một số thờigian tham gia đủ lâu theo quy định mới được hưởng một số dịch vụ kỹ thuật như thai sản,phẫu thuật tim, chạy thận nhân tạo, 1 số dịch vụ kỹ thuật cao… Người có thẻ BHYT tựnguyện nhân dân được thanh toán chi phí KCB theo phương thức thực chi, có trần trongđiều trị nội trú, cùng chi trả 20% chi phí KCB Sau 2 năm thực hiện (2003, 2004), quỹBHYT tự nguyện nhân dân tại một số địa phương không cân đối được nhưng quỹ BHYT
tự nguyện chung của toàn ngành vẫn bảo đảm và có một phần kết dư : năm 2003 kết dư
BHYT tự nguyện nhân dân theo vẫn được triển khai theo hộ gia đình và hội viênhội đoàn thể nhưng giảm bớt điều kiện về tỷ lệ số đông khi tham gia (triển khai tại xã
Trang 5phường theo hộ gia đình khi có ít nhất 100% thành viên trong hộ gia đình và 10% số hộgia đình tại xã, phường tham gia; triển khai theo hội đoàn thể khi có ít nhất 30% số ngườitrong hội tham gia), bỏ điều kiện tham gia đủ lâu theo quy định mới được hưởng một
số dịch vụ kỹ thuật Với Điều lệ mới ban hành kèm theo Nghị định số 63, quyền lợicủa bệnh nhân BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nhân dân nói riêng được mởrộng gần như tối đa: được thanh toán thực chi, không có trần thanh toán trong điềutrị nội trú, không cùng chi trả (trừ một số dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn theodanh mục của Bộ Y tế), được thanh toán một số chi phí mà trước đây không có nhưchi phí điều trị do tai nạn giao thông, chi phí thủ thuật, phẫu thuật, chi phí vật tưtiêu hao y tế
Kết quả là số người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân tăng nhưng quỹ bị thiếuhụt nghiêm trọng: Năm 2005 số người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân là1.534.233 người, năm 2006 là 3.069.550 người, gấp 10 lần số người tham gia BHYT
tự nguyện nhân dân của năm 2004 Theo số liệu quyết toán của BHXH Việt Nam, bắtđầu từ năm 2005 quỹ khám chữa bệnh BHYT tự nguyện bắt đầu bị mất cân đối thuchi: năm 2005 thiếu 246 tỷ đồng, năm 2006 thiếu 1260 tỷ đồng, trong đó chủ yếu tậptrung ở BHYT tự nguyện nhân dân, quỹ BHYT tự nguyện học sinh cũng bị thiếunhưng không nhiều, chỉ vượt 10-15% số thu BHYT học sinh
Trước tình trạng quỹ BHYT tự nguyện bị thiếu hụt nghiêm trọng, BHXH ViệtNam đã tập trung nghiên cứu, phân tích số liệu thu chi và tình hình triển khai BHYT
tự nguyện tại 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, qua đó tìm hiểu, xác định cácnguyên nhân dẫn đến sự tăng đột biến chi phí khám chữa bệnh BHYT tự nguyện Cómột thực tế là tỉnh, thành phố nào, số người tham gia BHYT tự nguyện nhân dân càngnhiều, thì quỹ BHYT tự nguyện bị bội chi càng lớn Qua kiểm tra ngẫu nhiên 487trường hợp bệnh nhân BHYT tự nguyện, có chi phí KCB tương đối lớn trong một quý,thì hầu hết các trường hợp này rơi vào tình trạng vừa mua thẻ BHYT đã sử dụng ngay
để KCB Đây có thể coi là ví dụ điển hình của việc “lựa chọn ngược” của BHYT tựnguyện, cứ khi nào có bệnh nặng, phải điều trị tại bệnh viện, khi đó người dân mớimua thẻ BHYT Vì vậy, BHXH Việt Nam đã tạm dừng việc triển khai BHYT tựnguyện cho các đối tượng tham gia lần đầu, đề nghị liên Bộ nghiên cứu, điều chỉnh lạicác quy định, hướng dẫn về BHYT tự nguyện trong những tháng đầu năm 2007
- Tháng 3/2007, liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành Thông tư số BYT-BTC ngày 24/8/2005 hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện, thay thế choThông số 22 Thông tư số 06 hướng dẫn bỏ hai loại đối tượng BHYT tự nguyện nhândân là hội viên hội đoàn thể, và thân nhân người lao động, thân nhân của hội viên hộiđoàn thể, chỉ còn một đối tượng duy nhất là thành viên hộ gia đình, đồng thời thực
Trang 606/2007/TTLT-hiện việc cùng chi trả chi phí KCB, có thêm điều kiện tham gia đủ lâu mới được quỹBHYT thanh toán đối với một số bệnh Đây thật sự là một giai đoạn rất khó khăn đốivới đơn vị tổ chức thực hiện chính sách, bởi các quy định của Thông tư 06 về BHYT
tự nguyện đã không nhận được sự đồng tình của một bộ phận nhân dân, đặc biệt lànhững người bệnh, những người đã có thẻ BHYT, nay thẻ hết hạn, nhưng không đượcmua thẻ BHYT do quy định mới… và áp lực của công luận cũng ngày một lớn Thực
tế triển khai BHYT tự nguyện năm 2007 cho thấy, số học sinh, sinh viên tham giaBHYT vẫn được giữ vững ở mức trên 8 triệu em, còn số nhân dân tham gia đã giảm đáng
kể, chỉ còn 1.371.008 người, chỉ bằng 40% so với năm trước Số thu về quỹ đạt trên 831 tỷđồng, tăng so với năm trước do mức đóng được điều chỉnh tăng, tuy nhiên quỹ khám chữabệnh BHYT tự nguyện vẫn thiếu 1.546 tỷ đồng, do số đối tượng nhân dân tham gia BHYTnăm 2006 (trên 3 triệu người), vẫn KCB sang năm 2007
Những điều chỉnh về chính sách trong thực hiện BHYT tự nguyện theo Thông
tư số 06 của liên Bộ chưa đủ thời gian để có thể điều chỉnh, khắc phục những vấn đềcần thiết, thì một lần nữa liên Bộ lại phải thực hiện việc sửa đổi một số điểm củaThông tư số 06 vì mục tiêu an sinh xã hội, kết quả là 10/12/2007, liên Bộ Y tế - Tàichính ban hành Thông tư số 14/2007/TTLT-BYT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điểmcủa Thông tư số 06: quy định mức đóng của các đối tượng tham gia BHYT tự nguyện
là mức tối đa quy định tại thông tư số 06, bỏ điều kiện quy định tỷ lệ số đông trongtriển khai, ai muốn tham gia đều được đáp ứng, không phụ thuộc vào các thành viênkhác trong gia đình, trong cộng đồng
* BHYT tự nguyện nhân dân tại Việt Nam năm 2008:
- Điều kiện triển khai: Theo cá nhân, bỏ điều kiện có đủ tỷ lệ theo số đông trong cộng
đồng mới được tham gia
- Mức đóng phí BHYT: Khu vực thành thị (các quận nội thành) là 320.000
đồng/người/năm, khu vực nông thôn (các quận ngoại thành) là 240.000đồng/người/năm
- Quyền lợi được hưởng:
Cũng giống như bệnh nhân BHYT bắt buộc, bệnh nhân BHYT tự nguyện nhândân khi đi khám chữa bệnh đúng tuyến được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khámchữa bệnh nội, ngoại trú, bao gồm:
+ Khám bệnh, điều trị và phục hồi chức năng;
+ Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng;
+ Thuốc, dịch truyền theo danh mục Bộ y tế quy định;
+ Máu và các chế phẩm của máu;
Trang 7+ Các phẫu thuật, thủ thuật;
+ Sử dụng vật tư, thiết bị y tế và giường bệnh
Khác với bệnh nhân BHYT bắt buộc không phải cùng chi trả, bệnh nhânBHYT tự nguyện nhân dân được thanh toán 80% chi phí KCB theo quy định (trừ chiphí điều trị ngoại trú dưới 100.000 đ thì được thanh toán 100%) Riêng đối với cácdịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn theo danh mục của Bộ Y tế thì được thanh toán 80%chi phí nhưng không được vượt quá hai mươi triệu đồng cho một lần sử dụng dịch vụ
kỹ thuật đó, phần còn lại người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB
Thời gian để được hưởng quyền lợi BHYT:
Thẻ có giá trị sử dụng và được hưởng quyền lợi theo quy định sau 30 ngày kể từngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn
Thẻ có giá trị sử dụng và được hưởng quyền lợi khi sử dụng các dịch vụ kỹ thuậtcao chi phí lớn sau 180 ngày kể từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn
Thẻ có giá trị sử dụng và được hưởng quyền lợi về chăm sóc thai sản, sinh đẻ sau
270 ngày kể từ ngày đóng BHYT lần đầu hoặc gián đoạn
Người bệnh có thẻ BHYT có thời gian tham gia BHYT liên tục đủ 36 tháng, từtháng thứ 37 trở đi, khi sử dụng các thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghépngoài danh mục quy định của Bộ Y tế nhưng được phép lưu hành tại Việt Nam thìđược cơ quan BHXH thanh toán 50% chi phí các loại thuốc này
2.2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN.
2.2.1 Thuận lợi
Công tác triển khai BHYT TN đã nhận được sự phối hợp, quan tâm chỉ đạo củacác cấp ủy Đảng, chính quyền sự phối hợp của các sở, ban ngành ở địa phương và sựhưởng ứng ngày càng đông đảo của nhân dân
Trong tổ chức thực hiện BHYT TN đối với học sinh – sinh viên (HSSV) cómột số thuận lợi sau:
- Đặc điểm của đối tượng HSSV là: Chiếm tỉ lệ cao trong tổng số dân cả nước(gần 20%) sinh hoạt tập trung thuận lợi cho việc triển khai Công tác thông tintuyên truyền được tập trung tại trường học, mặt khác thông qua nhà trường việcthu phí cũng trở nên dễ dàng hơn cho cán bộ BHYT cơ sở
- Được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, liên bộ, các cấp ủy đảng chính quyền,
sở, ban ngành địa phương
- Tiếp đến BHYT HSSV không hạn chế trần tối đa chi phí KCB một đợt khám vàđiều trị cũng như số lần khám và điều trị do đó nhiều trường hợp HSSV thamgia BHYT có chi phí KCB đến hàng chục triệu đồng thậm chí lên đến 100 triệu
Trang 8đồng cũng được cơ quan BHYT thanh toán từ đó tăng phần hấp dẫn của chươngtrình BHYT HSSV.
- Một thuận lợi cơ bản nữa đó là BHYT HSSV phần nào đáp ứng được nguyêntắc số đông bù số ít do đó mức tham gia thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho ngườitham gia BHYT được dễ dàng hơn
Đối với BHYT TN nhân dân trong quá trình triển khai cũng có nhiều điều kiệnthuận lợi đáng kể, cụ thể là:
- Tính đặc trưng của BHYT đó là phát triển BHYT TN tiến tới BHYT toàn dân
đã được khẳng định trong văn kiện của Đảng và nhà nước ta Do việc thực hiện
và phát triển BHYT không phải là nhiệm vụ của riêng cơ quan nào, ngành nào
mà nó trở thành một và chính sách của đảng và nhà nước tại địa phương
- Tính ưu điểm của chính sách BHYT do nhà nước tổ chức thực hiện và cụ thểcủa BHYT nhân dân đó là: Người tham gia BHYT TN được chăm sóc sức khỏeban đầu tại sơ sở y tế, được khám chữa bệnh ngoại trú theo tuyến chuyên môn
kĩ thuật phù hợp không hạn chế số lần, mức phí tham gia thấp so với mức bìnhquân chung của đối tượng tham gia BHYT bắt buộc
2.2.2 Khó khăn.
Khó khăn chung trong việc thực hiện BHYT TN là tình trạng bội chi quỹ KCBBHYT vẫn tiếp tục tăng với mức độ nghiêm trọng diễn ra trong năm 2005 và 2006 Sựgia tăng chi phí y tế và việc ứng dụng rộng rãi công nghệ kĩ thuật cao trong KCBCcùng với khả năng không kiểm soát được kinh phí BHYT TN trong giai đoạn hiện tại.Ngoài ra chính sách BHYT TN chưa được những người dân trong độ tuổi trẻ khỏe đónnhận một cách tích cực chỉ có những người có nhu cầu về KCB quan tâm và tham giaBHYT TN Mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác về BHYT tự nguyện tại các địaphương chưa thật ổn định, trình đọ chuyên môn còn nhiều hạn chế
Bên cạnh những thuận lợi trong việc triển khai BHYT TN đối với HSSV thì cònnhững khó khăn mà BHXH Việt Nam đang gặp phải như sau:
-Phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của bảo hiểm thương mại trong triển khaiBHYT cho HSSV
-Kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn, ở nước ta hiện nay dân số sống ởnông thôn vẫn chiếm chủ yếu, lứa tuổi học sinh còn tập trung nhiều ở nông thôn dohậu quả sinh đông con từ thế hệ trước để lại Thêm vào đó kinh tế ở nông thôn cònnhiều khó khăn nên việc tham gia BHYT TN cho con em mình là điều rất khó
-Khâu tiếp đón HSSV đến KCB tại các cơ sở y tế với tinh thần thái độ của nhânviên y tế chưa tốt, thủ tục để hưởng chế độ BHYT nhiều khi còn phức tạp, phiền hà…
Do đó những bậc làm cha làm mẹ sẽ khó đồng ý cho con cái mình tham gia vì đây là
Trang 9loại hình BHYT tự nguyện không ép buộc ai.
Trong thực hiện BHYT TN cho nhân dân cũng vướng phải những khó khăn:
- Đối tượng rất phong phú BHYT TN nhân dân rất khó khăn trong việc đưa ramột hoặc những mô hình thu hút được nhiều người quan tâm tham gia cũng như thôngsuốt trong quá trình thực hiện
-Công tác thông tin tuyên truyền vận động đến người dân còn hạn chế: Chưatranh thủ được sự ủng hộ đúng mức của các cấp đảng ủy chính quyền địa phươngđoàn thể, tổ chức xã hội đối với với việc thực hiện BHYT trong nhân dân, chưa tácđộng được đến sự chuyển biến về dân trí cũng như thói quen của người dân đối vớiviệc tham gia BHYT TN
-Đại đa số người dân lao động nước ta là thu nhập thấp, tính chất công việc vàđời sống lại gặp nhiều khó khăn nên đã hình thành thói quen tiết kiệm coi trọng lợi íchtrước mắt, khi gặp ốm đau phần lớn mọi người đều tìm cách chữa trị tại nhà khi bệnhtình trở thành nặng rồi mới đến bệnh viện…
2.3 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN.
2.3.1 Quản lí đối tượng tham gia BHYT tự nguyện.
Ngoài BHYT bắt buộc, việc mở rộng khai thác phát hành thẻ cho khu vựcBHYT TN đã được quan tâm thực hiện, tạo tiền đề cho việc tiến tới BHYT toàndân Trong đó các đối tượng được ưu tiên phát triển tham gia BHYT TN bao gồm:Học sinh, sinh viên, thân nhân người lao động hay của hội viên hội đoàn thể, hộ giađình
BHYT TN là một loại hình bảo hiểm do vậy một nguyên tắc không thể thiếu là
“Số đông bù số ít” chính vì vậy mà việc mở rộng đối tượng tham gia của BHYTN
ở nước ta gây ra những khó khăn nhất định cho quá trình triển khai, mở rộngBHYT TN ở nước ta hiện nay
Trong thực tế đang xảy ra “sự lựa chọn ngược” từ cộng đồng người tham gia tứcchỉ khi ốm đau mới phát sinh nhu cầu mua thẻ BHYT Tức là đông đảo người thamgia đóng góp vào một quỹ chung để chi trả cho số ít những người không may gặprủi ro mà BHYT là ốm đau bệnh tật Bất kì một loại hình bảo hiểm nào đi chăngnữa nếu không đảm bảo được nguyên tắc này thì sẽ không thể hoạt động, không thểphát huy tác dụng, cho dù quỹ BHYT TN được ngân sách nhà nước bảo trợ, nhưngngân sách nhà nước không phải là vô hạn
Từ thực tế triển khai BHYT TN, thì số lượt KCB của người tham gia BHYT TN,thì số lượt KCB của người tham gia BHYT TN nhân dân cao vượt trội hơn so vớicác nhóm đối tượng khác, nhiều người vừa mua thẻ BHYT đã sử dụng ngay để điKCB, các trường hợp bệnh nặng có chí phí KCB khá lớn là phổ biến… Như vậy, ở
Trang 10đây có vấn đề của công tác khai thác, thu, phát hành thẻ BHYT tự nguyện nhândân.
Nhìn trên tổng thể, số người tham gia BHYT TN nhân dân hiện nay vẫn tối thiểu(chiếm 7,5%) so với “thị trường tiềm năng” (trên 40 triệu người) thuộc diện vậnđộng tham gia BHYT Trong tình huống này điều không tránh khỏi là những người
đã có bệnh, những người cao tuổi, những người có nhu cầu khám chữa bệnh sẽquan tâm và mong muốn được tham gia BHYT TN
Hơn nữa việc kê khai không đúng và những hạn chế trong kiểm tra danh sáchngười tham gia BHYT TN Nhóm hội viên đoàn thể và thân nhân người lao độngtham gia BHYT tự nguyện khá đông ở các địa phương, mặc dù đã có những quyđịnh về điều kiện thực hiện, song phải nói là nhiều tổ chức hội, đoàn thể, cơ quanđơn vị và người lao động đã kê khai danh sách mua thẻ BHYT không đúng thiếutrung thực Tình trạng phổ biến là hợp thức hóa các thủ tục nhằm đáp ứng các điềukiện quy định, đưa người đã có bệnh ngoài phạm vi hướng dẫn vào danh sách muaBHYT và vấn đề ở đây là các cơ quan, đơn vị và tổ chức lập
Trong triển khai BHYT TN nhân dân đã buông lỏng công tác thẩm định và kiểmtra danh sách người tham gia BHYT TN, từ đó cũng tạo điều kiện cho một sốngười dân chỉ khi ốm đau mới tìm mua thẻ BHYT Việc thực hiện BHYT TN chomột nhóm dân cư đang cần KCB hoặc đang điều trị tại bệnh viện, điển hình ở một
số thành phố lớn, cơ quan BHXH đã phải thực hiện BHYT TN cho hàng chụcnghìn người, những người này đang là bệnh nhân hoặc ở một số địa phương khác,lại yêu cầu thực hiện BHYT TN cho các em bị sơ hóa cơ đen-ta…Như vậy khó cóthể cân đối được thu chi quỹ BHYT TN, đặt quỹ BHYT trở thành quỹ “đa chứcnăng”, không đơn thuần chi trả khi người tham gia BHYT không may gặp rủi ro
ốm đau bệnh tật nữa
Một điểm nữa đó là điều kiện triển khai BHYT TN theo hộ gia đình và nhân thânngười lao động còn sơ hở: Đối với hộ gia đình, yêu cầu phải 100% thành viên thamgia BHYT TN và phải có ít nhất 10% số hộ gia đình trong xã phường đăng ký thamgia đạt hoặc vượt tỉ lệ quy định (trên 10%), nhưng khi thu tiền lại chỉ có một số hộgia đình nộp tiền, tính theo tỉ lệ chỉ đạt vài % số hộ Tuy nhiên theo quy định thì cơquan BHXH vẫn phải thu tiền, phát hành thẻ BHYT cho các hộ gia đình Hoặc thựchiện BHYT TN cho nhân thân người lao động, điều kiện duy nhất là 100% thânnhân của người lao động tham gia, như vậy trong một đơn vị, nếu chỉ một ngườilao động mua thẻ cho nhân dân của mình thì vẫn không hợp lệ
Để hoàn thành được mục tiêu là tiến tới thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2010thì công tác mở rộng đối tượng tham gia BHYT TN trong giai đoạn này có vai trò
Trang 11rất quan trọng nhưng trong giai đoạn hiện nay thì nguyên tắc cộng đồng trong môhình BHYT TN là chưa đạt được.
Bảng 1: Số học sinh – sinh viên tham gia BHYT giai đoạn 1998-2009
Năm học Số HSSV tham gia(người) Chênh lệch( Người) Tốc độ tăng(%)
Nguồn: Ban thực hiện chính sách BHYT-BHXH Việt Nam.
Như vậy, tính đến hết năm 2009 cả nước hiện có 8,5 triệu học sinh sinh viên
tham gia BHYT tự nguyện, so với năm 1998 có 3.396.400 người tức tăng5.103.600 người tương đương với tăng 150,26 %.Nguyên nhân làm tăng đối tượngHSSV tham gia BHYT TN là việc triển khai công tác tuyên truyền đã khá thànhcông, cúng như việc triển khai đồng bộ và khoa học của loại hình BH này
Bảng 2: Số đối tượng tham gia BHYT TN nhân dân.
Năm
Số người tham giaBHYT TN nhân dân
Chênh lệch( Người)
Tốc độ tăng( %)
Nguồn: Ban thực hiện chính sách BHYT-BHXH Việt Nam.
Theo bảng trên ta thấy giai đoạn 2003-2006, số người tham gia BHYT TN nhân dân năm sau gấp nhiều lần năm trước song có xu hướng giảm.Đến năm 2009 thì số
Trang 12người tham gia BHYT TN nhân dân là 2,5 triệu người như vậy là giảm so với năm
2006 Như vậy việc triển khai BHYT TN nhân dân là chưa thành công vì do tâm lý
và người dân chưa có điều kiện để tham gia BHYT
2.3.2 Quản lí thu quỹ BHYT TN.
Cơ quan thực hiện việc thu phí BHYT TN là hệ thống bảo hiểm xã hội tại cáccấp Hệ thống tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương Cơ quan BHYTtại cấp xã, phường, thị trấn thực hiện thu phí sau đó kết chuyển lên BHYT cấp tỉnh,sau đó BHYT cấp tỉnh nộp về BHXH Việt Nam Công tác thu phí BHYT TN là rấtphức tạp Nếu thực hiện không tốt thì rất có thể xảy ra trường hợp gian lận do các đốitượng tham gia và cũng có thể do chính cán bộ làm công tác thu phí BHYT
Trong khi nguời tham gia BHYT TN được hưởng quyền như người tham giaBHYT bắt buộc, thì mức đóng của người tham gia BHYT TN chỉ bằng 20-30% so vớimức đóng của người tham gia BHYT bắt buộc Mặt khác để khắc phục được tìnhtrạng thâm hụt quỹ trong khi chờ đợi tiến tới BHYT toàn dân, để tăng quy mô quỹ vàtiếp tục thu hút đối tượng tham gia thì việc tăng như thế nào mức đóng BHYT TNđang là một vấn đề rất khó giải quyết
Quyền lợi của người tham BHYT nói chung, BHYT TN nói riêng được mở rộngnhiều so với các quy định trước đây, vì vậy chi phí KCB mà cơ quan BHXH thanhtoán với khu vực cung cấp dịch vụ cũng tăng cao mà không tương xứng với mức đónggóp vào quỹ Với việc bổ sung danh mục kĩ thuật cao, danh mục thuốc, danh mục cácbệnh phục hồi chức năng, việc thanh toán các vật tư y tế tiêu hao, thanh toán chi phícho người có thẻ BHYT KCB tại nước ngoài hay tại các cơ sở KCB tư nhân không cóhợp đồng với cơ quan BHXH, chi phí sàng lọc xét nghiệm HIV và việc người bệnhkhông phải thực hiện chế độ cùng chi trả Trước tình hình quyền lợi của người thamgia BHYT được mở rộng, mặc dù cơ quan BHXH đã điều chỉnh mức đóng BHYT TNnhân dân đến giới hạn tối đa của khung mức đóng do liên bộ quy định, song vẫn chưathể bù đắp được sự thiếu hụt của quỹ BHYT TN
Bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 mức đóng hàng tháng đối với đối tượngtham gia BHYT TN bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối tượng đóng Căn cứmức đóng bảo hiểm y tế, người tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế đóng sáu tháng mộtlần hoặc đóng một lần cho cả năm vào quỹ BHYT