1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bộ ba bất khả thi trong kinh tế vĩ mô

28 1,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 445,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết này phát biểu rằng: “Một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc ba mục tiêu chính sách vĩ mô: chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự do hóa dòng vốn”.Bộ ba bất khả thi trong kinh tế vĩ mô

Trang 1

LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI

Trang 3

Lịch sử ra đời và lý thuyết bộ ba bất khả thi

 Bộ ba bất khả thi đã được Robert Mundell và Marcus Fleming manh nha từ năm 1963,sau đó các nhà kinh tế học như Krugman (1979) và Frankel (1999) đã phát triển lên thành lý thuyết

Trang 4

Độc lập tiển tệ

Trang 5

SỰ KẾT HỢP TRONG BỘ BA BẤT KHẢ THI

 Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ

bỏ độc lập về tiền tệ Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài

 Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi (hay nói cách

khác là phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá) Với lựa chọn này, NHTW được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo cung cầu của thị trường

 Ổn định tỷ giá và độc lập về chính sách tiền tệ kết hợp với nhau chỉ khi ta lựa chọn thị trường vốn đóng

Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.

bỏ độc lập về tiền tệ Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài

khác là phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá) Với lựa chọn này, NHTW được quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo cung cầu của thị trường

Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.

Trang 6

• Đường IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trường hàng hóa cân bằng.

• Đường LM: cung tiền bằng cầu tiền giả sử cầu tiền cho mục đích giao dịch và đầu cơ

• Đường BP là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó cán cân thanh toán cân bằng

• Y: thu nhập quốc dân

• C: chi dùng trong nước

• G: chi tiêu của chính phủ

• I: đầu tư trong nước

• I=I( r) đầu tư nghịch biến với lãi suất

• X: khoản thu xuất khẩu

• M: chi tiêu nhập khẩu

 Ý nghĩa các ký hiệu :

• Đường IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trường hàng hóa cân bằng

• Đường LM: cung tiền bằng cầu tiền giả sử cầu tiền cho mục đích giao dịch và đầu cơ

• Đường BP là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó cán cân thanh toán cân bằng

• Y: thu nhập quốc dân

• C: chi dùng trong nước

• G: chi tiêu của chính phủ

• I: đầu tư trong nước

• I=I( r) đầu tư nghịch biến với lãi suất

• X: khoản thu xuất khẩu

• M: chi tiêu nhập khẩu

Trang 7

Phân tích bộ ba bất khả thi Phân tích bộ ba bất khả thi

1.Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ

Hình 1: Thị trường vốn đóng

Trang 8

Phân tích bộ ba bất khả thi Phân tích bộ ba bất khả thi

2.Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính

Hình 2: Tỷ giá thả nổi

Trang 9

Phân tích bộ ba bất khả thi

Phân tích bộ ba bất khả thi

3.Ổn định tỷ giá và hội nhâp tài chính

Hình 3: Tỷ giá cố định

Trang 10

 Mỗi điểm bên trong tam giác thể hiện một sự kết hợp trung gian giữa ba mục tiêu chính sách, nghĩa là kiểm soát vốn ở mức độ vừa phải, chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn và

tỷ giá hối đoái biến động trong một biên độ cho phép

 Frankel (1999) cho rằng một quốc gia vẫn có thể lựa chọn cơ chế tỷ giá bán ổn định và chính sách tiền tệ bán độc lập

 Lý thuyết bộ ba bất khả thi không thể ngăn cản một quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, dải băng tỷ giá, tỷ giá cố định có thể điều chỉnh hay bất cứ cơ chế tỷ giá trung gian nào

 Mỗi điểm bên trong tam giác thể hiện một sự kết hợp trung gian giữa ba mục tiêu chính sách, nghĩa là kiểm soát vốn ở mức độ vừa phải, chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn và

tỷ giá hối đoái biến động trong một biên độ cho phép

Yigang và Tangxian ( 2001 ) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba

bất khà thi của Mundell – Fleming và đưa thành thuyết tam

giác mở rộng

Trang 11

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

 Trung Quốc là quốc gia áp dụng khá thành công về lý thuyết bộ ba bất khả thi Hai trong ba mục tiêu mà lý thuyết bộ ba bất khả thi đưa ra được Trung Quốc hướng đến:

Ổn định tỷ giá

Trang 12

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

1.Hội nhập tài chính

Bắt đầu năm 1979, Trung Quốc quyết định đưa ra chính sách tự do hóa tài chính

 Tháng 12/1996: Trung Quốc cho phép chuyển đổi đồng NDT trong các giao dịch tài khoản vãng lai và loại bỏ tất cả các hạn chế về quy định, số lượng ngoại tệ sử dụng cho các giao dịch tài khoản vãng lai

 Tăng các khu vực đã được mở cửa cho FDI trong giai đoạn đầu của quá trình tự do hóa, và đến cuối những năm 1990, hầu hết các vùng đã thực hiện điều đó Điều này thể hiện qua dòng vốn FDI gia tăng nhanh chóng trong các năm qua

1.Hội nhập tài chính

Bắt đầu năm 1979, Trung Quốc quyết định đưa ra chính sách tự do hóa tài chính

 Tháng 12/1996: Trung Quốc cho phép chuyển đổi đồng NDT trong các giao dịch tài khoản vãng lai và loại bỏ tất cả các hạn chế về quy định, số lượng ngoại tệ sử dụng cho các giao dịch tài khoản vãng lai

 Tăng các khu vực đã được mở cửa cho FDI trong giai đoạn đầu của quá trình tự do hóa, và đến cuối những năm 1990, hầu hết các vùng đã thực hiện điều đó Điều này thể hiện qua dòng vốn FDI gia tăng nhanh chóng trong các năm qua

Trang 13

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

Trang 14

Nhưng trên thực tế, Trung Quốc vẫn đang duy trì một sự kiểm soát nhất định đối với các giao dịch trong tài khoản vốn bằng các biện pháp:

 Hạn chế nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường tài chính nội địa và đồng thời hạn chế nhà đầu tư nội địa tiếp cận thị trường nước ngoài: các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua các cổ phần, các công cụ định danh ngoại tệ trên thị trường nội địa và nước ngoài bao gồm: thị trường cổ phiếu B, cổ phân H, cổ phần Red chip, và các trái phiếu bằng ngoại tệ ở nước ngoài nhưng ko được phép mua cổ phần A, trái phiếu và công cụ thị trường tiền tệ định danh bằng đồng NDT

 Hạn chế đối với vay nợ nước ngoài: Trung Quốc quy định các doanh nghiệp nội địa cần đáp ứng một số tiêu chuẩn khi vay nợ nước ngoài

 Hạn chế đối với đầu tư trực tiếp

 Kiểm soát chặt chẽ hơn đối với thủ tục phê chuẩn FDI nhằm ngăn chặn dòng chảy của nguồn vốn không dựa trên đầu tư thật sự

Nhưng trên thực tế, Trung Quốc vẫn đang duy trì một sự kiểm soát nhất định đối với các giao dịch trong tài khoản vốn bằng các biện pháp:

 Hạn chế nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường tài chính nội địa và đồng thời hạn chế nhà đầu tư nội địa tiếp cận thị trường nước ngoài: các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mua các cổ phần, các công cụ định danh ngoại tệ trên thị trường nội địa và nước ngoài bao gồm: thị trường cổ phiếu B, cổ phân H, cổ phần Red chip, và các trái phiếu bằng ngoại tệ ở nước ngoài nhưng ko được phép mua cổ phần A, trái phiếu và công cụ thị trường tiền tệ định danh bằng đồng NDT

 Hạn chế đối với vay nợ nước ngoài: Trung Quốc quy định các doanh nghiệp nội địa cần đáp ứng một số tiêu chuẩn khi vay nợ nước ngoài

 Hạn chế đối với đầu tư trực tiếp

 Kiểm soát chặt chẽ hơn đối với thủ tục phê chuẩn FDI nhằm ngăn chặn dòng chảy của nguồn vốn không dựa trên đầu tư thật sự

Trang 15

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

2 Ổn định tỷ giá

Trước 1979, TQ thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá

 Từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh liên tục tỷ giá hối đoái danh nghĩa biến động theo hướng giảm giá trị của đồng nội tệ cho phù hợp với sức mua của đồng NDT bị đánh giá cao trước đây trong suốt thời kỳ đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90

Bảng: Diễn biến của tỷ giá hối đoái giữa NDT và USD thời kì 1978-1990:

2 Ổn định tỷ giá

Trước 1979, TQ thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá

 Từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh liên tục tỷ giá hối đoái danh nghĩa biến động theo hướng giảm giá trị của đồng nội tệ cho phù hợp với sức mua của đồng NDT bị đánh giá cao trước đây trong suốt thời kỳ đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90

Bảng: Diễn biến của tỷ giá hối đoái giữa NDT và USD thời kì 1978-1990:

Trang 16

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

 Chính sách tỷ giá trong thời kì này đã giúp TQ đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ và đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng

 Ngày 1/1/1994, Trung Quốc chấp nhận một cơ chế thả nổi có quản lý đối với tỷ giá đồng NDT Trung Quốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng NDT từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, tương ứng với tỷ lệ phá giá 50% (8,7/5,8)

 Tỷ giá NDT/USD bắt đầu tăng đến 8,3 vào 5/1995 và 8,28 vào 10/1997 Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á, dải băng giao dịch đã được thu hẹp hơn và tỷ giá 8,28 NDT/USD được duy trì cho đến ngày 21/7/2005

 Với kết quả của một loạt những điều chỉnh kết hợp thả lỏng và xiết chặt từng bộ phận trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích cực nhanh chóng khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh tế Trung Quốc

 Chính sách tỷ giá trong thời kì này đã giúp TQ đẩy mạnh xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ và đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng

 Ngày 1/1/1994, Trung Quốc chấp nhận một cơ chế thả nổi có quản lý đối với tỷ giá đồng NDT Trung Quốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng NDT từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, tương ứng với tỷ lệ phá giá 50% (8,7/5,8)

 Tỷ giá NDT/USD bắt đầu tăng đến 8,3 vào 5/1995 và 8,28 vào 10/1997 Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á, dải băng giao dịch đã được thu hẹp hơn và tỷ giá 8,28 NDT/USD được duy trì cho đến ngày 21/7/2005

 Với kết quả của một loạt những điều chỉnh kết hợp thả lỏng và xiết chặt từng bộ phận trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích cực nhanh chóng khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh tế Trung Quốc

Trang 17

Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (tỷ usd) 236,73 280,90 289,90 325,05

Tốc độ tăng trưởng của xuất nhập khẩu (%năm) 20,97 18,65 6,41 12,12

Cán cân tài khoản vốn ( triệu USD) 32645 38647 39966 22987

Tỷ giá hối đoái (trung bình NDT/USD) 8.6187 8,3514 8,3142 8,2898

Tốc độ tăng trưởng (% năm) 12,70 10,50 9,50 8,80

Bảng: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994-1997:

Trang 18

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc

Tác động của bộ ba bất khả thi tại Trung Quốc

Chính sách tỷ giá cố định đang tác động đến sự độc lập của chính sách tiền tệ: trong khi nền kinh tế đang tăng trường

quá nóng, dòng vốn đầu tư chảy vào ồ ạt thì để ổn định nền kinh tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát, NHTW có giảm cung tiền, tăng lãi suất Tuy nhiên, Trung Quốc cũng phải đối mặt với vấn đề đánh đổi giữa việc cố duy trì tỷ giá cố định và mất dần sự độc lập trong chính sách tiền tệ

Cung tiền gia tăng: chính sách vô hiệu hóa ngày càng tỏ ra kém hiệu quả, nó làm xói mòn sự độc lập trong chính sách

tiền tệ của Trung Quốc Từ năm 2003-2006, PBoC đã bỏ ra 6/380,4 tỷ NDT tiền mạnh để mua vào dòng ngoại tệ như thác đổ vào Trung Quốc Số tiền này đã làm gia tăng cung tiền của Trung Quốc

 Sự gia tăng chi phí vô hiệu hóa (chính sách vô hiệu hóa mất dần hiệu quả): chính sách vô hiệu hóa chỉ trung hòa một phần lượng nội tệ được dùng để mua ngoại tệ và do vậy sẽ dẫn đến gia tăng cung tiền, việc thu hồi lượng nội tệ trong lưu thông bằng tín phiếu vô hiệu hóa làm gia tăng chi phí vô hiệu hóa do phải trả lãi, làm xấu đi bảng báo cáo tài chính của hệ thống ngân hàng vì lãi suất tín phiếu vô hiệu hóa thạp hơn so với lãi suất thị trường

Tác động của bộ ba bất khả thi tại Trung Quốc

Chính sách tỷ giá cố định đang tác động đến sự độc lập của chính sách tiền tệ : trong khi nền kinh tế đang tăng trường

quá nóng, dòng vốn đầu tư chảy vào ồ ạt thì để ổn định nền kinh tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát, NHTW có giảm cung tiền, tăng lãi suất Tuy nhiên, Trung Quốc cũng phải đối mặt với vấn đề đánh đổi giữa việc cố duy trì tỷ giá cố định và mất dần sự độc lập trong chính sách tiền tệ

Cung tiền gia tăng : chính sách vô hiệu hóa ngày càng tỏ ra kém hiệu quả, nó làm xói mòn sự độc lập trong chính sách tiền tệ của Trung Quốc Từ năm 2003-2006, PBoC đã bỏ ra 6/380,4 tỷ NDT tiền mạnh để mua vào dòng ngoại tệ như thác đổ vào Trung Quốc Số tiền này đã làm gia tăng cung tiền của Trung Quốc

Sự gia tăng chi phí vô hiệu hóa (chính sách vô hiệu hóa mất dần hiệu quả): chính sách vô hiệu hóa chỉ trung hòa một phần lượng nội tệ được dùng để mua ngoại tệ và do vậy sẽ dẫn đến gia tăng cung tiền, việc thu hồi lượng nội tệ trong lưu thông bằng tín phiếu vô hiệu hóa làm gia tăng chi phí vô hiệu hóa do phải trả lãi, làm xấu đi bảng báo cáo tài chính của hệ thống ngân hàng vì lãi suất tín phiếu vô hiệu hóa thạp hơn so với lãi suất thị trường

Trang 19

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Mỹ

• Mỹ theo đuổi chính sách tỷ giá thả nổi cũng mới chỉ diễn ra gần đây

• Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố định

so với dollar Mỹ cho đến tận những năm đầu của thập niên 70

• Sau đó, hiệp ước Bretton Woods sụp đổ và các nền kinh tế hàng đầu: Nhật Bản, Đức và dĩ nhiên là Mỹ đã duy trì hệ thống thả nổi tỷ giá (Free Float) cho đến ngày nay

• Mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu tư ra nước ngoài Đơn giản nhất là gửi tiền cho một quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng khoán, trái phiếu tại Mỹ

 Song song với tỷ giá thả nổi là những bất ổn không nhỏ trên trị trường ngoại hối cũng như của cả nền kinh tế như: gánh nặng nợ nần, những nguy cơ đè nặng của các tái sản bong bóng,…

• Mỹ theo đuổi chính sách tỷ giá thả nổi cũng mới chỉ diễn ra gần đây

• Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố định

so với dollar Mỹ cho đến tận những năm đầu của thập niên 70

• Sau đó, hiệp ước Bretton Woods sụp đổ và các nền kinh tế hàng đầu: Nhật Bản, Đức và dĩ nhiên là Mỹ đã duy trì hệ thống thả nổi tỷ giá (Free Float) cho đến ngày nay

• Mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu tư ra nước ngoài Đơn giản nhất là gửi tiền cho một quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng khoán, trái phiếu tại Mỹ

 Song song với tỷ giá thả nổi là những bất ổn không nhỏ trên trị trường ngoại hối cũng như của cả nền kinh tế như: gánh nặng nợ nần, những nguy cơ đè nặng của các tái sản bong bóng,…

Trang 20

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

Tình hình các chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

Bảng: chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam qua các thời kỳ từ 1970 đến 2008

nhìn

Bảng: chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam qua các thời kỳ từ 1970 đến 2008

Trang 21

Ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam

 Nhìn bảng ta thấy chỉ số ERS có xu hướng gia tăng theo thời gian, giai đoạn 1970-1990,chỉ số này chỉ đạt giá trị ở mức trung bình ( nhỏ hơn 0.5 ) nhưng 20 năm sau đã có những sự gia tăng rõ rệt

 Mức độ ổn định ở mức trung bình (nhỏ hơn 0.5) từ năm 1970 đến 1990 phản ánh những đợt phá giá trong giai đoạn này cùng với chính sách ba tỷ giá chính thức

 Trong giai đoạn tiếp theo,NHNN thực hiện chính sách neo tỷ giá cùng với việc ấn định các biên độ dao động cho phép, chính việc quy định biên độ dao động này đã làm cho tỷ giá USD/VND gần như cố định,neo chặt

 Tương tự như ERS, chỉ số chỉ mức độ mở cửa tài khoản vốn KAOPEN cũng có xu hướng tương tự.chỉ số này có xu hướng gia tăng theo thời gian trừ giai đoạn 1981-1990 do chính sách đóng cửa của nhà nước

 Theo lý thuyết của bộ ba bất khả thi, một khi 2 chỉ số gia tăng thì chỉ số còn lại phải giảm để thể hiện sự đánh đổi.Thực tế VN đã chứng minh điều đó qua chỉ số MI từ 1996-2008 chỉ số MI giảm qua 2 thời kỳ từ 0.66 xuống 0.57

 Nhìn bảng ta thấy chỉ số ERS có xu hướng gia tăng theo thời gian, giai đoạn 1970-1990,chỉ số này chỉ đạt giá trị ở mức trung bình ( nhỏ hơn 0.5 ) nhưng 20 năm sau đã có những sự gia tăng rõ rệt

 Mức độ ổn định ở mức trung bình (nhỏ hơn 0.5) từ năm 1970 đến 1990 phản ánh những đợt phá giá trong giai đoạn này cùng với chính sách ba tỷ giá chính thức

 Trong giai đoạn tiếp theo,NHNN thực hiện chính sách neo tỷ giá cùng với việc ấn định các biên độ dao động cho phép, chính việc quy định biên độ dao động này đã làm cho tỷ giá USD/VND gần như cố định,neo chặt

 Tương tự như ERS, chỉ số chỉ mức độ mở cửa tài khoản vốn KAOPEN cũng có xu hướng tương tự.chỉ số này có xu hướng gia tăng theo thời gian trừ giai đoạn 1981-1990 do chính sách đóng cửa của nhà nước

 Theo lý thuyết của bộ ba bất khả thi, một khi 2 chỉ số gia tăng thì chỉ số còn lại phải giảm để thể hiện sự đánh đổi.Thực tế VN đã chứng minh điều đó qua chỉ số MI từ 1996-2008 chỉ số MI giảm qua 2 thời kỳ từ 0.66 xuống 0.57

Ngày đăng: 04/10/2014, 21:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình : Diễn biến tỷ giá và nhập siêu ở Việt Nam - Bộ ba bất khả thi trong kinh tế vĩ mô
nh Diễn biến tỷ giá và nhập siêu ở Việt Nam (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w