1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương môn đường lối cách mạng

37 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 67,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói đúng hơn là những thành phần này được ghép từ ngoài vào xã hội Việt Nam cổ truyền trong điều kiện vẫn bảo tồn ở một mức độ đáng kể những tàn dư của phương thức sản xuất phong kiến,

Trang 1

Đề cương môn đường lối ĐCS VN câu 1-2-3-4-5-9-10-11-12-15-16-17

Hạnh Min làm và sưu tầm chúc các tình yêu thi tốt!

www.taichinh2a.com Câu 1:

Trình bày tác động của việc thực dân Pháp xâm lược thống trị ở Việt Nam tới kinh tế xã hội hồi cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX?

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn độc quyền và nhu cầu về thuộc địa càng trở nên cấp thiết đối với tất cả các nước đế quốc Bằng ưu thế của các nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển sớm, đế quốc Pháp (cũng như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan…) đã nhanh chóngthôn tính nhiều vùng đất làm thuộc địa cho mình

Nhìn lại xã hội Việt Nam trước khi trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, chúng tathấy nổi lên một số đặc điểm chủ yếu như:

Thứ nhất, nền kinh tế tự nhiên (tự cấp, tự túc) chiếm địa vị chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế

Thứ hai, giai cấp thống trị duy nhất lúc đó là vua và địa chủ phong kiến (lực lượng chiếm hữu đại bộ phận ruộng đất trong xã hội) Giai cấp nông dân hầu như không

có ruộng đất (chủ yếu là làm thuê cho địa chủ hoặc lĩnh canh) Ngoài hai giai cấp

cơ bản đó xã hội Việt Nam lúc này đã có sự manh nha của những giai cấp mới như: địa chủ tư sản hoá hoặc nông dân, thợ thủ công mất việc (trở thành bộ phận đầu tiên của giai cấp vô sản)

Thứ ba, quyền lực nhà nước tập trung trong tay vua, quan lại phong kiến và hệ thống bộ máy trấn áp nhân dân Quyền chiếm hữu ruộng đất và bóc lột địa tô hoàn toàn do địa chủ, cường hào trực tiếp nắm giữ

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp thì quan hệ sảnxuất TBCN cũng xâm nhập và dần làm biến đổi xã hội Việt Nam Từ một nước phong kiến nước ta trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến

So với xã hội phong kiến, đặc điểm chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc này là:

1 Quan hệ sản xuất TBCN đã xâm nhập vào, kinh tế hàng hoá và kinh tế tiền tệ

được mở rộng, từng bước đẩy lùi và thu hẹp phạm vi của nền kinh tế tự cấp, tự túc.Một nền kinh tế không hoàn toàn là phong kiến cũng không hoàn toàn là TBCN,

đó là nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến Để bóc lột, vơ vét nguồn lợi từ thuộc địa, Pháp thực hiện một chính sách kinh tế thực dân rất bảo thủ và phản động:

Trang 2

“Duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất TBCN” ( 1 ).

2 Do sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của quan hệ sản xuất TBCN và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp mà nền sản xuất trong nước đã có những biến đổi sâu sắc Một số nghành công nghiệp đã ra đời như khai thác mỏ, giao thông vận tải…Quan hệ ruộng đất cũng không còn giữ nguyên được hiện trạng và hình thức bóc lột đặc thù vốn có của nó

Sự phân hoá rõ rệt và sâu sắc trong xã hội đã tạo nên một cơ cấu giai cấp mới Ngoài giai cấp địa chủ và nông dân, bắt đầu xuất hiện các giai cấp khác là công nhân, tư sản, tiểu tư sản thành thị, thậm chí trong giai cấp nông dân còn phân hoá thành phú nông, trung nông và bần nông

3 Trong thời kỳ phong kiến, bộ máy nhà nước trong xã hội Việt Nam do giai cấp địa chủ độc quyền nắm giữ Sau khi thực dân Pháp xâm lược, quyền lực nhà nước chuyển sang tay bọn tư bản nước ngoài, chúng trực tiếp nắm bộ máy quân sự, hànhchính và tư pháp Mọi quyền hành đều ở trong tay quan lại thống trị từ Toàn quyềnđến Thống sứ, Khâm sứ, Thống đốc, Công sứ …Viên chức thuộc địa là loại người

ăn bám, là gánh nặng trên lưng nhân dân Việt Nam Hãy xem một phép so sánh của Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”: Ở Ấn Độ thuộc Anh, dân số là 325 triệu người, có 4.898 viên chức người Âu Ở Đông

Dương thuộc Pháp, dân số 15 triệu người, có 4.300 viên chức người Âu ” ( 2 ).Với những đặc tính riêng trong bản chất đế quốc của mình, thực dân Pháp đã tạo nên một cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho hệ thống cai trị thuộc địa bao gồm giai cấp địa chủ phong kiến và tầng lớp tư sản mại bản Chúng biến bộ máy cai trị của giai cấp phong kiến thành hệ thống tay sai giúp chúng bóc lột và đàn áp nhân dân

4 Trước đây, ở nước ta phương thức sản xuất phong kiến giữ địa vị thống trị thì lúc này đặc điểm đó không còn có thể duy trì được nữa trước sự mở rộng của kinh

tế hàng hoá, tiền tệ và của ngành giao thông vận tải

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lúc tiếp tục đối phó với hàng loạt cuộc khởi nghĩa và đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp

đã bắt đầu triển khai chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Kết quả là một

số yếu tố của thành phần kinh tế TBCN (như Ngân hàng Đông Dương, các công ty khai thác mỏ, một số đồn điền, hãng buôn, xí nghiệp và mạng lưới giao thông

Trang 3

đường sắt, đường bộ…) đã xuất hiện Nói đúng hơn là những thành phần này được ghép từ ngoài vào xã hội Việt Nam cổ truyền trong điều kiện vẫn bảo tồn ở một mức độ đáng kể những tàn dư của phương thức sản xuất phong kiến, ( thể hiện rõ nhất là sự bảo tồn chế độ ruộng công cùng các thiết chế thượng tầng phù hợp với

- Ngày 18 - 6 - 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xai Bản yêu sách của nhân dân An Nam Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân An Nam

- Bản yêu sách đó đã không được Hội nghi Véc-xai chấp nhận Sự thật đó cho thấy những lời tuyên bố của các nhà chính trị đế quốc về quyền tự do dân chủ và quyền

tự quyết của các dân tộc mà điển hình là chương trình 14 điểm của Tổng thống Mĩ Uyn-xơn chỉ là trò bịp để lừa các dân tộc Vì vậy, muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình

- Giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về

Trang 4

vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-Nin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp, Luận cương của Lê-Nin đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản.

- Ngày 25 - 12 - 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua Người đã đứng về phía đa số đại biểu bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp Nguyễn Ái Quốc trở thành người đảng viên cộng sản Pháp, đồng thời là một trong những người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp

Từ đây, Nguyễn Ái Quốc càng tích cực hoạt động và tiếp tục học tập Nghiên cứu

lí luận về con đường cách mạng thuộc địa để truyền bá vào Việt Nam

- Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của An-giê-ri, Ma-rốc, Tuy-ni-di, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa ở Pa-ri để đoàn kết cáclực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân Cơ quan ngôn luận của Hội là báo Người cùng khổ (1922) do Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Người còn viết nhiều bài cho các báo Nhân đạo (của Đảng Cộng sản Pháp), Đời sống công nhân (của Tổng Liên đoàn lao động Pháp), và đặc biệt là cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp Các sách báo nói trên được bí mật chuyển về Việt Nam đã góp phần thúc đẩy phong trào dân tộc trong nước phát triển mạnh mẽ hơn

- Tháng 6 - 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế Nông dân ( 10 - 1923 ) và được bầu vào Ban chấp hành Hội Người ởlại Liên Xô, vừa nghiên cứu, học tập, viết bài cho báo Sự thật của Đảng Cộng sản Liên Xô, tạp chí Thư tín Quốc tế của Quốc tế Cộng sản Tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V ( 1924 ), Nguyễn Ái Quốc trình bày lập trường quan điểm của mình

về vị trí chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa

- Ngày 11 - 11 - 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) để trực tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội và giai cấp ở Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp đã tạo sẵn điều kiện để Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi

- Khi đến Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây và chọn một số thanh niên hăng hái trong tổ chức Tâm tâm xã, mở các lớp huấn luyện chính trị ngắn hạn để đào tạo họ thành cán bộ cách mạng đưa về nước hoạt động Các bài giảng của Người được tập hợp lại và in

Trang 5

thành cuốn Đường cách mệnh, hàm chứa những vấn đề cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.

- Tháng 6 - 1925, Người sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và lấy Cộngsản đoàn làm nòng cốt Đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Nhờ hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, phong trào cách mạng ở trong nước ngày càng phát triển sôi nổi, khuynh hướng các mạng vô sản dần dần chiếm ưu thế trong phong trào dân tộc Đến năm

1929, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng cơ sở ở khắp ba kì

Những hoạt động của Người từ 1911 đến 1929 có tác dụng quyết định trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và đạo đức cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản Việt Nam

b Thống nhất phong trào cộng sản, sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam:

- Sau một thời gian dài hoạt động có hiệu quả, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên dần dần mất vai trò lịch sử Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trong nước đòi hỏi phải có một đảng cách mạng tiên phong đủ sức lãnh đạo

và đưa phong trào tiếp tục tiến lên Để đáp ứng nhu cầu đó, từ giữa đến cuối năm

1929, ở Việt Nam đã lần lượt xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn

- Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản nói trên đánh dấu sự phát triển vượt bậc của phong trào cách mạng nước ta Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các tổ chức này đã đả kích lẫn nhau, làm giảm uy tín của các tổ chức cộng sản và gây ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào cách mạng đang lên

- Từ 3 - 2 đến 7 - 2 - 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị để hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng (Trung Quốc) Người chủ trì hội nghị và đã phân tích những hoạt động bè phái, chia rẽ của ba tổ chức cộng sản và tác hại của nó Doyêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam và uy tín đức độ của Người nên đã đã thống nhất được các tổ chức cộng sản Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam

Thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đãvạch ra đường lối, phương hướng cơ bản cho cách mạng Việt Nam (đây chính là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam)

=> Hai thập niên đầu thể kỉ XX, với những hoạt động cứu nước, Nguyễn Ái Quốc

đã truyền bá chủ nghĩa Mác-LêNin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng chính trị

Trang 6

và tổ chức cho việc thành lập Đảng Đồng thời, Người đã thành công trong việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Câu 3: Trình bày nội dung cơ bản của chính cương và sách lược vắn tắt được Hội Nghị thành lập ĐCS VN (3/2/1930) thông qua? Cho biết ý nghĩa của

cương lĩnh này?

1 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng như: chánh cươngvắn tắt của Đảng, sách lược vắn tắt của Đảng, chương trình tóm tắt của Đảng,hợp thành cương lĩnh chính trị đầu tien của Đảng cộng sản Việt Nam

Những vấn đề cơ bản của cương lĩnh:

- Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản

- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:

+ Về chính trị: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Namhoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.+ Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (côngnghiệp, vận tải, ngân hàng…) của đế quốc pháp để giao cho chín phủ công nôngbinh quản lý, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm củacông chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang côngnghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ

+ Về văn hoá xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, phổthông giáo dục theo công nông hoá

- Về lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, là gốc;đồng thời phải mở rộng rãi hơn các lực lượng khác đó là: tư sản vừa và nhỏ,trung tiểu địa chủ

- Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng ViệtNam

- Xác định mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thếgiới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới,phải tranh thủ cách mạng thế giới

2 ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

- Sự ra đời của Đảng đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam

đủ sức đảm đương sứ mạng lịch sử của mình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Trang 7

- Định hình ra được quy luật ra đời và phát triển của Đảng cộng sản ở nước ta:Kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêunước dẫn tới sự ra đời cua Đảng.

- Đảng có cương lĩnh chính trị là bước vận dụng sáng tạo học thuyết chủ nghĩaMác-Lênin về cách mạng thuộc địa vạo thực tế Việt Nam Vận dụng và pháttriển sáng tạo lý luận vào thực tiễn

- Về thực tiễn: chấm dứt thời kỳ khủng hoảng và bế tắc về đường lối của phongtrào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam, đã có một cương lĩnh hoànchỉnh, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho cách mạng ViệtNam

Tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, đồng thời cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Câu 4: Trình bày nội dung luận cương chính trị (10/1930) từ đó chỉ ra hạn chế lịch sử của cương lĩnh này?

Sau hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930, cương lĩnh của Đảng đã được bí mật đưa vào quần chúng đẩy phong trào cách mạng lên cao Tháng 4-1930 đồng chí Trần Phú về nước sau quá trình học tập tại trường Quốc tế Phương Đông Tháng 7-

1930 Trần Phú được bầu vào Ban chấp hành Trung ương lâm thời và được giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí soạn thảo Luận cương chuẩn bị cho hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Hội nghị diễn ra từ ngày 14 đến ngày 30-10-

1930 do đồng chí Trần Phú trủ chì Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị của đồng chí Trần Phú Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Đông Dương và bầu Trần Phú làm tổng bí thư

Luận cương bao gồm những nội dung sau:

Nội dung của luận cương lĩnh chính trị tháng 10/1930

Phương hướng chiến lược của CMVN: “Tiến hành tư sản dân quyền CM, saukhi thắng lợi tiến tới phát triển bỏ qua thời kì tư bản mà tranh đấu thẳng lên conđường XHCN”

Nhiệm vụ của CM tư sản dân quyền: Đánh đổ các di tích phong liến, đánh đổmọi cách bóc lột, đánh đổ thực dân Pháp làm Đông Dương hoàn toàn toàn độc lập

“trong đó vấn đề thổ địa là cái cốt lõi của CMTSDQ”

Trang 8

Lực lượng CM: giai cấp CN & giai cấp nông dân là động lực chính của CM,còn các tầng lớp bóc lột theo đế quốc tiểu tư sản thì do dự, tri thức phải hăng háitham gia chống đế quốc lúc đầu chỉ những trí thức thất nghiệp và những phần tửlao khổ đô thị mới theo CM

Phương pháp CM: Đảng phải chuẩn bị cho quần chúng về “con đường võ trangbạo động” và “phải tuân theo khuôn phép nhà binh” đánh đổ chính phủ địch nhân,giành chính quyền

Về quan hệ quốc tế: CMVN là 1 bộ phận của CMTG phải đoàn kết với vô sản

TG trước hết là vô sản Pháp và phong trào CM thuộc địa để tăng cường lực lượngcủa mình

Về Đảng: Phải có 1 Đảng với đường lối chính trị đúng, kỉ luật tập trung liên hệmật thiết với quần chúng lấy chủ nghĩa Mác – Lenin làm gốc thì lãnh đạo mới đạtmục đích cuối cùng là CN cộng sản

* Nhận xét:

Bản luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề mà cương lĩnh đã nêu ra: đường lốicách mạng, lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng Luận cương của Trần Phú có những điểm sáng tạo hơn như đã đề ra phương pháp cách mạng, nguyên tắc Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trang 9

- Đánh giá không đúng vai trò vị trí của các giai cấp tầng lớp khác do đó không lôi kéo được bộ phận có tinh thần yêu nước

Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của Luận cương:

- Do ảnh hưởng tư tưởng tả khuynh của Quốc tế cộng Sản

- Do không nắm được thực tiễn đất nước, không xác định được mâu thuẫn nào là mâu thuẫn chủ yếu dẫn tới không xác định được tầng lớp trung gian cũng là đối tượng của cách mạng

So sánh Luận cương chính trị của Đảng( 10/1930) và Cương lĩnh chính

trị( 2/1930)

So sánh với văn kiện tháng 2/1930

Điểm giống nhau

Về phương hướng: CM tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giaiđoạn TBCN để đi tới xã hội cộng sản

Về nhiệm vụ: chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lậpdân tộc

Về lực lượng: chủ yếu là công nhân và nông dân

Về phương pháp: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả vềchính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc CM là đánh đổ đế quốc vàphong kiến, giành chính quyền về tay công nông

Về vị trí quốc tế: CM Việt Nam là một bộ phận khăng khít với CM thế giới đãthể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình

Lãnh đạo cách mạng: là giai cấp vô sản thông qua Đảng cộng sản, Đảng là độitiên phong

 Sự giống nhau trên là do cả hai văn kiện đều thấm nhuần chủ nghĩa Lênin và cách mạng vô sản chiụ ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga vĩ đạinăm 1917

Mác- Điểm khác nhau

Trang 10

Bạo lực quần chúng + đấu tranh chính trị

+ đấu tranh vũ trang

Võ trang bạo động

Câu 5: Tại sao từ những năm 1936 trở đi Đảng ta có chủ trương điều chỉnh

chiến lược cách mạng? trình bày nội dung cơ bản của việc điều chỉnh này?

+ Chủ nghĩa phát xít ra đời và ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới để chia lại thị

trường thế giới và tiêu diệt Liên Xô thành trì của phong trào cách mạng thế giới

+ Quốc tế cộng sản triệu tập Đại hội lần thứ VII( 7-1935) tại Matxcơva:

Trang 11

++ Vạch ra nhiệm vụ cho cách mạng thế giới là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít,chống chiến tranh, giành dân chủ, hòa bình, bảo vệ Liên Xô.

++ Lập mặt trân nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít

++ Đối với những nước thuộc địa, mặt trận dân tộc thống nhất có tầm quan trọngđặc biệt

+ Ở nhiều nước, mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít lần lượt ra đời

* Nội dung chuyển hướng:

- Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936 họp tại Thượng Hải, Trung Quốc, do

Đ/C Lê hồng Phong chủ trì đã chỉ rõ:

+ Nhiệm vụ chiến lược đánh đổ đế quốc và địa chủ, phong kiến không thay đổi

nhưng nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranhchống bọn phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh đế quốc,đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình

+ Hội nghị quyết định thành lập mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông

Dương,( sau đổi tên thành MTDCĐD) bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các

đoàn thể chính trị và tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ ĐôngDương “để cùng nhau tranh đấu đòi những điều dân chủ đơn sơ”

+ Hội nghị chủ trương thay đổi hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh: chuyển

từ đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu sang hình thức công khai, hợp pháp, nửa côngkhai là chủ yếu

+ Hội nghị đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân

chủ, phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương Trong văn kiện “Chung

quanh vấn đề chiến sách mới” của Đảng ( 10-1936), Đảng chỉ rõ:Công cuộc giải

Trang 12

phóng dân tộc không nhất thiết phải gắn với cuộc cách mạng điền địa Nếu nhiệm vụ chống đế quốc cần kíp hơn thì tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc.

+ Về đoàn kết quốc tế: Phải xây dựng tình đoàn kết với giai cấp công nhân và ĐCS

Pháp, ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp để cùng nhau chống kẻ thù chung là bọnphát xít ở Pháp và bọn phản động thuộc địa

Đảng nhắc nhở không được mơ hồ giữa sách lược phân hóa kẻ thù với chủ nghĩacải lương” Pháp- Việt đề huề”

+ Về công tác xây dựng Đảng: không phải Đảng bỏ cách bí mật mà theo chủ nghĩa

công khai Đảng vẫn củng cố tổ chức và công tác Đảng bí mật hơn xưa

- Chủ trương của hội nghị được bổ sung, phát triển ở các hội nghị TƯ tháng

3-1937, tháng 9-1937 và tháng 3-1938

- Tác phẩm “ Tự chỉ trích” của Tổng bí thư Nguyễn văn Cừ xuất bản năm 1939

đã tổng kết sự lãnh đạo của Đảng, rút kinh nghiệm vấn đề tập hợp lực lượng cáchmạng

* Nhận xét:

Hội nghị TW tháng 7-1936 đánh dấu nhận thức đúng đắn của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc, giai cấp, hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Tuy nhiên, nhận thức đúng đắn đó chưa được kiểm nghiệm trong thực tiễn

2 Chủ trương chiến lược mới của Đảng 1939-1945

* Nguyên nhân:

- Tình hình thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ

+ Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc suy yếu

Trang 13

+ Phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng

+Cách mạng nhiều nước sẽ thành công

- Tình hình trong nước:

+ Chiến tranh đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta

++ Chính phủ phản động Pháp đàn áp các lực lượng tiến bộ ở trong nước và cácthuộc địa

++ Ở Đông Dương, chính phủ phản động Pháp điên cuồng tiến công vào ĐCSĐD

và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tùđày

++ Một số quyền tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu.Hàng vạn thanh niên bị bắt sang Pháp làm bia đỡ đạn cho chúng

++ Tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương, từ đó nhân dân ta bị một cổ hai tròng.++ Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với phát xít Pháp, Nhật ngày càng gay gắt

 ND Chủ trương chiến lược mới của Đảng.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939, 11-1940, 5-1941 đã đề ra, bổ sung vàhoàn chỉnh chủ trương mới về vấn đề giải phóng dân tộc với một số nội dung cơbản sau:

- Phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu Nhiệm vụchống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra, thực hiện từng bước

có kế hoạch, phục tùng và phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc

- Phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của bộ phận, của giai cấp.Trong điều kiện lịch sử mới,nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng,

Trang 14

không giành được độc lập ,tự do thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạnnăm cũng không đòi lại được.

- Vấn đề dân tộc phải được giải quyết riêng trong phạm vi từng nước dựa trênnguyên tắc dân tộc tự quyết

- Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm ấy, phải tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc

và bè lũ tay sai vào mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi

- Về khởi nghĩa vũ trang: Hội nghị TW tháng 5-1941 quyết định phải xúc tiếnchuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàndân trong giai đoạn cách mạng hiện tại

Câu 9: phân tích làm rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng về CNH – HĐH từ Đại Hội VI(1986) đến Đại Hội X(2006)

a Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) phê phán sai lầm trong nhận thức

và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960 - 1985

Trang 15

Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đại hội VI của Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức

và chủ trương công nghiệp hóa Đó là:

- Sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất

- kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, v.v Muốn xóa bỏ những bước đi cần thiết nên đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

- Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư: thiên về công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết các vấn đề căn bản về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp

- Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội V: chưa thật sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

b Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X

- Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thời kỳ quá

độ là thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

- Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1/1994) có bước đột phá mới, trước hết ở nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiệnđại hóa "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học - công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao"

- Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá

độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội nêu sáu quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm còn lạicủa thế kỷ XX Sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là:

Trang 16

+ Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính,

đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế

mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả + Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo

+ Lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững; động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng cường tích lũy cho đầu tư và phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường

+ Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kếthợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định

+ Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương ánphát triển; lựa chọn dự án đầu tư công nghệ; đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có; trong phát triển mới, ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo việc làm, thu hồi vốn nhanh,

+ Kết hợp kinh tế với quốc phòng

- Đại hội IX (tháng 4/2001) và Đại hội X (tháng 4/2006) của Đảng tiếp tục

bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về công nghiệp hóa:

+ Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Cần thực hiện các yêu cầu sau: phát triển kinh tế và công nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triểnkinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học

và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghệp hóa

+ Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh

Trang 17

tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

+ Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Câu 10: Pt mục tiêu quan điểm của ĐCS VN về CNH-HĐH thời kỳ đổi mới? theo anh chị cần phải có trách nhiệm j` đối với sự nghiệp đổi mới CNH-HĐH đất nước?

Mục tiêu:

Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt hơn dân chủXHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân

là phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN, của sự CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước

cả dân tộc”

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với hệ thống chính trị Nghị quyết trung ương 5 khoá X về “Tiếp tục

Trang 18

đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”

đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý củaNhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải trên cở sở kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong

xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là của những người đứng đầu

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị

ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính thực tế, khả thi của các quy định trong vănbản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện có kiểm tra, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền

Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội

Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại

Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người

Nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiêm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp

Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội trong hệ thống chính trị

Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị

- xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội

Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức CT- XH, khaéc phục tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng

Ngày đăng: 13/09/2014, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w