1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tìm hiểu 02 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm 8 điểm

15 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 39,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Prudential, điều này chứng tỏ bà V gian dối vì trong hợp đồng loại bảo hiểm này, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định người mua bảo hiểm phải là vợ hoặc chồng của người được bảo hiể

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói, cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất của con người luôn luôn gắn liền với môi trường xung quanh đó là thiên nhiên Thiên nhiên không chỉ tạo cho con người những điều kiện thuận lợi mà mang đến cho con người bao nhiêu điều bất hạnh như: động đất , núi lửa, mưa bão…Không những thiên nhiên mà ngay cả con người cũng gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho người khác Để khắc phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại đó.Nhà nước khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia vào việc bảo hiểm tính mạng, sức khỏe, tài sản… Bảo hiểm là hình thức khắc phục thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi gặp những sự kiện rủi ro mà gây thiệt hại đến tính mạng , sức khỏe, tài sản cho cá nhân, tập thể Khi rủi ro, người tham gia bảo hiểm được tổ chức bảo hiểm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục nhanh chóng hậu quả đã xáy ra

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, nhóm em xin chọn đề tài: “ tìm hiểu 02 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm” để làm bài nhóm 2, nhắm trang bị thêm các kiến thức liên quan đến hợp đồng bảo hiểm như đặc điểm pháp lý, đối tượng, hình thức của hợp đồng bảo hiểm cũng như cách giải quyết tranh chấp trong hợp đồng bảo hiểm Trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô đóng góp ý kiến để bài làm của nhóm được hoàn chỉnh

NỘI DUNG Sau đây là hai tình huống về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm mà nhóm chúng em đưa ra:

I Tình huống 1:

TAND quận 1 (TP.HCM) xử sơ thẩm, tuyên buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam (gọi tắt là Prudential) phải thanh toán cho bà V., ngụ quận Gò Vấp hơn 170 triệu đồng tiền bảo hiểm mà chồng bà được hưởng sau khi qua đời theo hợp đồng Sau phiên xử, Prudential đã kháng cáo, cho rằng đúng ra tòa phải hủy hợp đồng vì lúc mua bảo hiểm, bà V và chồng (ông T.) chưa phải là vợ chồng hợp pháp… Tòa xác định lỗi ban đầu thuộc về nhân viên của công ty bảo hiểm nên công ty phải chi trả theo hợp đồng Cụ thể

vụ tranh chấp như sau:

Ngày 5-10-2006, bà V làm hợp đồng mua bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho ông T với tổng số tiền hơn sáu triệu đồng, đóng làm hai đợt Khi

Trang 2

mua bảo hiểm, bà và ông T chưa phải là vợ chồng hợp pháp nhưng 20 ngày sau

họ đã đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương

Hơn hai tháng sau, ngày 14-12-2006, ông T về quê và bất ngờ qua đời tại Trung tâm Y tế huyện Tây Sơn (Bình Định) do bị ung thư gan Sau cái chết của chồng, bà V nộp giấy tờ yêu cầu và Prudential đã lập hồ sơ để giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng đã ký kết Tuy nhiên, đã hơn hai năm trôi qua, bà nhiều lần hối thúc nhưng Prudential vẫn khất lần với lý do: “Đang thu thập thêm thông tin từ các cơ quan chức năng” Vì thế, bà V đã khởi kiện yêu cầu Prudential phải chi trả cho bà 150 triệu đồng theo hợp đồng bảo hiểm đã ký và tiền lãi của số tiền này từ khi bà cung cấp hồ sơ cho Prudential đến thời điểm hiện tại Ngược lại, Prudential cho rằng nguyên nhân cái chết của ông T chưa rõ ràng, cần phải có thời gian tìm hiểu thêm thông tin về tình trạng sức khỏe Cụ thể, bệnh án của Trung tâm Y tế huyện Tây Sơn ghi trước khi về quê, ông T đã được chẩn đoán và điều trị bệnh gan ở Trung tâm Hòa Hảo và Bệnh viện Ung bướu TP.HCM Vì thế, công ty phải tìm hiểu thông tin ở hai nơi này xem có việc vợ chồng bà V biết có bệnh nên mới đến mua bảo hiểm hay không Ngoài

ra, khi bà V gửi hồ sơ về cái chết của ông T thì công ty phát hiện tại thời điểm

ký hợp đồng bảo hiểm, bà chưa phải là vợ của ông T Theo Prudential, điều này chứng tỏ bà V gian dối vì trong hợp đồng loại bảo hiểm này, Luật Kinh doanh bảo hiểm đã quy định người mua bảo hiểm phải là vợ hoặc chồng của người được bảo hiểm Prudential cho rằng hợp đồng bảo hiểm trên là vô hiệu vì sự lừa dối đó và chỉ đồng ý trả lại cho bà V hơn sáu triệu đồng đã bỏ ra lúc mua bảo hiểm

Tại phiên xử sơ thẩm, hai bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nhân viên của đại lý bảo hiểm Prudential (người trực tiếp tư vấn và bán bảo hiểm cho bà V) có đơn xin vắng mặt Tại biên bản lời khai được công bố tại tòa, người này cho biết lúc mua bảo hiểm, bà V cũng nói rõ là mình “sắp có hôn thú”

Tòa nhận định lý do cần thu thập chứng cứ để Prudential chần chừ không giải quyết bảo hiểm cho bà V là không có cơ sở chấp nhận Bởi lẽ sau khi TAND quận 1 yêu cầu thì cả Trung tâm Hòa Hảo lẫn Bệnh viện Ung bướu TP.HCM đều có văn bản trả lời là không tìm thấy dữ liệu chứng minh ông T đã khám, điều trị bệnh gan tại hai nơi này

Về hợp đồng bảo hiểm, tòa cho rằng khi ký kết, nhân viên đại lý của Prudential biết rõ bà V chưa phải là vợ hợp pháp của ông T nhưng vẫn làm hợp đồng là lỗi thuộc về nhân viên bảo hiểm chứ không phải của bà V Thực tế thì 20

Trang 3

ngày sau khi mua bảo hiểm, bà V và ông T đã làm đăng ký kết hôn nên khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (tức ông T chết), bà V đã thuộc đối tượng của hợp đồng bảo hiểm như đã ký kết

Mặt khác theo tòa, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng dân sự theo mẫu Mà theo Bộ luật Dân sự, nếu trong hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Vì thế, lỗi ban đầu thuộc về nhân viên của Prudential chứ không phải do bà V gian dối như công ty trình bày

Về phần lãi suất, tòa đồng ý một phần yêu cầu của bà V, buộc Prudential phải trả tiền lãi cho số tiền trên tính từ khi bà nộp đủ hồ sơ là 30 tháng 10 ngày Tính theo lãi suất cơ bản tại thời điểm hiện tại, Prudential phải trả cho bà V hơn

26 triệu đồng Tổng cộng các khoản, Prudential phải trả cho bà V hơn 170 triệu đồng Ngoài ra, Prudential còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là hơn tám triệu đồng

1 Bình luận về cách giải quyết của Tòa án:

Đối với vụ tranh chấp trên, Tòa án nhân dân quận là cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vụ tranh chấp này Cách giải quyết của toà án hoàn toàn hợp

lý Theo tình huống của đề bài thì đây là một vụ tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, vì thế cần căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự và luật kinh doanh bảo hiểm để giải quyết tranh chấp trên

Thứ nhất, loại hợp đồng bảo hiểm trên thuộc loại hợp đồng bảo hiểm con người, đối tượng bảo hiểm ở đây là con người cụ thể là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho ông T do bà V là người làm hợp đồng Như vậy, sự kiện ông T về quê và bất ngờ qua đời tại Trung tâm Y tế huyện Tây Sơn (Bình Định)

do bị ung thư sau hai tháng ký hợp đồng bảo hiểm tức là sự kiện bảo hiểm đã xảy ra (Điều 571 BLDS Sự kiện bảo hiểm) Sau cái chết của chồng, bà V nộp giấy tờ yêu cầu và Prudential đã lập hồ sơ để giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng đã ký kết việc làm này của bà V là hoàn toàn phù hợp với quy định

của pháp luật dân sự tại khoản 1 Điều 575 BLDS: “ Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.”

Thứ hai, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 576 BLDS: “Bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm trong thời hạn đã thoả thuận; nếu không có thoả thuận về thời hạn thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm

Trang 4

trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm.” thì Prudential có nghĩa vụ phải trả tiền bảo hiểm cho bà

V bởi lẽ sau khi TAND quận 1 yêu cầu thì cả Trung tâm Hòa Hảo lẫn Bệnh viện Ung bướu TP.HCM đều có văn bản trả lời là không tìm thấy dữ liệu chứng minh ông T đã khám, điều trị bệnh gan tại hai nơi này Như vậy, việc Tòa nhận định lý

do cần thu thập chứng cứ để Prudential chần chừ không giải quyết bảo hiểm cho

bà V không có cơ sở chấp nhận là hoàn toàn chính xác

Thứ ba, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 576 BLDS: “Trong trường hợp bên bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm thì phải trả cả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm tương ứng với thời gian chậm trả” Toà đồng ý một phần yêu cầu của bà

V, buộc Prudential phải trả tiền lãi cho số tiền trên tính từ khi bà nộp đủ hồ sơ là

30 tháng 10 ngày phù hợp với quy định của pháp luật và việc Toà xác định và căn cứ lãi suất cơ bản tại thời điểm hiện tại yêu cầu Prudential phải trả cho bà V hơn 26 triệu đồng Tổng cộng các khoản, Prudential phải trả cho bà V hơn 170 triệu đồng phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 576 BLDS

Thứ tư, Mặt khác theo tòa, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng dân sự theo mẫu Mà theo Bộ luật Dân sự, nếu trong hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Vì thế, lỗi ban đầu thuộc về nhân viên của Prudential chứ không phải

do bà V gian dối như công ty trình bày Nhận định này của Toà phù hợp với quy

định của pháp luật cụ thể là quy định tại khoản 2 Điều 407 BLDS: “Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó.”

Ngoài ra, Toà án căn cứ vào các quy định của nghị định 61 – CP ngày 17/9/1993 quy định về án phí, lệ phí toà án quyết định Prudential còn phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm là hơn tám triệu đồng

2 Cách giải quyết của nhóm đối với trường hợp này:

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 5/10/2006 bà V mua bảo hiểm nhân thọ của công ty bảo hiểm Prudential Việt Nam cho ông T với tổng số tiền bảo hiểm là hơn 6 triệu đồng, trong thời gian bà V mua bảo hiểm cho ông T thì ông T và bà V chưa phải là vợ chồng hợp pháp, 20 ngày sau ông T và bà V mới đăng kí kết hôn

Trang 5

Ngày 14/12/2006 ông T trên đường về quê đã chết đột ngột do bị ung thư gan Sau khi ông T chết bà V nộp đơn và yêu cầu công ty bảo hiểm giải quyết quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm mà 2 bên đã kí kết Công ty bảo hiểm Prudential đã lập hồ sơ song sau 2 năm lấy lý do thu thập thêm thông tin từ cơ quan chức năng và chưa giải quyết cho bà V

Bà V nộp đơn kiện đòi công ty bảo hiểm trả cho bà V số tiền 150 triệu tiền bảo hiểm

Hướng giải quyết vụ việc:

Như đã nêu trong phần bình luận cách giải quyết của tòa án Nhóm em hoàn toàn đồng tình với cách xử lí của tòa, sau đây nhóm em sẽ nêu ra một số luận điểm để làm rõ hơn cách giải quyết của tòa

Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã định nghĩa:

“bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”

Đối tượng của bảo hiểm nhân thọ là con người nhưng không như bảo hiểm sinh mạng hay bảo hiểm tai nạn con người trong bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ rủi ro chết hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn của đối tượng được bảo hiểm mới là đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm nhân thọ Xuất phát từ đối tượng của bảo hiểm là con người nên bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người thuộc quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ xung năm 2010:

- Bản thân bên mua bảo hiểm

- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm

- Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng

- Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm Như vậy, theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm bà V muốn mua bảo hiểm nhân thọ cho ông T thì giữa bà V và ông T phải có một trong các mối quan hệ trên Khi mua bảo hiểm bà V chưa phải là vợ hợp pháp của ông T nhưng trong quá trình kí kết hợp đồng giữa bà V và công ty bảo hiểm bà V đã nêu rõ tình trạng hôn thú của mình và đại diện công ty bảo hiểm đã chấp thuận đồng thời sau thời gian mua bảo hiểm 20 ngày ông T và bà V có đi đăng kí kết hôn và được pháp luật công nhận là vợ, chồng hợp pháp Trong tình huống trên

bà V không phạm lỗi cố ý lừa gạt công ty bảo hiểm như ý kiến mà công ty bảo

Trang 6

hiểm đã đưa ra, việc kí kết hợp đồng giữa bà V và đại diện công ty bảo hiểm trong khi bà V chưa phải là vợ của ông T là hoàn toàn do lỗi của người đại diện công ty bảo hiểm, đồng thời tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm bà V đã là vợ của ông T

Thứ hai, về hình thức giao kết hợp đồng.

Hợp đồng bảo hiểm được kí kết giữa bà V và công ty bảo hiểm không phải là hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ xung năm 2010 Hợp đồng vẫn có hiệu lực, tuy nhiên lại có sự sai sót của nhân viên bảo hiểm trong quá trình kí kết hợp đồng

Xuất phát từ sự “yếu thế” của người mua bảo hiểm, tính phức tạp và khó hiểu của các điều khoản bảo hiểm đặc biệt là điều khoản bảo hiểm nhân thọ, và

để tránh việc các doanh nghiệp bảo hiểm tìm cách “chèn ép” khách hàng, dồn

họ vào tình thế khó lựa chọn cũng như hạn chế vi phạm nguyên tắc “tự do khế ước” trong giao dịch, các nhà làm luật đã đưa ra quy định về nghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người mua bảo hiểm như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định

về hợp đồng dân sự theo mẫu thì: “trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”

Khoản 1, Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm: “khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm ”

Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm: “trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng

có lợi cho người mua bảo hiểm”

Như vậy, theo các quy định trên thì nghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm trước hết thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm (thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại lý) và việc giải thích này phải theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm nếu điều khoản không rõ ràng Áp dụng vào tình huống cụ thể này, công ty bảo hiểm nhân thọ prudential cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng bà chưa phải

là vợ của ông T, mà luật kinh doanh bảo hiểm quy định người mua bảo hiểm phải là vợ hoặc chồng của người được bảo hiểm, vì thế prudential cho rằng hợp

Trang 7

đồng bảo hiểm trên là vô hiệu, tuy nhiên lời khai của người trực tiếp tư vấn và bán bảo hiểm cho bà V cho biết lúc mua bảo hiểm bà V cũng nói rõ là mình sắp

có hôn thú Như vậy, ta có thể thấy rõ rằng nhân viên đại lý bán bảo hiểm của Prudentinal đã tư vấn không đầy đủ cho khách hàng, bởi bà V sẽ không bao giờ dám mua bảo hiểm nếu được đại lý bảo hiểm tư vấn rằng: Nếu bà V không khai báo trung thực rằng mình và ông chưa phải là vợ chồng thì khi ông ấy chết chắc chắn cũng sẽ không được bồi thường Do đó, lỗi ban đầu thuộc về nhân viên của prudential chứ không phải do bà V gian dối như công ty bảo hiểm này trình bày

Thứ ba, điều kiện để được nhận tiền bảo hiểm của bà V.

Theo quy định của khoản 1 Điều 39 Luật kinh doanh bảo hiểm các trường hợp mà công ty bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm bao gồm:

- Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 2 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực

- Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng

- Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình

Ông T được cơ sở y tế xác nhận là chết do ung thư gan, nên không nằm trong các trường hợp kể trên Đồng thời việc cho rằng ông T và và V biết bị bệnh nên mới mua bảo hiểm không có chứng cứ xác nhận rõ ràng vì trong quá trình xét xử của Tòa án cả trung tâm Hòa Hảo lẫn bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh đều có văn bản trả lời là không tìm thấy dữ liệu chứng minh ông T đã tham gia khám và điều trị bệnh tại 2 cơ sở này, đồng thời không xác định rõ ràng thời điểm ông T bị cho là đã điều trị bệnh tại 2 cơ sở này là trước khi hai bên kí kết bảo hiểm nhân thọ Điều đó cho thấy việc công ty bảo hiểm lấy lý do thu thập thêm thông tin để kéo dài thời gian trả tiền bảo hiểm là không hợp lý

Như vậy, trong vụ việc trên lỗi hoàn toàn thuộc về bên công ty bảo hiểm, căn cứ theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm giữa

bà V và công ty bảo hiểm có hiệu lực và khi sự kiện bảo hiểm phát sinh (ông T đối tượng bảo hiểm chết) công ty bảo hiểm phải hoàn trả số tiền bảo hiểm cho

bà V theo quy định của hợp đồng và pháp luật

Một điểm nữa là án phí sẽ được tòa án cấp sơ thẩm quyết định theo đó đương sự phải chịu án phí dân sự đối với yêu cầu của họ không được chấp nhận

Trang 8

và bị đơn phải chịu toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận (khoản 1,2 điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí tòa án năm 2009 Mức án phí được tính tùy thuộc vào vụ việc thực tế cụ thể tùy thuộc vào loại tranh chấp là dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình…và tùy thuộc vào vụ tranh chấp là có giá ngạch hay không có giá ngạch và được quy định cụ thể tại Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo pháp lệnh về án phí, lệ phí tòa

án năm 2009 Trong vụ việc nêu trên thì mức án phí áp dụng sẽ là mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch: Từ trên 4triệu đến 4 triệu đồng là 5% giá trị tài sản có tranh chấp Như vậy công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential phải chịu án phí dân sự sơ thẩm:

5% x 170.000.000 = 8.500.000 (VNĐ)

II Tình huống 2:

Ngày 1/8/2008 một cơn mưa lớn đổ xuống tràn ngập hầu hết các tuyến đường ở TP HCM Theo Đài khí tượng thủy văn TP HCM, từ 12h20 – 12h35 và

từ 15h35 – 18h45 trời có mưa rào và lượng mưa tại quận 1 là 130 mm, lớn nhất trong các quận của thành phố trong những ngày đầu tháng 8 Vì thế, lúc 16h, nước ngập đã tràn vào tầng hầm để xe của Ngân hàng Đại Tín (số 75 Hồ Hảo Hớn, phường Cô Giang, quận 1).Đến khoảng 17 giờ, mực nước đã ngập 0,5m Lúc này, toàn bộ CB-CNV tại đây tập trung xử lý các việc như tắt máy tính, ngắt hệ thống ATS máy phát điện, chuẩn bị ngắt điện lưới, đưa xe máy ra khỏi tầng hầm…

Tuy nhiên, do mực nước dưới tầng hầm nhanh chóng dâng cao đến hơn 1m nên các xe ô tô bị ngập trôi bồng bềnh Nhân viên không thể đưa xe ô tô ra khỏi tầng hầm do độ dốc quá lớn và xe không khởi động được Sau đó, toàn bộ nhân viên phải sơ tán khỏi tầng hầm để phòng tránh tai nạn xảy ra do điện giật…

Sau sự cố, đến sáng 2/8/2008, Ngân hàng Đại Tín đã thông báo tai nạn cho Bảo hiểm AAA về sự vụ Kết quả giám định sau đó cho thấy chiếc Mercedes bị thiệt hại khoảng 400 triệu đồng Trước đó, theo hợp đồng ký kết giữa hai bên (HĐ số P080-710-08/0046) thì nội dung BH gồm: âm va, lật đổ; hỏa hoạn, cháy nổ; bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh, mất toàn bộ xe; tai nạn bất ngờ khác… Ngân hàng xác định đây là hậu quả do rủi ro bất ngờ và mong được công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại

Trang 9

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Bảo hiểm AAA trả lời không thể bồi thường

mà chỉ hỗ trợ cho Ngân hàng Đại Tín 50 triệu đồng với lý do: “Thiệt hại hệ thống điện của xe BKS 52P-1980 không thuộc phạm vi bảo hiểm vật chất thân

xe của Bảo hiểm AAA Đây cũng không phải là rủi ro bất ngờ” Ngày

30-3-2009, Ngân hàng Đại Tín đã chính thức gởi đơn kiện ra Tòa án Nhân dân TPHCM

Bình luận về tình huống:

Qua các tình tiết trong tình huống, ta thấy một số điểm sau:

Thứ nhất, để hợp đồng bảo hiểm giữa ngân hàng Đại Tín và bảo hiểm AAA có hiệu lực thì cần có sự hiện bảo hiểm Trong tình huống này, theo hồ sơ mà ngân hàng Đại Tín đưa ra thì sự kiện bảo hiểm là do rủi ro bất ngờ, cụ thể là do trời mưa lớn, dẫn tới tầng hầm để xe của ngân hàng bị ngập, và thiệt hại của chiếc

xe Mercedes là không thể tránh khỏi, vì vậy, ngân hàng Đại Tín yêu cầu bảo hiểm AAA bồi thường thiệt hại

Thứ hai là về phía bảo hiểm AAA, bảo hiểm AAA không chấp nhận yêu cầu của ngân hang Đại Tín, mà chỉ hỗ trợ một khoản tiền là 50 triệu đồng, lí do bảo hiểm AAA đưa ra ở đây là do thiệt hại của hệ thống điện ở chiếc xe không thuộc phạm vi bảo hiểm cụ thể là bảo hiểm vật chất thân xe, đồng thời, sự kiện bảo hiểm cũng không phải là rủi ro bất ngờ

Thứ ba là căn cứ vào những tình tiết thực tế trong tình huống, ta nhận thấy, lí do ngân hàng Đại Tín đưa ra để yêu cầu bảo hiểm AAA bồi thường thiệt hại là không hợp lí, sự kiện bảo hiểm ở đây mang tính rủi ro nhưng không mang tính bất ngờ

Theo từ điển tiếng việt năm 1994 (NXB Khoa học xã hội, Trung tâm từ điển học

Hà Nội – Việt Nam) thì “bất ngờ” được định nghĩa là “không ai ngờ, xảy ra ngoài dự tính” Từ điển Tiếng Việt – ngôn ngữ học Việt Nam (NXB Thanh Hóa 1998) cũng định nghĩa “bất ngờ” là “không ngờ tới, không dự tính trước được”

Tuy nhiên việc trời mưa lớn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, và lượng mưa ở quận 1 là 130mm, lớn nhất trong các quận của thành phố đã được đài khí tượng thủy văn thành phố Hồ Chí Minh dự báo, đồng thời, trong dự báo cũng nêu rõ thời gian mưa là khoảng 15h35 – 18h45, như vậy, Ngân hàng Đại Tín hoàn toàn có thể lường trước được việc nước tràn vào tầng hầm để xe của tòa

Trang 10

nhà, hay nói cách khác, sự kiện bảo hiểm ở đây hoàn toàn có thể ngờ trước được

và nằm trong tính toán của con người

Cách giải quyết của nhóm đối với trường hợp này:

Từ những tính tiết trong tình huống, theo quan điểm của nhóm em, trong trường hợp này Bảo hiểm AAA không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng Đại Tín do không xảy ra sự kiện bảo hiểm theo sự thỏa thuận giữa các bên vì:

Như đã trình bày ở trên, sự kiện bảo hiểm mà ngân hàng Đại Tín đưa ra không mang tính bất ngờ, mà giả sử, trận mưa lớn ngày 1/8/2008 là xảy ra bất ngờ, nân hàng không thể biết trước và lường trước được nhưng trong thời gian trân mưa diễn ra, ngân hàng cũng có thể khắc phục được sự cố bởi thời gian nước dâng không phảichỉ trong tích tắc mà kéo dài ( cụ thể là từ 16h đến 17h nước dâng cao 0,5m ), điều này khẳng định ngân hàng Đại Tín đã không mẫn cán trông việc khắc phục sự cố

Khoản 1 Điều 575 BLDS quy định: “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm hoặc bên được bảo hiểm phải báo ngay cho bên bảo hiểm và phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại” Trong khi đó, Ngân hàng Đại Tín đã không thông báo kịp

thời cho bên bảo hiểm AAA để khắc phục thiệt hại mà để đến ngày hôm sau là 2/8/2008, khi mà thiệt hại đã xảy ra mới thông báo cho bảo hiểm AAA để yêu cầu bồi thường thiệt hại

Theo khoản 1 Điều 161 Bộ luật Dân sự, một sự kiện khi xảy ra được xem

là bất khả kháng phải có đủ các yếu tố cấu thành như: tính khách quan, tính không tiên liệu được về sự kiện đó và tính không thể khắc phục Các yếu tố này phải đáp ứng điều kiện là mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép đã được

áp dụng để khắc phục sự kiện bất khả kháng đó Do vậy, lập luận của ngân hàng

là không có cơ sở Lập luận trên của ngân hàng cho thấy lỗi chủ quan của ngân hàng trong việc chậm trễ ứng cứu chính tài sản của mình Ngân hàng do chủ quan đã chậm trễ và không làm hết khả năng trong việc cứu hộ chiếc xe - tài sản của ngân hàng Do đó, Cty bảo hiểm không đồng ý bồi thường theo hợp đồng

mà chỉ hỗ trợ là đúng

Mặt khác thời điểm từ 16 giờ đến 17 giờ 30 được coi là giờ hành chính, vì thế không thể nói đây là sự kiện bất khả kháng và phía ngân hàng không thể tự khắc phục được Vì các lý do trên, xác định việc bảo hiểm AAA không phải bồi

Ngày đăng: 27/03/2019, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w