Trong cơ chế thị trường hệ thống Ngân hàng được chia làm 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đảm bảo chức năng quản lý vĩ mô và các Ngân hàng Thương mại (NHTM) thực hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, Tín dụng.NHTM hoạt động kinh doanh độc lập trên cơ sở hạch toán lỗ lãi. “Lời ăn lỗ chịu”, nguồn vốn kinh doanh của NHTM không phải do Nhà nước cấp mà phải tự huy động vốn từ các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, tiến hành các hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận bù đắp chi phí đầu vào, với nguyên tắc phù hợp với các chế độ chính sách kinh tế xã hội hiện hành của Nhà nước.Hoạt động Tín dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất,mang lại lợi nhuận cao nhất cho NHTM.Nó được thực hiện trên cơ sở tính toán các khối lượng nguồn vốn mà các Ngân hàng huy động có thể sử dụng cho vay và nhu cầu về vốn tín dụng trong xã hội.Các khoản tín dụng NHTM cấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh tế là thu hồi được vốn và lãi đúng thời hạn. Cũng như các doanh nghiệp khác trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu sự chi phối của các quy luật khách quan và chủ quan, trong đó có quy luật cạnh tranh. Chúng ta biết rằng không một loại hình kinh doanh nào mà lại gắn nhiều rủi ro như hoạt động Ngân hàng: Như rủi ro Tín dụng, Thanh toán, lãi suất, hối đoái…Trong đó rủi ro Tín dụng là rủi ro mà hậu quả do nó gây ra có thể tác động nặng nề đến hoạt động kinh doanh khác,thậm chí đe dọa sự tồn tại của NHTM.
Trang 1Đề án giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng các ngân hàng thuơng mại ở việt nam
Phần mở đầu1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong cơ chế thị trường hệ
thống Ngân hàng được chia làm 2 cấp: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đảm bảo chứcnăng quản lý vĩ mô và các Ngân hàng Thương mại (NHTM) thực hiện kinh doanh trênlĩnh vực tiền tệ, Tín dụng.NHTM hoạt động kinh doanh độc lập trên cơ sở hạch toán lỗlãi
“Lời ăn lỗ chịu”, nguồn vốn kinh doanh của NHTM không phải do Nhà nước cấp màphải tự huy động vốn từ các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, tiến hành các hoạtđộng kinh doanh mang lại lợi nhuận bù đắp chi phí đầu vào, với nguyên tắc phù hợp vớicác chế độ chính sách kinh tế - xã hội hiện hành của Nhà nước.Hoạt động Tín dụng làhoạt động kinh doanh quan trọng nhất,mang lại lợi nhuận cao nhất cho NHTM.Nó đượcthực hiện trên cơ sở tính toán các khối lượng nguồn vốn mà các Ngân hàng huy động cóthể sử dụng cho vay và nhu cầu về vốn tín dụng trong xã hội.Các khoản tín dụng NHTMcấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh tế là thu hồi được vốn và lãi đúng thời hạn.Cũng như các doanh nghiệp khác trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh của cácNHTM chịu sự chi phối của các quy luật khách quan và chủ quan, trong đó có quy luậtcạnh tranh Chúng ta biết rằng không một loại hình kinh doanh nào mà lại gắn nhiều rủi
ro như hoạt động Ngân hàng: Như rủi ro Tín dụng, Thanh toán, lãi suất, hối đoái…Trong
đó rủi ro Tín dụng là rủi ro mà hậu quả do nó gây ra có thể tác động nặng nề đến hoạtđộng kinh doanh khác,thậm chí đe dọa sự tồn tại của NHTM
Rủi ro trong hoạt động Tín dụng NHTM xảy ra khi xuất hiện các biến cố làm chokhách hàng, không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Ngân hàng vào thờiđiểm đáo hạn Các khoản nợ đến hạn nhưng khách hàng không có khả năng trả ngay choNgân hàng sẽ thuộc về một trong hai trường hợp: khách hàng sẽ trả nợ cho Ngân hàngsau thời gian kể từ thời điểm đáo hạn như vậy Ngân hàng sẽ gắn rủi ro đọng vốn, hoặckhách hàng hoàn toàn không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng trường hợp này Ngânhàng gặp rủi ro mất vốn
Trang 2Từ những phân tích trên ta nhận thấy rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng là điềukhông thể tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro Tín dụng Vì muốn giảm rủi ro trong hoạtđộng Tín dụng trước hết ta cần có các phòng ngừa, hạn chế khả năng xuất hiện nợ quáhạn.
Xuất phát từ những lý do trên cùng với sự cần thiết phải tìm hiểu của sinh viên nghànhTCNH em đã chọn đề tài “ Các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng ở cácngân hàng” Em hi vọng sẽ học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm quý báu từ thầy cô vàbạn bè,đồng thời làm sáng tỏ phần lý luận được bổ xung ở Nhà trường
Trang 3PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN
DỤNG1.1 : Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm,chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liềnvới sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại( NHTM ) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tếhàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nềnkinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những địnhchế tài chính không thể thiếu được.Trên thế giới, khái niệm về NHTM ở các quốc giakhông hoàn toàn như nhau Tuy nhiên nhìn chung các định nghĩa về NHTM đều đượcphát biểu dựa trên tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động của nó Chẳng hạn:
Ở Mỹ : Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch
vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại
là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của côngchúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đócho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại : Ngân hàng thương mại là tổchức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từkhách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính
mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiềngửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiềudịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.Về cơ bảnNHTM có tính chất hoạt động tương tự nhưng nhiều loại hình tài chính khác với tư cách
là những trung gian tài chính( những tổ chức thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ
Trang 4người thừa sang người thiếu) Điểm phân biệt quan trọng giữa NHTM với các loại hìnhtrung gian tài chính phi ngân hàng hoặc các ngân hàng đầu tư là ở chỗ NHTM là trunggian tài chính được Nhà Nước cho phép chuyên cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nềnkinh tế như: nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụthanh toán và một số hoạt động ngân hàng khác có liên quan.
* Chức năng của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, các NHTM đảm nhận một số chức năng sau :
- chức năng trung gian tín dụng :là chức năng chủ yếu và quan trọng của ngân hàng.
Ngân hàng đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, nó tạo cho người gửi
có được khoản thu nhập thông qua lãi suất với mức độ an toàn và mức độ thanh khoảncao Với số vốn huy động được ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng đángtin cậy Các ngân hàng luôn tìm kiếm cơ hội để cho vay, coi đó là nhu cầu chủ yếu trongviệc duy trì và mở rộng chức năng hoạt động của mình Qua chức năng này các NHTM
đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốnđầu tư được mở rộng tài trợ cho các ngành, các thành phần kinh tế của đất nước làm ăn
có hiệu quả, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ Đối với doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì vốnvay tạo cho họ có khả năng để đầu tư công nghệ, mua sắm vật tư, máy móc, thuê nhâncông… từ đó nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận
+ Đối với hộ sản xuất : Nhờ được vay vốn mà họ có thể có đủ máy móc công cụ,nguyên nghiên vật liệu, hạt giống, phân bón, chuồng trại, thức ăn chăn nuôi, các nhu cầucần thiết khác cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả, khai thác tiềm năng kinh tế, kiếmđược nhiều lợi nhuận
+ Các cửa hàng bán buôn, bán lẻ : Nhờ có vốn vay từ ngân hàng sẽ góp phần thúcđẩy nhanh việc lưu thông hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng.+ Thông qua việc cấp tín dụng, các NHTM góp phần thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thực hiện điều chỉnh nền kinh tế, điều hòa lưu thông tiền
tệ như cho vay tiêu dùng để kích cầu cho nền kinh tế đó là việc cho vay mua sắm nhàcửa, xe cộ,………
Trang 5- Chức năng trung gian thanh toán: Là một chức năng quan trọng để ngân hàng
thực hiện một số hoạt động Ở các nước đang phát triển, công tác thanh toán của ngânhàng được thực hiện thông qua séc, phần lớn séc thanh toán trong nước được thực hiệnbằng thanh toán bù trừ thông qua NHTM Việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiềngửi và ký thác trong cùng một ngân hàng đơn thuần chỉ là sự chuyển đổi vốn từ tài khoảnnày sang một tài khoản khác tại ngân hàng đó Đương nhiên quá trình này sẽ trở lên phứctạp tốn thời gian, tăng chi phí giao dịch khi việc thanh toán bù trừ lại diễn ra giữa cácngân hàng thuộc các địa bàn khác nhau, khác hệ thống lại trở lên dễ dàng và phổ biến.Hiện nay, các NHTM thế giới và cả ở Việt Nam đã hiện đại hóa các công nghệ ngân hàngnhư các chương trình phần mềm máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật hiện đại khácnhư thanh toán chuyển tiền qua máy tính, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, máy giao dịch
tự động có khả năng rút và gửi tiền ATM, thẻ thanh toán…Thẻ tín dụng ATM giúp người
ta có thể rút tiền từ một tài khoản nhất định thực hiện ký thác, thanh toán công nợ Việc
sử dụng những công nghệ ngân hàng như thế sẽ khiến các giao dịch nhanh hơn, chính xáchơn và an toàn hơn
- Chức năng tạo tiền: Người ta cho rằng: “ Một trong những chức năng chủ yếucủa các NHTM là tạo và hủy tiền “ Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM khôngthể không quan tâm nó như một yêu cầu cho chính ngay sự tồn tại và phát triển của mình
là tạo tiền Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng, đầu tư trongmối liên hệ chặt chẽ với Ngân hàng trung ương của mỗi nước Chức năng tạo tiền đượcthực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năngthanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huyđộng được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa,thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán củakhách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để muahàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổngphương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.Ngoài ra các NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu củachính sách tiền tệ Việc cung ứng tiền tệ phải vừa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
Trang 6thông qua hoạt động tín dụng của NHTM Ngân hàng trung ương có thể sử dụng cáccông cụ để điều tiết lượng tiền tăng hoặc giảm trong lưu thông cho phu hợp với chínhsách tiền tệ quốc gia.
* Vai trò của các Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của các NHTM là vô cùng to lớn, nó tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả hơn
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế thịtrường: tại sao lại nói như vậy? chúng ta hãy hình dung một thế giới giản đơn trong đókhông tồn tại hoạt động của hệ thống ngân hàng thì những khoản tiền tiết kiệm của dânchúng chỉ có thể được sử dụng hoặc là dưới dạng tiền mặt hoặc là dưới dạng đầu tưchứng khoán công ty, vàng hay bất động sản…tuy nhiên do giám sát các hoạt động củacác công ty là rất cao và rủi ro do biến động giá cả chứng khoán trên thị trường chứngkhoán luôn làm nản lòng những người muốn đầu tư, quy mô số lượng và chất lượng cácdòng tiền từ những người tiết kiệm chuyển đến các công ty nhìn chung là thấp hoặc đó lànhững giao dịch mang tính nhỏ lẻ Do những nguyên nhân trên khiến cho dân chúng: một
là giảm tiết kiệm tăng tiêu dùng, hai là tiết kiệm đưa vào dự trữ dạng tiền mặt “ nằm chăntrong gối “ Hiện nay trong nền kinh tế thị trường NHTM đứng ra huy động các nguồnvốn nhàn rỗi, tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, thông qua hoạt động tín dụng NHTM đãcung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quátrình sản xuất và tái sản xuất
Nhờ có hoạt động tín dụng của NHTM mà các doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân
có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động, lợinhuận thu được ngày càng cao từ đó tăng nhanh quá trình tích lũy, tiết kiệm,sự phát triểncủa nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tácđộng mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cạnhtranh, quy luật cung cầu… hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở đáp ứng, thỏa mãnnhu cầu thị trường trên các phương tiện như giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại
Trang 7hàng hóa, thời gian, địa điểm Hoạt động của các doanh nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tếnhất định theo quy định chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnhtranh Để đáp ứng tốt các nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp cần nâng cao chất lượnglao động, không ngừng cải tiến máy móc, công nghệ, hoàn thiện cơ chế quản lý… Nhữnghoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự cócủa doanh nghiệp Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xinvay vốn thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng làcầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cấp chodoanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quátrình sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, đứng vững
Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế :
Các NHTM là đối tượng và đồng thời là trung gian thực hiện chính sách tiền tệ,chính sách kinh tế quốc gia Thông qua hệ thống của mình, bằng hoạt động tín dụng vàthanh toán dưới sự tác động của ngân hàng trung ương, các NHTM đã góp phần mở rộnghoặc thu hẹp khối lượng tiền tệ cung ứng trong lưu thông, để ổn định giá trị đồng tiền.Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồngtiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, thu hút vốn nước ngoài để tăng tốc độ tăngtrưởng của nền kinh tế đồng thời trên cơ sở mở rộng sản xuất phát triển ngành nghề, tạo
ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu và chính sách
xã hội của nhà nước
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa là tấtyếu, nó ngày càng trở lên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gialuôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sựphát triển đó NHTM cùng với hoạt động kinh doanh của mình, đóng vai trò quan trọngtrong sự hòa nhập kinh tế khu vực và thế giới Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhậntiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán quốc tế, tài trợ ngoại thương, bảo lãnh…NHTM
Trang 8tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương phát triển, đưa các tập quán, luật pháp, trình độ kinhdoanh…xích lại gần nhau từ đó điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vậnđộng của nền tài chính quốc tế.
Tóm lại, NHTM có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt làtrong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh, xu thế toàn cầu hóa hội nhập ngày càngmạnh mẽ Những rủi ro sẽ dẫn đến đổ vỡ NHTM mang tính hệ thống, lây lan dây chuyền
có ảnh hưởng sâu rộng và nghiêm trọng tới niềm tin, đời sống kinh tế - chính trị - xã hộikhông những của một quốc gia mà còn cả khu vực và trên thế giới Do đó một trongnhững mục tiêu quản trị cơ bản, có tính chất thường xuyên và lâu dài của bất kì mộtNHTM nào cũng phải hạn chế đến mức tối đa rủi ro trong hoạt động kinh doanh củamình nhất là hoạt động tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.1.2 Tín dụng và vai trò của Tín dụng ngân hàng trong hoạt động kinh doanh của NHTM1.1.2.1 khái niệm, phân loại tín dụng : Thuật ngữ “ tín dụng ” xuất phát từ
gốc la tinh “creditum” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau hay nói cách khác là
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sửdụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trịban đầu
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau dựatrên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi Nhìn chung, mối quan hệ tín dụng luôn bao gồm haimặt cơ bản đó là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả, sự hoàn trả là đặc trưng thuộc vềbản chất vận động của tín dụng, là điểm khác biệt để phân biệt sự khác nhau với cácphạm trù kinh tế khác, ngoài ra tín dụng còn có đặc trưng cơ bản đó là lòng tín và tínhthời gian
Tùy theo góc độ quan sát, tùy theo tiêu thức và mục đích, người ta có thể nhìnnhận, phân chia tín dụng thành các loại khác nhau, chẳng hạn :
* Căn cứ vào tính chất chung nhất của quan hệ tín dụng giữa các nhóm chủ thểtrong nền kinh tế thì tín dụng được chia làm 2 loại :
Trang 9- Tín dụng thương mại : là loại tín dụng hình thành trực tiếp giữa những ngườimua, bán hàng hóa.
- Tín dụng ngân hàng : là loại tín dụng hình thành trong quan hệ vay mượn giữacác ngân hàng và các chủ thể khác
Theo nghĩa này thì tín dụng ngân hàng bao hàm cả việc vay mượn của ngân hàng
và việc các ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế
Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng khi đề cập đến hoạtđộng tín dụng với nghĩa là một trong những chức năng cơ bản của các ngân hàng thì tíndụng thường được hiểu là hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng cho nền kinh tế từcác nguồn vốn khác nhau mà nghiệp vụ tín dụng huy động được, là việc tổ chức tín dụngthỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả Hoạt độngnày được thực hiện dưới các hình thức cụ thể như : Cho vay bằng tiền, chiết khấu cácgiấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng… Rủi ro tín dụng mà đề tài nghiêncứu chính là rủi ro trong mảng tín dụng với nghĩa này
*Căn cứ theo thời gian tín dụng thì tín dụng được chia ra làm 3 loại :
- Tín dụng ngắn hạn : Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm thường được sửdụng để cho vay bổ xung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và chovay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của các cá nhân
- Tín dụng trung hạn : Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín dụngnày dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹthuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng trung dài hạn : Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng này được
sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy môlớn, có thời gian thu hồi vốn dài
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng thì tín dụng được chia làm 2 loại :
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa : Là loại tín dụng cáp cho các chủ thể kinh tế
để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Tín dụng tiêu dùng : Là hình thức tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhucầu tiêu dùng : mua sắm nhà cửa, xe, các hàng hóa tiêu dùng khác Ngày nay, tín dụng
Trang 10tiêu dùng là một trong những xu hướng phát triển và trở thành một thị trường tín dụngrộng lớn.
* Căn cứ vào sự đảm bảo tín dụng, tín dụng được chia làm 2 loại :
- Tín dụng không có đảm bảo ( tín chấp ) : Là loại tín dụng không có tài sản thếchấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ 3, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín củabản thân khách hàng
- Tín dụng có đảm bảo : Là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay vốnphải có tài sản, cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ 3
* Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng, tín dụng gồm 2 loại :
- Tín dụng bằng tiền : Là loại tín dụng mà hình thánh giá trị tín dụng được cấpbằng tiền
- Tín dụng bằng tài sản : Là loại tín dụng mà hình thái giá trị tín dụng được cấpbằng tài sản
* Căn cứ vào phương pháp cho vay : gồm 2 loại
- Tín dụng trực tiếp : Là loại tín dụng mà người vay trực tiếp nhận tiền vay và trựctiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Tín dụng gián tiếp : Là loại tín dụng mà quan hệ tín dụng có thông qua ( liênquan ) đến người thứ 3
* Căn cứ vào phương pháp hoàn trả có 2 loại :
- Tín dụng trả góp : Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãitheo định kỳ
- Tín dụng hoàn trả 1 lần : Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ hạn đãthỏa thuận giữa khác hàng và ngân hàng
1.1.2.2 Vai trò của Tín dụng Ngân Hàng
Hoạt động tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện trên nhữngđiểm cơ bản sau :
- Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả :
+ Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời gópphần đầu tư phát triển kinh tế Do đặc điểm của tuần hoàn vốn, nên trong quá trình sản
Trang 11xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự biến động về vốn, thời gian… do đóluân chuyển tiền tệ của các doanh nghiệp có lúc thừa lúc thiếu Nguồn vốn doanh nghiệptạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách…được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đangtạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng,cũng như cho yêu cầu chi của ngân sách nhà nước trong lúc cần thiết… Như vậy tíndụng ngân hàng đã góp phần điều hòa vốn một cách có hiệu quả trên phạm vi toàn bộ nềnkinh tế.
+ Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: thôngqua việc tập trung và ưu tiên vốn cho các ngành kinh tế mũi nhọn, kinh tế trọng điểm, lànhững nơi có nhu cầu vốn cực lớn, từ đó tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao sứcmạnh, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tếtrong và ngoài nước…
+ Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyểntiền tệ thông qua việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện được các cơ hội đầu
tư sản xuất kinh doanh của mình Thông thường các doanh nghiệp chỉ sử dụng đến vốnngân hàng sau khi đã huy động mọi nguồn lực của bản thân, điều đó cũng có nghĩa là nếukhông có tín dụng ngân hàng thì doanh nghiệp khó có khả năng thực hiện cơ hội đầu tưkinh doanh của mình Nhất là trong cơ chế thị trường, mất cơ hội là hết sức nguy hiểm.Ngoài ra tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh trong cạnh tranh,vươn lên tồn tại và phát triển trên thương trường.+ Tín dụng ngân hàng là công cụ thúcđẩy chế độ hạch toán kinh doanh, tăng cường quản lý tài chính, tăng tích lũy đối vớidoanh nghiệp Về phía người vay vốn luôn cân nhắc giữa hiệu quả vốn vay mang lại vớithời hạn, lãi suất của vốn vay và họ chỉ vay khi tính toán có lãi, đó chính là bản chất củahạch toán kinh tế.- Tín dụng ngân hàng là công cụ của nhà nước điều tiết khối lượng tiền
tệ lưu thông trong nền kinh tế:Như chúng ta đã biết, khi ngân hàng thương mại thực hiệnhành vi cấp tín dụng cho nền kinh tế, cùng với khả năng “ tạo tiền ” các “ bút tệ ” sẽ đượcnhân rộng, tức là đã tạo ra một khả năng cung ứng tiền tệ Và hiệu ứng ngược lại sẽ sảy
ra, khi các ngân hàng thương mại thu hẹp Chính từ khả năng này tín dụng ngân hàng đã
Trang 12được nhà Nước sử dụng như là một công cụ để điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông quacác chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà Nước như : Dự trữ bắt buộc, Hạn mức tín dụng,Lãi suất chiết khấu, Nghiệp vụ thị trường mở….
- Tín dụng ngân hàng thỏa mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinhtế:
Tín dụng NHTM là công cụ giúp nhà nước thực hiện tốt chính sách tiền tệ, đồng thờicũng giúp chính NHTM có một môi trường kinh doanh tốt Với sức mua đồng tiền ổnđịnh sẽ tạo tâm lý an tâm trong dân chúng, từ đó huy động được tối đa các nguồn vốntiềm tàng trong xã hội, thỏa mãn cao nhất nhu cầu vốn mở rộng đầu tư của nền kinh tế.Mặt khác, với hoạt động tín dụng NHTM trở thành trung gian tài chính đặc biệt có khảnăng giảm thiểu các chi phí và rủi ro do đó đã thỏa mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộngđầu tư của nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho NHTM: trongkinh doanh tiền tệ của NHTM, tín dụng luôn là khoản mục lớn nhất, thường chiếm trên70% tài sản có sinh lời của một ngân hàng Nghiệp vụ tín dụng ngày càng được đa dạnghóa càng làm tăng vai trò của tín dụng trong tổng thể kinh doanh của NHTM và do đó,thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm phần lớn lợi nhuận, quyết định hiệu quả của hoạtđộng kinh doanh ngân hàng
Tóm lại : Hoạt động tín dụng với chức năng và vai trò của mình không những trởthành hoạt động quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của một NHTM, màcòn có vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của cả lĩnh vực kinh tế - xãhội
1.2 Rủi ro tín dụng và sự cần thiết hạn chế rủi ro tin dụng ở các ngân hàng thương mại
1.2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro
Rủi ro có thể được hiểu là mối đe dọa bị tổn thất một phần nguồn vốn của ngânhàng hoặc không đạt được thu nhập hay đòi hỏi các khoản chi phí bổ xung để thực hiệncác nghiệp vụ nhất định
Trang 13Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nóiriêng không thể tránh khỏi rủi ro, quá trình mở rộng kinh doanh ngân hàng nói riêngthường đi liền với việc mở rộng phạm vi rủi ro Hoạt động ngân hàng có rất nhiều nghiệp
vụ, mỗi nghiệp vụ gắn với những rủi ro khác nhau qua đó đòi hỏi phải sử dụng các biệnpháp tự bảo vệ và các biện pháp khác để giảm thiểu các rủi ro thiệt hại, mất mát có thểsảy ra
1.2.2 Hậu quả, nguyên nhân rủi ro tín dụng và sự cần thiết ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Hậu quả của rủi ro tín dụng
Như đã nêu ở trên, chúng ta quan niệm : Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinhtrong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, là nguy cơ mức độ mất mát, thiệt hại tàichính mà ngân hàng phải gánh chịu do vô số những nguyên nhân khác nhau về cả phíangân hàng, khách hàng và các yếu tố khác thuộc về môi trường hoạt động kinh doanh.Khái niệm rủi ro tín dụng nêu trên trước hết đề cập tới khía cạnh hậu quả của rủi ro, trong
đó nhấn mạnh sự thiệt hại mất mát về tài chính của bản thân mỗi ngân hàng khi cấp tíndụng cho khách hàng của họ Tuy vậy thực tế thì những hậu quả của nó còn có tác độngrộng hơn, có thể xem xét dưới các góc độ chủ yếu sau:
* Đối với ngân hàng thương mại :
Chúng ta đều biết các NHTM có vốn tự có thường chỉ chiếm từ 9%( theo luật tổchức tín dụng ) trên tổng nguồn vốn hoạt động, nguồn vốn kinh doanh chủ yếu là vốn huyđộng nên khi rủi ro sảy ra sẽ dẫn tới tình trạng mất khả năng thanh toán chi trả dẫn tớikhách hàng bị giảm lòng tin vào ngân hàng Họ hạn chế quan hệ với ngân hàng, làm chongân hàng mất đi cơ hội khả năng tích lũy vốn, giảm sức cạnh tranh của ngân hàng Khi
họ gây ra phản ứng dây truyền một loạt khách hàng tới rút tiền hàng loạt làm cho ngânhàng mất khả năng thanh toán, suy yếu nhanh và có thể dẫn tới phá sản hàng loạt cácngân hàng
* Đối với khách hàng
Khi ngân hàng gặp rủi ro thì người gửi tiền sẽ bị mất vốn dẫn tới gặp khó khăntrong kinh doanh Nguồn đi vay, nguồn tài trợ từ các ngân hàng hoàn toàn bị mất, cơ hội
Trang 14kinh doanh bị tuột mất, tài sản bị tịch thu hoặc phát mại, khi người vay đứng trước nguy
cơ phá sản
* Đối với nền kinh tế :
Hoạt động kinh doanh ngân hàng có liên quan chặt chẽ trực tiếp tới toàn bộ nềnkinh tế quốc dân, các doanh nghiệp, tổ chức dân cư Khi NHTM bị sụp đổ, tác hại của nóảnh hưởng xấu tới hầu hết các ngành kinh tế khác, phản ứng dây truyền của nó có thể làm
tê liệt một số ngành và doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, lưu thông hàng hóa sẽ bị đình trệ,chức năng là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế bị suy yếu, quyền lợi của khách hàng( người gửi ) không được bảo vệ, ảnh hưởng xấu tới tiết kiệm đầu tư của nền kinh tế Dẫntới kinh tế rối loạn người lao động mất việc làm, khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài, khókhắc phục được trong 1 thời gian ngắn
1.2.2.2 Sự cần thiết phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:
Như đã nêu ở trên, rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm tàng phát sinh trong quátrình cấp tín dụng của ngân hàng Tính khách quan của việc phòng ngừa và hạn chế rủi rotín dụng xuất phát chính từ tầm quan trọng của hoạt động cấp tín dụng, tầm quan trọngcủa danh mục tín dụng, bản chất rủi ro tín dụng và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng tới hiệuquả kinh doanh, tới sự lành mạnh và an toàn của các ngân hàng Một khi rủi ro tín dụngxảy ra nó không chỉ ảnh hưởng tới mọi hoạt động của ngân hàng, đến kết quả kinh doanhcủa ngân hàng mà còn ảnh hưởng quan trọng tới tình hình hoạt động kinh doanh củakhách hàng ở mọi thanh phần kinh tế, cũng như ảnh hưởng tới hoạt động của nền kinh tếquốc dân Do vậy, NHTM cần phải có sự phòng ngừa và có những giải pháp hạn chế rủi
ro trong hoạt động tín dụng
1.3 Kết luận
Rủi ro tín dụng không những tác hại đối với ngân hàng mà còn nguy hại đối vớinền kinh tế, trật tự xã hội Phạm vi tác động của nó không chỉ giới hạn trong một quốcgia mà còn có thể lan rộng ảnh hưởng cả khu vực hay toàn cầu Do đó quan tâm hạn chếtới rủi ro tín dụng không còn là việc riêng của ngân hàng thương mại mà còn là sự quantâm chung của cả ngân hàng trung ương, chính phủ và toàn xã hội
Phần II : Các loại Rủi Ro Tín Dụng
Trang 152.1 Các loại rủi ro chủ yếu mà NHTM thường gặp
2.1.1 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là những thiệt hại về tài chính do sự biến động về lãi suất màNHTM phải gánh chịu Khi lãi suất biến động theo hướng bất lợi cho ngân hàng, tiền lãithu được từ người vay không đủ bù đắp lãi huy động vốn Rủi ro lãi suất có nguyên nhân
từ sự không cân xứng về kì hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Chẳng hạn, khi ngân hànghuy động các tài sản nợ có thời hạn ngắn mà đầu tư vào tài sản có có thời hạn dài thì khilãi suất thị trường biến động tăng lên NHTM bị thiệt hại và chịu rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất trong huy động vốn.
Đây là loại rủi ro khi NHTM huy động quá nhiều tiền gửi có kì hạn, có lãi suấtcao, nhưng sau đó lãi suất thị trường giảm ( do thay điều hành lãi suất cơ quan chủ quản,
do quan hệ cung – cầu thị trường….)
Rủi ro lãi suất cho vay
Đây là loại rủi ro có ảnh hưởng rất lớn và khá thường xuyên vì hoạt động kinhdoanh của các NHTM hiện nay chủ yếu dựa vào hoạt động cho vay với tỷ lệ thu lãi vẫnchiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của các NHTM Rủi ro lãi suất cho vay sảy ra khi lãisuất cho vay thị trường giảm, ngân hàng phải cho vay với lãi suất thị trường trong khi đãhuy động với lãi suất cao hơn Hơn nữa lãi suất cho vay lại thường xuyên biến động do
áp lực cạnh tranh giữa các NHTM, thậm chí ngay cả chi nhánh trong cùng một hệ thống
để thu hút khách hàng Các NHTM muốn giữ khách hàng truyền thống , đồng thời mởrộng quy mô kinh doanh, thu hút khách hàng mới vẫn thường sử dụng công cụ lãi suất.Rủi ro lãi suất trong hoạt động cho vay còn xảy ra khi Ngân hàng Nhà Nước thay đổi lãisuất cơ bản, lãi suất dự trữ bắt buộc để thực thi chính sách tiền tệ, gây ra hiệu ứng dẫnđến rủi ro lãi suất cho vay của các NHTM Khi lãi suất cơ bản tăng thì lãi suất cho vay vàhuy động cũng sẽ tăng nhưng chỉ áp dụng cho những khoản vay mới phát sinh, cònnhững dư nợ hiện hành của NHTM, nhất là các khoản vay trung dài hạn có lãi suất danhnghĩa ghi trên hợp đồng tín dụng đang ở mức thấp Nhất là các khoản cho vay trung vàdài hạn thì rủi ro lãi suất là điều khó tránh khỏi
Trang 16Rủi ro lãi suất thay đổi do cung – cầu thị trường tiền tệ liên ngân hàng, các khoảnvay trên thị trường này có thời hạn ngắn và rất ngắn ( qua đêm….) lãi suất trên thị trườngnày thường xuyên biến động Việc vay vốn chủ yếu đảm bảo khả năng thanh khoản, tìmkiếm chênh lệch lãi suất xong đòi hỏi phải có một sự nhận định phân tích chủ động khácao nếu không cũng rất dễ gặp rủi ro.
2.1.2 Rủi ro ngoại hối
Là thiệt hại gây ra cho NHTM do sự biến động tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ.Ngân hàng lâm vào tình trạng rủi ro ngoại hối trong khi thực hiện các nghiệp vụ ngoại tệkhác nhau như : Mua bán ngoại tệ hoặc cho vay bằng ngoại tệ
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đầy rủi ro và rủi ro hối đoái là một trong nhữngrủi ro đó Thực chất của rủi ro hối đóai là rủi ro tỷ giá Vậy vì sao Ngân hàng lại luôn đốimặt với rủi ro về tỷ giá? Và câu hỏi đặt ra là Rủi ro tỷ giá xảy ra khi nào? Như chúng ta
đã biết bất cứ một Ngân hàng nào họ cũng có kinh doanh trên đồng nội tệ và ngọai tệ ví
dụ như: mua, bán ngọai tệ, huy động bằng ngọai tệ, cấp tín dụng bằng ngọai tệ, đầu tư,mua các Giấy Tờ Có Giá bằng ngọai tệ, Dịch vụ thanh tóan bằng ngọai tệ, giao dịch hợpđồng tài chính Và một điều hiển nhiên với từng ấy , Ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro
tỷ giá
vậy rủi ro tỷ giá sảy ra khi nào? Việc xảy ra Rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngânhàng phụ thuộc vào: Tỷ giá ngọai tệ(có thể lên, có thể xuống) và Trạng thái ngọai hối(Yếu tố kinh doanh) : chúng ta đã biết
Trạng thái ngọai hối = (Tài sản có ngọai tệ - Tài sản nợ ngọai tệ) + (Doanh sốmua ?" Doanh số bán )
Có 2 trạng thái ngoại hối là hối trường và trạng thái ngoại hối đoái.
Trạng thái ngoại hối trường sảy ra khi tài sản Có ngoại hối lớn hơn tài sản Nợngoại hối Ngược lại, trạng thái ngoại hối đoản sảy ra khi tài sản Nợ ngoại hối > tài sản
Có ngoại hối
Khi ngân hàng kinh doanh ngoại tệ có trạng thái ngoại hối trường về một ngoại tệ
nào đó, nếu ngoại tệ đó lên giá, họ sẽ có lãi khi đánh giá lại và bị lỗ khi ngoại tệ đó xuốnggiá Như vậy, ngân hàng luôn phải đối phó với rủi ro hối đoái khi tỷ giá hối đoái thay đổi
Trang 17Lãi hay lỗ trong kinh doanh ngoại hối chủ yếu phụ thuộc vào mức độ duy trì trạng tháingoại hối mở, khi các ngân hàng và nhà kinh doanh ngoại hối nói chung giao dịch trên thịtrường ngoại hói về mỗi loại ngoại tệ và cả danh mục ngoại tệ Rủi ro trong kinh doanhngoại hối thường là :
- Rủi ro về tỷ giá hối đoái :
Đây là rủi ro đặc trưng của kinh doanh ngoại hối và có ý nghĩa rộng lớn đối vớinghiệp vụ này
Lãi / lỗ đối với ngoại tệ i = ( trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i ) x ( mức biếnđộng
của tỷ giá ngoại tệ i )
Trạng thái ngoại hối ròng gồm 2 loại :
+ trạng thái ngoại hối trường ròng = tài sản Có – tài sản Nợ bằng ngoại tệ
+ trạng thái ngoại hối đoản ròng = tài sản Nợ - tài sản Có
Như vậy, để phòng ngừa rủi ro ngoại hối, ngân hàng phải cân bằng tài sản Có vàtài sản Nợ với mỗi loại ngoại tệ và theo dõi sát biến động của tỷ giá hối đoái
- Rủi ro về tỷ lệ swap ( tỷ lệ chuyển đổi )
Loại rủi ro này thực chất là rủi ro về lãi suất, nếu khối lượng giao dịch lớn thì mức
độ rủi ro này cũng là điều đáng quan tâm
- Rủi ro thực hiện ( rủi ro thanh toán ) :
Đây là loại rủi ro do đối tác không thực hiện trách nhiệm của họ gây ra hậu quả làhoạt động ngoại hối bị lỗ Rủi ro thực hiện phụ thuộc vào uy tín thanh toán của kháchhàng nên người ta thường gọi loại rủi ro này là rủi ro uy tín thanh toán Rủi ro thực hiệntrong nghiệp vụ mua bán kỳ hạn lớn hơn trong nghiệp vụ trao ngay do được tất toán saumột thời kỳ nhất định
2.1.3 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là những thiệt hại xảy ra khi NHTM không có đủ hoặc mất khảnăng chi trả cho người gửi tiền Rủi ro thanh khoản xuất phát từ sự không khớp nhau vềthời hạn giữa tài sản nợ với tài sản có Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng lập kế hoạch dựtrữ không chính xác, hoặc do ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản có khó chuyển đổi, các
Trang 18khoản cho vay bị sai hẹn không thu hồi được dẫn đến kế hoạch dự trữ bị phá vỡ Do biếnđộng của nền kinh tế, chính trị, xã hội tác động tới tâm lý người gửi làm khách hàng ồ ạtrút tiền gây mất khả năng chi trả của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rúttiền ở ngân hàng ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy, thì ngân hàng phải đivay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầurút tiền gửi của người gửi tiền Trong cơ cấu tài sản có thì tiền mặt có độ thanh khoản caonhất, do đó trước hết ngân hàng sử dựng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt củakhách hàng Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trongnhững trường hợp bình thường ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu đểđáp ứng nhu cầu rút tiền thường xuyên của người gửi tiền mà không ảnh hưởng đến độthanh khoản của ngân hàng Ngân hàng có thể làm được điều này, bởi vì qua kinh nghiệmcông tác ngân quỹ hàng ngày ngân hàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửihàng ngày và trong trường hợp thiếu hụt tiền mặt tạm thời thì ngân hàng chỉ cần đi vay
bổ sung một cách thông thường trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt ngân hàng có thể đối mặt với rủi rothanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhucầu rút tiền có tính thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi ngân hàngphải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong bối cảnh đó thì hầuhết các ngân hàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí huy độngvốn bổ xung tăng lên đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm Hậu quả làngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiền củangười gửi Điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng vàbuộc phải bán thốc bán tháo tức thời ngay cả tài sản khó chuyển nhượng với giá rẻ mạt vìngân hàng không có đủ thời gian để tìm người mua cũng như điều kiện thương lượng vềgiá cả Do bán khẩn cấp bán tài sản với giá thấp khiến cho khả năng thanh khoản cuốicùng của ngân hàng bị đe dọa
2.1.4 Rủi ro công nghệ và hoạt động
Trang 19Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệkhông tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng quy mô hoạtđộng Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ của ngân hàng phát sinh trong trườnghợp : ví dụ dung lượng đầu tư quá lớn dẫn tới công nghệ không sử dụng đến và hậu quả
là tổ chức bộ máy trở lên quan liêu kém hiệu quả, hoặc là quy mô hoạt động không được
mở rộng, mặc dù đã được đầu tư công nghệ mới Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậuquả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩncủa sự phá sản ngân hàng trong tương lai Ngược lại, lợi ích của việc đầu tư công nghệ làtạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên thươngtrường và đồng thời cho phép ngân hàng phát triển các sản phẩm mới, tiến tiến, hiện đạigiúp cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát sinhbất cứ lúc nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là hệ thống hỗ trợ bên trongngừng hoạt động Ví dụ hệ thống máy tính xử lý sai khoản đi vay của ngân hàng thànhkhoản cho vay, dẫn tới trạng thái cho vay của ngân hàng có thể ở mức quá cao, ảnhhưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng và một tình thế khẩn cấp đã đến, ngânhàng phải lập tức vay tiền từ ngân hàng TW để đảm bảo khả năng thanh toán
2.1.5 Rủi ro nguồn vốn
Là loại rủi ro phát sinh do ngân hàng không duy trì đủ số vốn cần thiết theo yêucầu pháp lý và yêu cầu mở rộng, phát triển kinh doanh
Rủi ro nguồn vốn thường xảy ra dưới hai hình thức :
- Rủi ro thừa vốn : NHTM thông qua hình thức “ Đi vay để cho vay ” nhằm tìmkiếm lợi nhuận, còn nguồn vốn tự có “ chỉ là cái đệm chống đỡ sự sụt giá của các tài sản
có ” Khi nguồn vốn của ngân hàng bị ứ đọng có nghĩa là ngân hàng không cho vay rađược hoặc không sử dụng hết, trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền,chi các khoản chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý Nếu không khắc phục được tình trạngnày, đến một chừng mực nào đó, mức độ thua lỗ lớn sẽ dẫn tới việc đóng cửa ngân hàng
- Rủi ro do thiếu vốn: Do việc chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốnkhông nhịp nhàng dẫn tới việc ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư