Phương thức định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động trong tiếng Tày Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY PHẢN ÁNH QUA TÊN GỌI TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG 40 3.1.1.. Mục
Trang 1LÊ VIẾT CHUNG
TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
TRONG TIẾNG TÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LÊ VIẾT CHUNG
TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
TRONG TIẾNG TÀY
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn: TS Lê Văn Trường
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả
Lê Viết Chung
Trang 4Trang
Mục lục
Danh mục các bảng biểu
1.2.1 Vị trí của từ chỉ công cụ lao động trong lớp từ vựng của
một ngôn ngữ
18
1.3 Khái niệm định danh và các phương thức định danh 20
1.3.1 Khái niệm định danh 20 1.3.2 Các phương thức định danh 21
1.5.1 Sơ luợc về dân tộc Tày 23 1.5.2 Sơ lược về tiếng Tày 25
Trang 5TRONG TIẾNG TÀY
2.2 Phương thức định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
trong tiếng Tày
Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY
PHẢN ÁNH QUA TÊN GỌI TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
40
3.1.1 Khái niệm văn hoá 42 3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 43
3.2 Nhận diện tư liệu qua định nghĩa miêu tả 45
Trang 63.3.1 Văn hóa vật chất 51 3.3.2 Văn hóa tinh thần 64
NHỮNG BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN
Trang 7Số hiệu
3.1 Bảng so sánh dụng cụ sản xuất 52
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á
có nền kinh tế chủ đạo là kinh tế nông nghiệp Chính từ trong lao động
đã để lại những dấu ấn nhất định trong ngôn ngữ, đó là kho tàng từ vựng hết sức phong phú phản ánh tri thức của người Việt Đồng thời nền văn minh nông nghiệp cũng là sự thể hiện rõ nhất văn hóa nông nghiệp Văn hóa nông nghiệp của người Việt Nam có những nét chung với các nền văn hóa nông nghiệp trong khu vực nhưng cũng
có những nét riêng làm thành bản sắc văn hóa Việt Nam
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó có
53 dân tộc thiểu số Trong nền văn hóa đa dân tộc, đa ngôn ngữ, mỗi dân tộc có những bản sắc văn hóa, tiếng nói riêng chính sự đa dạng
đó đã làm phong phú nền văn hóa Việt Nam
Trong số các dân tộc thiểu số Việt Nam, dân tộc Tày là một cộng đồng tộc người đông dân số nhất: 1.626.392 người (theo tài
liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 của Ban chỉ đạo
Tổng điều tra dân số Trung ương) Địa bàn cư trú của người Tày thường tập trung chủ yếu ở phía Bắc Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang Một bộ phận di cư vào các tỉnh phía Nam Việc trồng cây, trồng lúa là đặc điểm văn hóa vật chất lớn nhất của người Tày
Đối với bất cứ dân tộc nào thì ngôn ngữ là công cụ tư duy quan trọng nhất giúp gắn kết mọi người với nhau trong cộng đồng dân tộc, đồng thời cùng là phương tiện để bảo tồn và phát triển nhiều hình thức văn hóa khác
Trang 9Đảng và Nhà nước ta đã sớm có chủ trương nhằm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ các dân tộc như ban hành: Quyết định 53/CP tháng 02/1980, hoặc Chỉ thị 38/2004/CT-TTg (ngày 09/11/2004) yêu cầu cán bộ công chức công tác ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải biết và sử dụng được tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số Một trong những ngôn ngữ được chú ý trong sử dụng cũng như trong giảng dạy là tiếng Tày
Để việc dạy và học tiếng Tày đạt hiệu quả và để hiểu biết sâu sắc hơn về tiếng Tày, một trong những vấn đề cần thiết được tìm
hiểu, nghiên cứu đó là: những từ ngữ chỉ công cụ lao động trong
tiếng Tày
Là một cán bộ được phân công công tác về vấn đề dân tộc, thường xuyên gần gũi và tiếp xúc với đồng bào, muốn cho công việc được thuận lợi và hơn hết là được dân mến, dân yêu, bản thân tôi luôn mong muốn làm được một điều gì đó cho dân tộc Tày Việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài trên là nguyện vọng tha thiết thường trưc nhất đối với tôi
2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu tiếng Tày đã sớm được nhiều tác giả quan tâm
Đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Tính phong phú của tiếng
Tày - Nùng của Lạc Dương; Xây dựng và phát triển hệ thống từ vựng tiếng Tày - Nùng; Một vài ý kiến về từ mượn trong tiếng Tày – Nùng
của Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo; Cách làm giàu tiếng Tày – Nùng của Nguyễn Thiện Giáp; Ngữ pháp Tày – Nùng, Từ điển Tày – Nùng
của Lục Văn Pảo, Hoàng Văn Ma, v.v
Trong các công trình đã công bố các tác giả thường đề cập đến những vấn đề như: hiện tượng vay mượn trong tiếng Tày, Nùng; vốn từ tiếng Tày - Nùng; hoặc nghiên cứu về ngữ âm tiếng Tày
Trang 10trong so sánh với tiếng Việt, v.v mà chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách riêng biệt về những từ ngữ chỉ công cụ lao
động trong tiếng Tày Tuy vậy, những kết quả mà các tác giả đạt
được đã cho chúng tôi một sự hiểu biết tường tận hơn về tiếng Tày
và thật sự bổ ích khi chúng tôi bắt tay vào tiến hành đề tài luận văn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ những từ (lớp từ), ngữ chỉ công cụ lao động của người Tày ở Thái Nguyên Tuy nhiên, bước đầu thu thập tư liệu, chúng tôi nhận thấy có một số vấn
"cái búa", kẻo "cái kéo", v.v
- Mặt khác có những từ được dùng trong đời sống sinh hoạt nhưng không thể không được xem xét đến như là những từ thuộc lớp
từ lao động, ví dụ: chốc kha "cối giã chày chân", chốc nặm "cối nước", càn "đòn gánh", v.v
- Ngoài sự không rạch ròi giữa từ ngữ chỉ công cụ lao động với từ ngữ chỉ công cụ trong đời sống sinh hoạt, nói cách khác hai lĩnh vực này sử dụng chung một số công cụ, còn có những từ ngữ chỉ công cụ thuộc hai lĩnh vực trên nhưng lại liên quan đến lĩnh vực
săn bắt, chiến đấu Ví dụ: doạng "lưới bắt cá", dầy "lờ đơm cá",
chăm "cái vó", pjạ sliểm "dao nhọn", pjạ xính "dao găm", tao "cây
đao", tẩu "dây thừng", v.v
Trang 11- Một số đồ đựng có chức năng làm công cụ lao động, ví dụ:
roeng "sọt nhỏ", roạng "cái sọt" Ngược lại một số công cụ lại kiêm
chức năng đồ đựng, ví dụ: tủm "rọ đựng cá", xuốc "cái giỏ", xâng
háng "cái sàng", v.v
Từ thực tế trên, từ ngữ chỉ công cụ lao động của người Tày được luận văn xem xét sẽ bao gồm những lớp từ sau đây:
a) Lớp từ ngữ chỉ công cụ thuộc lĩnh vực lao động Ví dụ:
thây "cái cày", phưa "bừa", bai "cái cuốc bàn", pjạ quang "dao phát
bờ", chuông "cái cào cỏ", slíu "cái đục", tào "cái giũa" v.v
b) Lớp từ ngữ chỉ công cụ thuộc lĩnh vực đời sống sinh hoạt,
ví dụ: chốc hin "cối đá", chốc kha "cối giã chày chân", chốc nặm
"cối nước", pjạ "con dao", kẻo "cái kéo", bủa "cái búa" v.v
c) Lớp từ ngữ chỉ công cụ thuộc lĩnh vực săn bắt, chiến đấu,
ví dụ: bẩu păt pja "rạo bắt cá", moòng "lưới bắt chim", slủng kép
"súng kíp", slủng phét "cái nỏ ống", v.v
d) Lớp từ chỉ đồ đựng và một số danh từ khác liên quan đến các lĩnh vực: lao động, đời sống sinh hoạt và săn bắt chiến đấu, ví
dụ: xâng háng "cái sàng", xâng thí "cái giần", khưởng "cái giỏ",
roeng "cái sọt nhỏ", roạng "cái sọt", v.v (xem Phụ lục 2)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu từ ngữ chỉ công cụ lao
động trong tiếng Tày ở hai vấn đề sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh của lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Nghiên cứu về một số đặc trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua tên gọi lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
Trang 124 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài từ ngữ chỉ công cụ lao động trong tiếng Tày, luận văn hướng đến mục đích tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh của lớp từ này; từ đó thấy được một số đặc trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua tên gọi lớp từ chỉ công
cụ lao động
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích mà đề tài đặt ra, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về cấu tạo từ (hình vị, từ,
và ngữ nghĩa )
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về định danh
- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về khái niệm văn hóa và mối quan hệ ngôn ngữ với văn hóa
- Trình bày khái quát về vấn đề người Tày và tiếng Tày ở Việt Nam
- Nhận diện và xác lập danh sách từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Định nghĩa miêu tả danh sách từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Miêu tả về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Trình bày một số đặc trưng văn hóa của người Tày được phản ánh qua tên gọi từ ngữ chỉ công cụ lao động
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Tư liệu
Tư liệu về lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động được người viết trực tiếp thu thập qua điều tra điền dã và phỏng vấn
Trang 13Tư liệu cũng được thu thập qua một số công trình đã công bố liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa người Tày
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, trong luận văn chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu điền dã
Đây là phương pháp chính và quan trọng cho việc thu thập danh sách từ chỉ công cụ Áp dụng triệt để phương pháp này sẽ cho một danh sách từ có độ tin cậy cao Trong nghiên cứu điền dã chúng tôi hết sức chú trọng đến các thao tác quan sát và phỏng vấn nhằm làm rõ các đặc điểm về mặt hình thức và chức năng của công cụ lao động để có những cơ sở xác đáng trong các nghiên cứu tiếp theo như định nghĩa miêu tả, nghiên cứu cấu trúc, ngữ nghĩa, phương thức định danh cũng như những đặc điểm văn hóa được phản ánh qua tên gọi các công cụ này
- Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả mà bao chứa trong nó là một loạt các thủ pháp bên trong như thủ pháp phân loại và hệ thống hóa; thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp; thủ pháp phân tích nghĩa từ cũng được áp dụng trong việc tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức định danh lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng trong chừng mực khi chúng tôi thấy cần thiết có sự so sánh - đối chiếu giữa những vấn đề đang xem xét với những vấn đề tương ứng trong tiếng Việt
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đóng góp về mặt phương pháp luận cho cách thức tiến hành xác lập và nghiên cứu một lớp từ vựng cụ thể của một ngôn ngữ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần cho việc học tập, giảng dạy tiếng Tày nói chung
và lớp từ chỉ công cụ lao động của người Tày nói riêng
- Góp phần cho việc hiểu biết về một số đặc trưng văn hóa của người Tày thông qua sự phản ánh của tên gọi lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động
- Danh sách lớp từ chỉ công cụ lao động và định nghĩa miêu
tả của nó góp phần hỗ trợ và làm tư liệu cho việc biên soạn từ điển ngữ văn, từ điển bách khoa chuyên ngành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức
định danh của lớp từ ngữ chỉ công cụ lao động của người Tày
Chương 3: Một số đặc trưng văn hóa của người Tày biểu
hiện qua tên gọi từ ngữ chỉ công cụ lao động
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 KHÁI NIỆM HÌNH VỊ, TỪ, NGỮ, NGHĨA
1.1.1 Hình vị
Trong ngôn ngữ học Đại cương, "hình vị" đã được xác định
là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ Cách xác định này cho thấy hai đặc điểm chính của hình vị:
- Là đơn vị có nghĩa
- Không thể chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn
Như vậy hình vị là đơn vị (hay thành tố, yếu tố) gốc, đơn vị
tế bào của ngữ pháp, là đơn vị có tổ chức tối đơn giản, trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền với một ý nghĩa nhất định Đặc biệt được chú
ý là giá trị ngữ pháp của nó, với tư cách là yếu tố cấu tạo từ
Ngoài tên gọi là "hình vị" đơn vị này còn được gọi là
"mooc-phem" (morpheem), "từ tố", "nguyên vị", "hình tố"… Hình
tố và từ tố được coi là những dạng thức cụ thể của hình vị trong những hoàn cảnh nhất định với vai trò cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó (thường được hiểu là từ) Nguyên vị được hiểu là hình vị, được xét ở dạng tĩnh (nguyên), tức là trừu tượng khỏi các mối quan
hệ mà nó đang chi phối và bị chi phối, và được xem xét như một đơn vị vốn có (tự nhiên) Ngoài ra người ta còn phân biệt "căn tố"
và "phụ tố" (với các dạng khác nhau của phụ tố như: tiền tố, trung
tố, hậu tố) trong cấu trúc của từ ở nhiều ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính và hoà kết
Trên thực tế, các về đặc tính chung của hình vị ít được các nhà ngôn ngữ học thảo luận Tuy vậy, những dạng thức cụ thể của
Trang 16một hình vị trong một ngôn ngữ cụ thể là thế nào, hiểu ra sao về
"nghĩa" của hình vị trong ngôn ngữ ấy thì lại được bàn luận rất nhiều Chẳng hạn, trong tiếng Việt đã có nhiều ý kiến thảo luận
xoay quanh "khuôn vần" của từ láy tiếng Việt (ví dụ: "siếc" trong
sách siếc, giáo sư giáo siếc hay ấp trong lấp ló, ngấp nghé, thập thò, lập loè, mấp mô hay ăn trong vuông vắn, đỏ đắn, nhỏ nhắn, xinh xắn, thẳng thắn, may mắn … và thậm chí cả nhắn, vắn, xắn… trong các từ này nữa) có nghĩa không, nếu có nghĩa
thì đó là nghĩa gì Hay chính sự tổ hợp giữa "khuôn" với các thành tố (hoặc bộ phận thành tố) trước và sau nó mới là hình thức biểu đạt nghĩa…
Bên cạnh những ý kiến trên còn có những ý kiến tranh luận
về bản chất các đơn vị được gọi là "tiếng" (với vai trò nhất thể ba ngôi, vừa là "âm tiết", vừa là "từ", vừa là "hình vị") trong tiếng Việt (và cũng có thể gặp trong tiếng Tày) Từ những lí do đó, hình vị cũng có nhiều định nghĩa khác nhau:
- "Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có nghĩa, có chức năng làm thành tố trực tiếp tạo nên từ" [11, tr 40]
- "Hình vị cũng là đơn vị có nghĩa, cũng được tái hiện như các từ, nhưng hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân các từ, chúng không tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách rời khỏi từ" [7, tr 13]
- "Hình vị là những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất có thể kết hợp với nhau để tạo các từ" [5, tr 8]
- "Hình vị là đơn vị hình thái học không thể phân chia thành những đơn vị hình thái học nhỏ hơn, nó là yếu tố cấu tạo từ" [2, tr 23]
- "Một yếu tố có nghĩa được xác định là hình vị ch ỉ khi làm thành phần của từ và chỉ trong quan hệ với từ" [21, tr 66]
Trang 17Từ những định nghĩa trên, ta thấy "hình vị" có một số đặc điểm sau:
- Là đơn vị có nghĩa nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung;
- Là đơn vị có kích thước vật chất - âm thanh nhất định, là mặt biểu thị, hình thức;
- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể chia thành các đơn vị có nghĩa nhỏ hơn;
- Là đơn vị có chức năng cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó, chủ yếu để cấu tạo nên từ
Trên thực tế, hình vị trong các ngôn ngữ cụ thể (với tất cả các dạng thức của nó) (kể cả với tiếng Tày), không phải là đơn vị có thể nhận thức dễ dàng Hình vị là kết quả của sự phân tích và tổng hợp của nhà nghiên cứu, nhằm mục đích để hiểu rõ bản chất, chức năng của các đơn vị lớn hơn nó hoặc chính nó trong các mối quan
hệ với các đơn vị cùng loại và khác loại Các đơn vị này thường không hiển nhiên đối với người bản ngữ
Với những đặc điểm nêu trên, thì cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm: "hình vị" và "thành tố cấu tạo từ" Cụ thể là:
- "Hình vị" có thể trực tiếp cấu tạo nên từ (một mình nó hoặc kết hợp với các hình vị khác) hoặc không trực tiếp cấu tạo nên từ,
mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị Thành tố này mới được dùng
để trực tiếp cấu tạo nên từ
- "Thành tố cấu tạo từ" được hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu
tố hợp thành nên từ, có thể trùng hoặc không trùng khớp với hình vị Điều đó, giúp chúng ta giải thích có logic đối với những trường hợp các hình vị kết hợp với nhau, nhưng sản phẩm của sự kết hợp này
Trang 18không thể được đánh giá là từ (không tái hiện được tự do trong lời nói để tạo nên câu), mà chỉ nên xem là thành tố cấu tạo từ
Khi nói tới các đơn vị cơ bản cuả ngữ pháp, người ta nói tới đơn vị được gọi hình vị Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ Là đơn vị có kích thước nhất định, có ý nghĩa nhất định, có cấu trúc nội tại tương đối ổn định, vững chắc, không thể phân tách thành các đơn
vị nhỏ hơn về nghĩa Đơn vị này có chức năng cấu tạo nên các đơn
vị lớn hơn nó, chủ yếu là dùng để cấu tạo nên từ… và có khả năng giải thích được cấu trúc ngữ pháp của đơn vị đó Còn từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự
do trong lời nói để xây dựng nên câu
Từ những cách nhìn nhận về hình vị nói ở trên, ta thấy có thể chấp thuận quan niệm: "Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ" Những đơn vị được coi là hình vị đều thoả mãn hai đặc điểm: có nghĩa và không thể chia thành đơn vị có nghĩa nhỏ hơn
1.1.2 Từ
Như chúng ta đã biết, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng (từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp là ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ) Nó chính là đơn vị dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng, khái niệm… của thực tế, mang trong mình nó các thuộc tính tiêu biểu về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp của một ngôn ngữ Mặc dù vậy, cho đến nay, trong ngôn ngữ học lại có rất nhiều định nghĩa về
từ của các nhà nghiên cứu không giống nhau và cũng chưa có một định nghĩa nào thỏa mãn được các nhà nghiên cứu
Có tình trạng trên là bởi, khi xem xét các từ, các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên các ngôn ngữ có những điểm rất khác nhau về
Trang 19loại hình, về quan hệ cội nguồn… hoặc nhìn nhận dưới những khía cạnh không như nhau, từ các phương diện khác nhau Chính vì vậy
mà trong hơn 6.000 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, từ được hiện thực hóa bằng những hình thái rất đa dạng Đồng thời, có thể thấy cái đơn vị được hiểu là một tổ hợp âm thanh có ý nghĩa, là sự thống nhất giữa hình thức và khái niệm được hàm chứa trong hình thức ấy, là đơn vị tiềm năng để cấu tạo nên câu, là sự kiện tâm lý ngôn ngữ học… ấy, vừa không dễ xác định, vừa thể hiện theo cách này, cách khác Tình trạng phức tạp của việc định nghĩa từ xuất phát
từ chính bản thân từ trong các ngôn ngữ Viện sĩ L.V Sherba đã viết: "Trong thực tế, từ là gì? Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau Do đó không có khái niệm từ nói chung" [Dẫn theo 3, tr 12]
Cho đến nay, ngoài thực tế là việc xác định khái niệm "từ" chưa đi đến được sự nhất trí và có quá nhiều định nghĩa, lại có ý kiến cho rằng trong các ngôn ngữ chúng ta đã biết "không có khái niệm từ nói chung" Ngược lại có ý kiến cho rằng: "từ nói chung d ẫu sao vẫn tồn tại" Do vậy, một số nhà ngôn ngữ học đã tránh, không đưa ra lời định nghĩa chính thức hiển ngôn đối với từ, hoặc họ chỉ đưa ra những lời định nghĩa thích hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu, hay trình bày nội dung của khái niệm "từ" bằng những ngô n từ chung chung, ước định
Mặc dù vậy, trên cơ sở những định nghĩa khác nhau về "từ",
có thể thấy từ có những đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Là đơn vị có kích thước nhất định về vật chất - âm thanh, là mặt biểu thị, mặt hình thức, hay còn gọi là "từ ngữ âm - âm vị học";
- Là đơn vị có ý nghĩa biểu thị các sự vật, hiện tượng… nhất định, là mặt được biểu thị, nội dung;
Trang 20- Là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối vững chắc, ổn định,có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị nhỏ hơn;
- Là đơn vị có chức năng khi hoạt động trong lời nói, là đơn
vị để kiến tạo nên câu…
Để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu, xây dựng đề tài
và khảo sát tư liệu chúng tôi chọn khái niệm về từ của nhóm tác giả
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở
ngôn ngữ học tiếng Việt: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn
ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu" [10, tr 136]
Như vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về mặt ngữ âm và về mặt ngữ nghĩa (dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp) Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa như vậy đã khiến cho từ được sử dụng độc lập để tạo câu Trong định nghĩa vừa nêu, có hai đặc điểm nổi bật của từ cần chú ý:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là
một chiết đoạn âm thanh nhỏ nhất, đồng thời có nghĩa (dùng để gọi tên các sự vật hiện tượng, các thuộc tính, các quan hệ… trong thực tiễn đời sống)
- Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói dùng để tạo
câu: Từ có thể tách biệt khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác,
cụm từ…) và được dùng theo các quy tắc nhất định để tạo nên câu
Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không dùng trực tiếp để đặt câu); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không nhỏ nhất)… Như vậy, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại hiển nhiên sẵn có trong mỗi hệ thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách
Trang 21biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ tri giác (hiện thực về mặt tâm lý)
Ví dụ: từ chỉ công cụ lao động như:roeng, roạng, tủm, xuốc…
Như vậy, từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ
âm và về ngữ nghĩa Đặc điểm trên giúp ta phân biệt từ với các đơn
vị khác: phân biệt với hình vị - yếu tố cấu tạo nên từ; phân biệt từ với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa, nhưng không "nhỏ nhất") – các đơn vị lớn hơn nó
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học thì ngữ là:
Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các
hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ), ngữ còn
được gọi là cụm từ, từ tổ
Trang 22Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở một kiểu quan hệ nào đó giữa chúng Ngữ thường chia ra hai kiểu: Ngữ tự do
và ngữ không tự do (ngữ cố định) Ngữ tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mỗi liên
hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt
và có sức sản sinh (kiểu như đọc sách) Còn trong ngữ không tự do
thì tính độc lập về từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa
của một từ riêng biệt (kiểu như vui tính, bền gan, sân bay, đường
Theo tác giả John Lyons trong Ngữ nghĩa học dẫn luận:
Tồn tại một số lý thuyết triết học khác nhau và ít nhiều ai cũng biết, về nghĩa Đây là lý thuyết đi tìm câu trả lời cho câu hỏi:
Nghĩa là gì? Trong số đó, có thể nêu ra các lý thuyết sau:
- Thuyết quy chiếu hay s ở thị ("nghĩa của một biểu thức
chính là đối tượng mà biểu thức đó chỉ ra (hay biểu thị) hoặc đại diện; tức Fido, còn "chó" thì có nghĩa hoặc là một tập hợp khái quát các con chó, hoặc là cái đặc trưng bản chất chung của chúng");
Trang 23- Thuyết ý niệm hay tâm lý ("nghĩa của một biểu thức là cái ý
niệm, hay quan niệm, gắn bó với nó trong tư duy của những ai biết
và hiểu được nó");
- Thuyết hành vi ("nghĩa của một biểu thức hoặc là cái kích
thích gợi ra nó hay cái phản ứng mà nó gợi ra, hoặc là sự kết hợp của cả hai thứ này trong một tình huống phát ngôn cụ thể");
- Thuyết nghĩa là cách dùng ("nghĩa của một biểu thức được
xác định bởi, nếu không nói là đồng nhất với, cách dùng của nó trong ngôn ngữ");
- Thuyết thẩm định ("nếu một biểu thức có nghĩa thì cái nghĩ
này được xác định bởi chứng cứ lấy từ câu hay mệnh đề chứa biểu thức đó");
- Thuyết điều kiện chân trị ("nghĩa của một biểu thức là sự
đóng góp của nó vào điều kiện chân trị của câu chứa nó") [31, tr 57]
Trên cơ sở những quan niệm trên thì ông cho rằng không một thuyết nào có hội đủ tất cả những yếu tố để thỏa mãn cho câu trả lời: Nghĩa là gì?
Quan tâm về vấn đề này, hiện có không ít định nghĩa về nghĩa, đặc biệt về nghĩa của từ Sở dĩ như vậy là vì khái niệm nghĩa rất trừu tượng (so với từ và các đơn vị ngôn ngữ khác) Về mặt lý thuyết, căn cứ để hiểu nghĩa là: các đơn vị đang xét (từ và hình vị) được sử dụng trong sự quy chiếu về một sự vật hiện tượng nào đó, với yêu cầu người nói, người nghe phải cùng nghĩ về sự vật hiện tượng ấy Nhờ sự quy chiếu như vậy, sự sử dụng các đơn vị này trong
cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó mới không gây nên sự lẫn lộn
Nghĩa các đơn vị đang xét mang tính quy ước là nhờ người nói và người nghe (sử dụng cùng một ngôn ngữ) ước định với nhau:
Trang 24âm thanh này biểu thị sự vật hiện tượng này, âm thanh kia biểu thị
sự vật hiện tượng kia v.v… Như vậy, mặt vật chất và ý nghĩa có liên
hệ mật thiết, quy định ràng buộc và là điều kiện tồn tại của nhau Đồng thời, cũng như các đơn vị ngôn ngữ, nghĩa của các đơn vị này (từ và hình vị) cũng chỉ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ Tách ra khỏi hệ thống, chúng không tồn tại
Từ sự phân tích trên có thể chấp nhận một quan niệm chung: Hiện thực được phản ánh vào nhận thức, tạo nên mối quan hệ liên tưởng thường trực liên tục với một hình thức âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh này được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ Mối liên hệ này được hiểu là nghĩa
Khi nói về nghĩa của từ (và hình vị), người ta phân biệt các
thành phần như: nghĩa biểu vật (là liên hệ giữa "hình thức âm thanh" với sự vật hiện tượng cụ thể mà nó chỉ ra); nghĩa biểu niệm (là liên hệ
giữa "hình thức âm thanh" với ý niệm - cái biểu niệm, bao gồm các thuộc tính của sự vật hiện tượng được phản ánh vào ý thức con người)…
Ngoài ra, người ta còn phân biệt nghĩa cấu trúc - là mối liên hệ giữa các đơn vị khác nhau trong hệ thống; nghĩa ngữ dụng - là mối liên hệ
giữa các đơn vị đang xét với tình cảm, thái độ của người sử dụng
Khi phân tích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ trên, người ta
đề xuất nhiều cách, trong đó cách thường được sử dụng hơn cả là
làm cho các đơn vị này bộc lộ ý nghĩa của mình qua ngữ cảnh Ngữ
cảnh được hiểu là chuỗi các đơn vị ngôn ngữ kết hợp với đơn vị
đang xét hoặc bao xung quanh nó, làm cho nó được cụ thể hóa hơn
và được xác định về nghĩa Ngữ cảnh, có thể là tối thiểu (đơn giản nhất) và tối đa (mở rộng đến mức có thể)
Mặt khác, khi tìm hiểu nghĩa của hình vị, phải xem xét trong quá trình hành chức của nó (tham gia cấu tạo từ và thể hiện ở cơ cấu
Trang 25nghĩa của từ) Đối với từ cũng vậy, không thể tách rời nó khỏi hoạt động ngôn ngữ, trong đó nó có vai trò tái hiện tự do tạo thành câu Như vậy, chỉ trong sự hành chức, nghĩa mới được hiện thực hóa và xác định Hơn thế, trong thực tế hoạt động của ngôn ngữ, nghĩa của đơn vị ngôn ngữ có thể bị giảm thiểu hoặc gia tăng so với các yếu tố cấu thành nó (các nét nghĩa), đồng thời người nói cũng có thể tạo nên hàng loạt các quan hệ về nghĩa khác trong hệ thống ngôn ngữ của mình: đồng âm, đồng nghĩa và trái nghĩa, nghĩa phái sinh
Nghĩa của từ còn được hiểu là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Xét về nghĩa thì từ và hình vị không khác nhau (đều là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa) sự khác nhau ở chúng chỉ là chức phận của chúng Tuy nhiên vì từ là đơn vị trực tiếp cấu thành lời nói và là sự kiện tâm lý ngôn ngữ tương đối hiển nhiên thường trực đối với nguời bản ngũ.Vì vậy trong tài liệu nghiên cứư về ngôn ngữ học, người ta thường chú ý đến ý nghĩa của từ Điều đó lý giải vì sao từ được chú ý hơn so với hình vị
1.2 KHÁI NIỆM TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG
1.2.1 Vị trí của từ chỉ công cụ lao động trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ
Từ vựng là đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ Không có từ vựng thì không thể tạo thành câu để diễn đạt được ý tưởng Từ vựng là một trong ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ Có thể nói toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con người nói riêng
và cả thế giới khách quan nói chung đều được phản ánh trong ngôn ngữ và được lưu lại trong vốn từ vựng của ngôn ngữ Từ đây, có thể nhận ra vốn từ vựng của một ngôn ngữ được phân chia theo thực tại khách quan thành các trường từ vựng ngữ nghĩa hoặc theo cách sử dụng
Trang 26Khi tiến hành nghiên cứu vốn từ vựng của một ngôn ngữ có thể có nhiều cách tiếp cận như: theo phạm vi sử dụng, theo nguồn gốc hoặc theo phong cách… Tùy góc độ nhìn nhận khác nhau mà vị trí của từ chỉ công cụ lao động trong lớp từ vựng trong ngôn ngữ được xác định
Trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ, từ ngữ chỉ công cụ lao động là một bộ phận không thể thiếu, nó chiếm một vị trí đáng kể, cùng với những lớp từ khác, góp phần tạo nên diện mạo của một ngôn ngữ nói chung và tiếng Tày nói riêng
Từ ngữ chỉ công cụ lao động là những từ ngữ chỉ những công
cụ lao động sản xuất của một dân tộc nào đó trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Những từ ngữ này thường được những người trong dân tộc đó biết và sử dụng, còn những người dân tộc khác ít nhiều có thể đã biết những từ ngữ đó nhưng hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ chỉ công cụ lao động của dân tộc Tày có thể coi là từ ngữ địa phương
Các định nghĩa nêu trên về cơ bản giúp cho việc hình dung một cách khái quát về từ ngữ chỉ công cụ lao động Điểm chung nhất mà các định nghĩa này cho thấy, đó là: từ chỉ công cụ lao động
là những đơn vị từ vựng được sử dụng phổ biến trong phạm vi một dân tộc nhất định
Để hiểu được tiếng Tày nói chung và từ ngữ chỉ công cụ lao động nói riêng một cách rõ ràng hơn phải đặt nó trong mối quan hệ với từ ngữ khác trong hệ thống ngôn ngữ F.de.Saussure đã từng nhấn mạnh: "Một yếu tố chỉ có giá trị khi đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống" [39]
Trang 271.3 KHÁI NIỆM ĐỊNH DANH VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH
1.3.1 Khái niệm định danh
Định danh là chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng của đơn vị
cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ Chức năng định danh được coi là một trong các tiêu chí để xác định từ Sự hình thành những đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh nghĩa là dùng để gọi tên sự vật và chia tách những khúc đoạn của thực tại khách quan để tạo nên những khái niệm tương ứng về sự vật, hiện tượng dưới hình thức là các từ,
tổ hợp từ, thành ngữ, câu Thuật ngữ "định danh" có nguồn gốc từ tiếng la tinh có nghĩa là "tên gọi" Thuật ngữ này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên Đó là chức năng của đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ Đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu mô tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về tác động qua lại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh Tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm cơ sở cho sự định danh xuất phát từ mối quan
hệ hiện thực - khái niệm - tên gọi Lý thuyết định danh phải nghiên cứu, mô tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác Hiện thực khách quan được hình dung như là cái biểu vật của tên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ra trong các hành vi định danh ở tất cả các lớp
sự vật do tên gọi đó biểu thị khái niệm, khi lựa chọn những thuộc tính có tính chất phạm trù tham gia như là cái biểu nghĩa của tên gọi Còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn trong nhận thức tương ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó Chính mối tương quan giữa cái biểu nghĩa, cái biểu vật và
xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh
Trang 28Định danh dựa trên nội dung phản ánh đặc điểm về chức năng của công cụ được con người nhận biết
Từ ngữ có thể được định danh theo phương thức hình thức,
có thể được định danh theo phương thức nội dung và cũng có thể được định danh theo sự kết hợp của cả hình thức và nội dung
1.4 KHÁI NIỆM ĐỊNH NGHĨA MIÊU TẢ
Đây là khái niệm do chúng tôi đưa ra dựa trên việc xem xét
tư liệu thu thập được Khái niệm này dựa trên hai vấn đề: Vấn đề định nghĩa và vấn đề miêu tả Từ một thực tế là chúng tôi không bằng lòng với cách hiểu một từ trong tiếng Tày theo cách từ điển
song ngữ, ví dụ: tháy "cái cày", phứa "cái bừa", loỏng "thuyền đập
lúa" Mặt khác đứng trước một từ tiếng Tày, nếu định nghĩa theo hướng từ điển giải thích hoặc từ điển phổ thông, theo chúng tôi vẫn chưa thật đầy đủ Ẩn chứa trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ
là những trầm tích, trong đó có những trầm tích văn hóa Một trong những mục đích của đề tài mà chúng tôi đặt ra là tìm hiểu những đặc trưng văn hóa của người Tày thông qua sự phản ánh của tên gọi lớp
từ chỉ công cụ lao động Với phương châm phải có sự hiểu biết sâu
sắc, kỹ lưỡng theo hướng bách khoa đối với mỗi từ tiếng Tày, chúng
tôi đề xuất khái niệm định nghĩa miêu tả Nội dung của khái niệm
này gồm:
Trang 29- Đối dịch (từ/công cụ) theo hướng từ điển song ngữ
- Đối dịch (từ/công cụ) theo hướng từ điển giải thích hoặc theo hướng từ điển phổ thông
- Đối dịch (từ/công cụ) và trình bày những hiểu biết, những
tư liệu có liên quan (đến từ/công cụ) đã thu thập được về tất cả những khả năng có thể có như nguồn gốc, lịch sử, địa lý, văn hóa theo hướng bách khoa
Chúng tôi cho rằng đối với lớp từ chỉ công cụ lao động của người Tày, mỗi một từ/công cụ cần phải được nhìn nhận, hiểu biết
theo cách nêu trên, tức cần phải được định nghĩa miêu tả để có thể
bộc lộ những trầm tích mà chúng lưu giữ Từ đó người nghiên cứu mới có thể tiến hành những nghiên cứu tiếp theo
Dưới đây là một số ví dụ về từ/công cụ của người Tày được
định nghĩa miêu tả:
- Ví dụ 1:
Phẻn dao (bao dao): công cụ được dùng để đựng, giắt dao và
được buộc vào lưng khi đi làm Phẻn dao được làm bằng một mảnh
gỗ hình thang, đáy trên khoảng 10cm, đáy dưới 7cm, chiều cao 5cm
và được đục ở giữa từ trên xuống, rãnh đục vừa đủ rộng để lọt được
lưỡi dao Hai bên Phẻn dao được dùi lỗ xỏ dây, dùng để buộc vào
thắt lưng khi đi làm
- Ví dụ 2:
Xâng ối (sàng nhử cá): Công cụ dùng để đánh bắt cá nhỏ
ở những nơi mực nước nông như suối, ao Xâng ối được làm
bằng cách buộc úp hai cái sàng gạo vào với nhau, ở điểm giữa của sàng trên để một ô vuông khoảng từ 5-7cm để bỏ thính và
nhử cá vào Thường có hai loại xâng ối:
Trang 30- Loại dùng đánh cá ăn ngược theo dòng nước chảy : Cách
thức đặt sàng như sau: dọn nơi đặt được bằng phẳng, đặt sàng vào
và dùng đá chẹn không cho sàng bị lật Đánh cá suối không dùng nắp hom mà để lỗ vuông từ 5-7 cm và thả thính vào Thính được bọc ở trong một miếng vải mỏng, thưa để cá có thể đánh hơi được
Cá đi ăn thấy thơm và tìm cách chui vào, do ngược dòng nước và mực nước thấp, chảy xiết, miệng lại nhỏ nên khi đã vào thì cá không thể ra được
- Loại dùng đánh cá ở ao hoặc ở sông nơi mực nước
khoảng 1m: Cách thức đặt sàng như sau: dọn nơi đặt được bằng
phẳng, đặt sàng vào và dùng đá đặt trên sàng không cho sàng bị lật Đánh cá ao, sông phải dùng nắp hom và thả thính vào Thính được nắm chặt bằng quả trứng và thả vào trước khi đóng hom, cá đánh hơi và tìm đến chui vào ăn Khi muốn ra đã bị vướng nắp hom nên không thể ra được
- Ví dụ 3:
Loóng (thuyền đập lúa): Công cụ dùng để đập, hứng lúa khi
thu hoạch tại ruộng Loóng được làm bằng cách đục từ thân cây to,
chiều dài khoảng 3m, rộng 50cm – 60cm, cao 70cm – 75cm, hai đầu
đục vát để thuận lợi cho việc đập lúa Mỗi bên thành loóng được cài
1 tấm cót để che cho lúa không văng ra ngoài Tấm cót được cài nhờ các lỗ đục ở hai bên thành, dễ tháo lắp khi di chuyển
1.5 SƠ LƢỢC VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ TIẾNG TÀY
1.5.1 Sơ luợc về dân tộc Tày
Dân tộc Tày là một trong những tộc người có mặt lâu đời nhất ở Việt Nam Vào thế kỷ thứ III-TCN, bộ tộc Âu Việt (Tày - Nùng) đã cùng với bộ lạc Lạc Việt (Việt - Mường) thành lập nên
Trang 31vương quốc Âu Lạc Người đứng đầu bộ lạc này là thủ lĩnh An Dương Vương Thục Phán Trong quá trình dựng nước và giữ nước người Âu Việt và người Lạc Việt có mối quan hệ gần gũi, tiếp thu ảnh hưởng văn hoá của nhau Người Lạc Việt đông hơn phát triển xuống vùng đồng bằng phía Nam, theo hạ lưu các con sông và ven biển Có những bộ phận người Âu Việt đã hoà nhập vào nhóm Lạc Việt để hình thành dân tộc Kinh (Việt) Những bộ phận người Âu Việt còn lại ở miền núi và trung du trở thành người Tày ngày nay Địa bàn của người Tày rất đa dạng Núi cao chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, độ cao từ 500, 600 mét đến 1.200 mét Núi đá xen lẫn núi đất trùng điệp, hiểm trở; rừng rậm với nhiều muông thú, nên người Tày
có tập quán và kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, khai thác các nguồn lợi từ thiên nhiên, làm phong phú thêm kinh tế tự cung, cấp để cải thiện đời sống Là vùng núi cao song các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn
có nhiều sông suối ao hồ Hệ thống sông ngòi đã chia cắt địa hình Việt Bắc thành nhiều dáng vẻ khác nhau cùng với sự xâm thực của nước mưa, của dòng suối lộ thiên và suối ngầm đã tạo ra nhiều hang động lớn; quá trình bồi đắp cộng với kiến tạo địa chất tự nhiên đã tạo ra những thung lũng, cánh đồng như: Hoà An (Cao Bằng), Tràng Định (Lạng Sơn), Định Hoá (Thái Nguyên) Con người sống nơi núi cao rừng thẳm, dựa vào thiên nhiên, chan hoà với thiên nhiên là đặc trưng khá rõ của đồng bào dân tộc Tày Trong cuộc kháng chiến chống Thực dân pháp 6 tỉnh: Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang được chọn làm căn cứ địa cách mạng Ở đó người dân một lòng theo cách mạng Địa thế hiểm trở, thuận đường tiến, tiện đường lui là những điều kiện để quân và dân
ta đã làm nên cuộc kháng chiến "Thần thánh"
Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, đồng bào dân tộc Tày
đã sớm hoà nhập vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam
Trang 32Trong các cuộc kháng chiến chống giặc Tống xâm lược (1075-1077), chống Nguyên Mông (thế kỷ XIII, đến thế kỷ XV) đồng bào dân tộc Tày dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh cùng các dân tộc khác chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tinh thần quật cường của dân tộc Việt nói chung và dân tộc Tày nói riêng
Nêu cao truyền thống cha ông trong dựng, giữ nước ngay từ khi Đảng ta ra đời, đồng bào dân tộc Tày đã một lòng đi theo Đảng,
ra sức xây dựng căn cứ cách mạng góp phần xứng đáng vào cách mạng tháng 8/1945 Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) cũng như công cuộc xây dựng hậu phương ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng bào dân tộc Tày đã đoàn kết đồng tâm, dâng hiến của cải sức lực máu xương cho sự nghiệp cáh mạng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Có thể khẳng định, bản sắc văn hoá của người Tày được tạo nên trong quá trình lao động Từ đó đã hình thành những chuẩn mực
về lối sống, nếp ăn, nếp nghĩ, đặc tính của người Tày Đó là sự mộc mạc, giản dị, trong sáng cùng với khí phách hào hùng với tấm lòng yêu quê hương, đất nước, yêu con người và giàu chất nhân văn
1.5.2 Sơ lƣợc về tiếng Tày
1.5.2.1 Đặc điểm về cội nguồn
Các nhà ngôn ngữ học gần như đa nhất trí về sự phân định cội nguồn đối với các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Ka đai Ngữ hệ này gồm các chi Tai, Hlai-Lê và Ka-đai Chi Tai gồm các nhánh Lạc Kia, Kam Thuỷ (Đồng Thuỷ), Bê, Tày - Thái Ở Việt Nam chỉ có đại diện các nhánh Tày - Thái và Cam Thuỷ
Trang 33Nhánh Tày - Thái ở Việt Nam gồm các nhóm sau:
- Nhóm Tai trung tâm
- Nhóm Tai Tây Nam
- Nhóm Tai Bắc
Tiếng Tày thuộc nhóm Tai trung tâm của nhánh Tày - Thái, Chi Tai, họ Tai-Ka đai Nhóm này gồm các ngôn ngữ: Tày, Nùng, Cao Lan, Thu Lao
1.5.2.2 Đặc điểm về loại hình
Tiếng Tày được xác định thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, với những đặc trưng sau:
- Về ngữ âm: Tiếng Tày là một ngôn ngữ âm tiết tính Trong
tiếng Tày âm tiết có tổ chức chặt chẽ và gồm một số lượng nhất định Các yếu trong một âm tiết kết hợp với nhau theo một quy tắc nhất định và số lượng âm tiết trong ngôn ngữ này là hữu hạn Âm tiết thường là hình thức chính của hình vị và đa số trong các trường hợp là vỏ của từ Trong tiếng Tày cũng có thuật ngữ "tiếng" (âm tiết -
từ - hình vị) như trong tiếng Việt
- Về loại hình: Các ngôn ngữ có đặc tính âm tiết tính thường
được coi là những ngôn ngữ thuộc tiểu loại hình "trung" Các ngôn ngữ âm tiết tính triệt để thuộc tiểu loại hình "trung" như nhiều ngôn ngữ thuộc họ Tai- Kađai, Hmông - Miền, Hán, Tạng của họ Nam Á
là những ngôn ngữ có thanh điệu Tiếng Tày cũng được coi là thuộc tiểu loại hình "trung" này Đây là một ngôn ngữ không thấy có các
tổ hợp phụ âm giữ chức năng âm đầu trong âm tiết; hệ thống phụ âm cuối tương đối nghèo nàn; có thanh điệu; âm tiết tính triệt để
Từ trong tiếng Tày không có hiện tượng biến đổi hình thái Đặc điểm không biến đổi hình thái trong tiếng Tày được thể hiện ở
Trang 34chỗ trong thành phần cấu tạo của từ tiếng Tày không có các yếu tố hình thái chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa và chức năng ngữ pháp của các biến tố Khi hoạt động các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu, từ tiếng Tày vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm của mình
Tiếng Tày là một trong những ngôn ngữ của 54 dân tộc anh
em Việc nghiên cứu tìm hiểu qua việc thống kê những từ ngữ chỉ công cụ lao động sẽ giúp ta làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó việc bảo lưu các yếu tố cổ của tiếng Tày có thể góp thêm phần cứ liệu soi sáng lịch sử tiếng Tày
1.5.2.3 Đặc điểm về chữ viết
Mặc dù là một ngôn ngữ thống nhất nhưng cũng như các ngôn ngữ khác ở Việt Nam, tiếng Tày đang tồn tại nhiều biến thể Các biến thể đó có khi thuộc về ngữ âm, có khi thuộc từ vựng hoặc
cả hai nhưng chủ yếu là thuộc về ngữ âm Tiếng Tày vùng "chuẩn" gồm Hoà An (Cao Bằng), Bạch Thông (Thái Nguyên) Giai đoạn cổ đại người Tày chưa có chữ viết, giai đoạn cận đại người Tày mới có chữ viết nhưng đó mới chỉ là chữ Nôm Sau này người Tày mới có chữ viết dạng La tinh [theo 15, tr 194]
a) Chữ Nôm Tày
Chữ Nôm Tày ra đời vào khoảng thế kỉ thứ XV Có học giả cho rằng chữ Nôm Tày đã xuất hiện thế kỉ II sau Công nguyên (thời Sĩ Nhiếp) Tuy nhiên đây cũng chỉ là giả thuyết, chưa có cơ
sở chắc chắn Qua các văn bản được ghi chép bằng chữ Nôm Tày thì có thể thấy loại chữ này được hoàn chỉnh và được sử dụng rộng rãi vào thời nhà Mạc (trong thời gian nhà Mạc cố thủ tại Cao Bằng non một thế kỉ) Chữ Nôm Tày chưa được dùng phổ biến trong cộng đồng Tày mà chỉ được một số người sử dụng Về cơ bản chữ Nôm Tày đã sử dụng các cách ghi của chữ Hán (chữ ghi ý)
Trang 35với những thay đổi bổ sung nhất định để ghi âm tiếng Tày Chữ viết Nôm Tày thường được dùng để ghi chép các truyện thơ,
chẳng hạn: 5 tập truyện thơ Nôm - in trong Tổng tập truyện thơ
Nôm các dân tộc thiểu số Việt Nam; Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại Chữ Nôm Tày còn được dùng để ghi các bài hát, bài cúng,
gia phả, hiện đang lưu truyền trong nhân dân
Có thể nói, chữ Nôm Tày đã góp phần bảo lưu và gìn giữ một kho tàng tri thức và văn nghệ truyền thống rất quan trọng của người Tày
b) Chữ viết Tày tự dạng La tinh
Chữ viết Tày tự dạng Latinh đã xuất hiện từ thời kì kháng chiến chống Pháp và đã được dùng trong cuộc vận động nhân dân Tày tham gia kháng chiến, giành độc lập Song đến năm 1961, phương án chữ viết Tày mới được nghiên cứu hoàn chỉnh và được Chính phủ phê chuẩn Từ đó, chữ viết Tày được sử dụng và phát triển mạnh vào những năm sáu mươi của thế kỉ XX Phong trào học
và sử dụng tiếng nói, chữ viết Tày phát triển rầm rộ ở Khu tự trị Việt Bắc Đây là thời kì phát triển nhất của tiếng Tày Khi đó, tiếng nói và chữ viết Tày đã được sử dụng rộng rãi trong các văn bản phát thanh, tài liệu tuyên truyền, văn học nghệ thuật… Đã có các tạp chí văn nghệ, báo chí bằng chữ Tày xuất hiện Học sinh phổ thông được học chữ Tày… Sau khi được ban hành, chữ Tày đã phát huy được chức năng của mình trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội Trong giáo dục, tiếng và chữ Tày tự dạng Latinh được giảng dạy từ năm học 1962 – 1963 với hàng ngàn học sinh và hàng trăm lớp học Năm học 1967 – 1968, thời điểm này phong trào học tiếng và chữ Tày lên cao, có tới hơn 1000 lớp học, trên 37.000 học sinh cấp 1 và 25.000 học sinh vỡ lòng
Trang 36Tuy nhiên, đến năm 1969 – 1970 phong trào dạy và học tiếng
và chữ viết Tày giảm dần Việc dạy và học chữ Tày còn được duy trì
ở một số trường của huyện Bạch Thông (Thái Nguyên), Tràng Định của Lạng Sơn Năm 1978, việc dạy tiếng và chữ Tày trong các trường phổ thông chấm dứt
Trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ, tình trạng sử dụng chữ Tày cũng như vậy Thời kì đầu, chữ Tày được dùng trong sáng tác văn học, in ấn trên các báo và ghi các tác phẩm văn học, nghệ thuật của
địa phương như: Tiểng lượn Pác Bó của Cao Bằng, Văn nghệ Lạng
Sơn của Lạng Sơn… Nhưng vào cuối những năm 70, phong trào
lắng dần
Thực tế cho đến nay, chữ Tày tự dạng latinh vẫn được sử dụng để ghi chép hàng ngày và đặc biệt là được dùng trong sáng tác văn học nghệ thuật và dịch thuật Bản dịch "Truyện Kiều" bằng tiếng Tày của dịch giả Thân Văn Lư (xuất bản năm 2006) đã được ghi lại bằng chữ Tày tự dạng Latinh
Trong luận văn này các ví dụ tiếng Tày sẽ được trình bày bằng chữ Tày tự dạng Latinh nói trên
1.5.2.4 Đặc điểm về từ vựng
Xét về nguồn gốc, kho từ vựng tiếng Tày có hai bộ phận cơ bản: bộ phận thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái và bộ phận từ vay mượn Cụ thể:
Bộ phận thứ nhất: từ ngữ thuần Tày
Đây là lớp từ ngữ cơ bản nhất, chiếm vị trí chủ đạo, được
dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng như tha vằn "mặt trời", đin
"đất", hin "đá", phân "mưa", v.v…
Bộ phận thứ hai: từ ngữ vay mượn
Trang 37Từ ngữ vay mượn vào tiếng Tày chủ yếu trực tiếp từ tiếng Hán
Ví dụ: hài xảo "giầy cỏ", cảng chá "mặc cả", tảo lị "đạo lí", v.v…
Từ vay mượn của tiếng Việt, hoặc được vay mượn qua tiếng
Việt Ví dụ: chính phủ, mít tinh, năng suất, sinh vật, đạ "đã", sẹ
"sẽ", hòm "cái hòm", v.v
1.5.2.5 Đặc điểm về tình hình sử dụng ngôn ngữ
Từ lâu, tiếng Việt đã được các dân tộc thiểu số trong nước, trong đó có người Tày sử dụng như một ngôn ngữ chung, là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc Trên thực tế, đến nay, tiếng Việt đã
đi vào mọi mặt đời sống của dân tộc Tày Ở đa số các vùng, năng lực song ngữ Tày - Việt của người Tày khá tốt, đặc biệt lớp trẻ có trình
độ tiếng Việt khá thành thạo Kết quả khảo sát của Ban dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2007 cho biết: ở huyện Lục Bình tỉnh Lạng Sơn, số người Tày sử dụng thành thạo tiếng Việt chiếm 87% (trong đó có 19%
sử dụng tiếng Việt thành thạo hơn tiếng mẹ đẻ) Đó là một thông tin đáng mừng đồng thời cũng rất đáng lo ngại Rõ ràng ở đây có một lời cảnh báo rằng, hiện nay, nhiều thanh thiếu niên Tày không biết
sử dụng tiếng mẹ đẻ Vì vậy, tiếng Tày đang trong tình trạng cần được bảo tổn trước khi có những biện pháp thúc đẩy nó phát triển
Đó cũng là tình trạng chung ở nhiều vùng người Tày hiện nay
TIỂU KẾT
Trong chương 1, luận văn đã trình bày sơ lược một số khái niệm ngôn ngữ học khái niệm từ và hình vị, khái niệm nghĩa, khái niệm cấu tạo từ, khái niệm phương thức định danh Đây là những khái niệm lý thuyết cần thiết để dựa vào đó người viết triển khai nghiên cứu những vấn đề tiếp theo cho mục đích của luận văn
Trong các khái niệm đã trình bày, đáng chú ý là khái niệm định
nghĩa miêu tả Đây là một khái niệm làm việc do chúng tôi đề xuất
Trang 38Nội dung của khái niệm này nhằm trình bày tất cả những hiểu biết, những tư liệu có thể có liên quan đến từ/công cụ như nguồn gốc, lịch sử, địa lý, văn hóa và đương nhiên cả chức năng nữa, theo
hướng bách khoa Đề xuất khái niệm định nghĩa miêu tả, chúng tôi hướng đến hai mục đích: thứ nhất, định nghĩa miêu tả sẽ cung cấp
cho người viết một sự hiểu biết tương đối đầy đủ về những công cụ
lao động của người Tày Và, tự thân định nghĩa miêu tả có thể cũng
đã phản ánh phần nào những vấn đề mà mục đích của luận văn hướng đến như những đặc trưng về ngôn ngữ hoặc những đặc trưng
về văn hóa biểu hiện qua công cụ lao động Thứ hai, định nghĩa
miêu tả sẽ là những tư liệu trực tiếp cho việc biên soạn bách khoa
thư về tên gọi công cụ lao động
Cũng trong chương 1, sự tìm hiểu sơ lược về dân tộc Tày và tiếng Tày với những đặc điểm về chữ viết, về tình trạng song ngữ Tày - Việt đã trang bị cho người Viết những kiến thức về con người
và ngôn ngữ Tày nói chung, từ chỉ công cụ lao động nói riêng trước khi tác giả bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ chính của luận văn
Trang 39Các nhà ngôn ngữ học đại cương đều thừa nhận rằng trong những ngôn ngữ nếu âm tiết là đơn vị hiện diện trong nhận thức của người sử dụng ngôn ngữ đó thì việc xác định ranh giới từ ngữ trở nên hết sức khó khăn Một trong những biểu hiện của việc xác định ranh giới chính là ở chỗ ranh giới giữa từ ghép và ngữ rất khó xác định Vì vậy, trong quá trình xác định các đơn vị từ vựng trong tiếng Tày sẽ có trường hợp không rõ ràng, chồng chéo nhau về ranh giới giữa từ ghép và ngữ Để nhất quán trong việc phân loại từ ngữ xét về mặt cấu tạo và tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ công cụ lao động trong tiếng Tày, chúng tôi lấy ngữ nghĩa làm tiêu chí xác định Đây là cơ sở mà Đỗ Hữu Châu đã vận dụng để phân loại từ và tìm hiểu đặc điểm cấu tạo từ Tiếng Việt trong [5], [7]
Việc nắm được đặc điểm cấu tạo từ ngữ tiếng Tày có vai trò rất quan trọng Nó không những giúp ta hiểu đặc điểm cấu tạo về cú pháp, mà còn giúp ta hiểu được đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ công cụ lao động trong tiếng Tày, để từ đó có cơ sở hiểu được đặc điểm văn hoá của người Tày thông qua ngôn ngữ
Trang 402.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO LỚP TỪ NGỮ CHỈ CÔNG CỤ LAO ĐỘNG TRONG TIẾNG TÀY
Áp dụng tiêu chí nhận diện được trình bày trong phần mở đầu, chúng tôi đã thu thập được một danh sách từ chỉ công cụ lao động trong tiếng Tày gồm 279 từ ngữ và phân thành 4 nhóm với số lượng như sau:
- Nhóm từ ngữ chỉ công cụ lao động: 73
- Nhóm từ ngữ chỉ công cụ trong đời sống sinh hoạt: 146
- Nhóm từ ngữ chỉ công cụ đánh bắt, chiến đấu: 40
- Nhóm từ ngữ chỉ công cụ đồ đựng và những danh từ khác: 21 (xin xem Phụ lục 2)
Trong tiếng Tày có một số từ ngữ chỉ công cụ lao động chỉ có
một thành tố, ví dụ như: lủa (mai), pja (dao), càn (đòn gánh)… Đây
là những từ đơn tiết, không có cấu trúc nội bộ (các quan hệ ngữ pháp trong bản thân các từ) Vì vậy những từ này không được xem xét về cấu tạo trong luận văn
2.1.1 Đặc điểm kiểu loại từ ngữ
Qua thống kê, sắp xếp và phân loại từ ngữ chỉ công cụ lao động sản xuất, chúng tôi thấy từ đơn ít hơn hẳn so với các đơn vị định danh được hình thành do cách ghép Từ đơn chỉ chiếm một
số lượng và tỉ lệ thấp (có 85/279 từ, chiếm 30,4% trong tổng số; từ ngữ ghép (sau đây xin gọi là “đơn vị phức”) chiếm số lượng và tỉ lệ lớn và vượt trội (có 194/279 từ ngữ, chiếm 69,6%) Sau đây là các