ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HƯỜNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
Chuyên ngành: Dân tộc học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
Hà Nội - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Dẫn luận 3
1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề .6
3 Vấn đề và địa bàn nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Bố cục luận văn 15
Chương I Tài nguyên du lịch ở vùng núi phía Bắc Việt Nam và loại hình du lịch cộng đồng 16
1.1 Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch của vùng núi Tây Bắc .16
1.2 Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch cộng đồng 24
1.3 Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng (Lào Cai) 43
Chương II Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương 54
2.1 Dịch vụ du lịch tại cộng đồng 54
2.1.1 Dịch vụ nhà nghỉ và loại hình du lịch tại gia (homestay) 54
2.1.2 Sản xuất và tiêu thụ sản vật địa phương 58
2.1.3 Dịch vụ ẩm thực trong du lịch cộng đồng .67
2.1.4 Quảng bá, môi giới và hướng dẫn viên du lịch 69
2.2 Tác động kinh tế 72
2.2.1 Du lịch cộng đồng và kinh tế hộ gia đình 72
2.2.2 Du lịch cộng đồng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế địa phương 77
2.2.3 Du lịch cộng đồng và quá trình đô thị hoá ở miền núi 81
2.3 Tác động lên môi trường sinh thái 86
2.3.1 Nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương 86
2.3.2 Nguy cơ rác thải và ô nhiễm môi trường 88
Trang 4Chương III Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa
phương 90
3.1 Văn hoá tộc người trong du lịch cộng đồng 90
3.1.1 Lễ hội cổ truyền và du lịch 90
3.1.2 Lối sống của tộc người và du lịch 92
3.1.3 Văn nghệ địa phương và du lịch 94
3.2 Tác động của du lịch lên đời sống văn hoá - xã hội địa phương 96
3.2.1 Bản sắc văn hoá tộc người 96
3.2.2 Tình hình an ninh, chính trị 119
3.2.3 Quá trình thương mại hoá văn hoá 121
3.3 Sex và nghiện hút trong du lịch cộng đồng và tác động của nó 125
3.3.1 Dịch vụ sextour trong du lịch ở cộng đồng 125
3.3.2 Quan niệm và hành vi văn hoá tình dục ở địa phương 128
3.3.3 Du lịch và tình trạng nghiện hút ở địa phương 130
3.3.4 Người dân địa phương trước các tệ nạn xã hội du nhập vào cộng đồng qua hoạt động du lịch 135
Kết luận 137 Tài liệu tham khảo
Phụ lục ảnh
Trang 5sự hưởng lợi từ hoạt động du lịch của người dân địa phương không được là bao
Trước đây mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mảng đề tài này Có thể khái quát thành bốn nhóm chính:
- Các công trình nghiên cứu sâu về các khái niệm và lý luận về loại hình du lịch cộng đồng;
- Các nguồn tài liệu quảng bá du lịch cộng đồng thông qua lăng kính của truyền thông đại chúng và quảng cáo du lịch;
- Các nghiên cứu định hướng chính sách phát triển du lịch bền vững;
- Các nghiên cứu học thuật về mối liên hệ giữa văn hóa tộc người địa phương
và du lịch cộng đồng
Tuy nhiên, khuynh hướng chủ đạo của các công trình đã có là hướng đến đề xuất chính sách phát triển du lịch bền vững hoặc xem xét lịch sử hình thành và phát triển văn hóa vùng núi trong một viễn cảnh lịch sử và ở tầm vĩ mô Có thể nhận thấy hai khiếm khuyết phổ biến của các nghiên cứu đã có là:
Trang 6- Nặng về thiên kiến chủ quan của người nghiên cứu trong khi tiếng nói của chủ thể du lịch cộng đồng là người dân địa phương lại ít được quan tâm xem xét;
- Còn thiếu các nghiên cứu sâu ở từng trường hợp cụ thể và đặc biệt là những phân tích tác động kinh tế - xã hội của loại hình du lịch cộng đồng còn thiên về lý thuyết hơn là được phát triển từ những tư liệu thực địa được thu thập một cách có hệ thống
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam” trên cơ sở tập trung nghiên cứu sâu hai mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác
và Sả Séng để mang lại một cái nhìn cận cảnh về tình hình du lịch cộng đồng và tác động của nó qua con mắt của người dân địa phương
Trên cơ sở đó, Luận văn tập trung giải quyết 4 vấn đề cốt lõi:
1 Nhận diện, phân tích hiện trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
2 Phân tích các hoạt động du lịch tại cộng đồng và sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch
3 Phân tích, so sánh các tác động của hoạt động du lịch cộng đồng lên hoạt động kinh tế, môi trường, văn hoá, xã hội tại địa bàn nghiên cứu Đặc biệt quan tâm đến vấn đề lợi ích của người dân địa phương trong quá trình tham gia hoạt động du lịch và đánh giá hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng
4 Tìm hiểu phản ứng của người dân địa phương và sự thích ứng trước trào lưu du lịch cộng đồng Mối quan hệ lưỡng nan giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hoá địa phương được coi là một vấn đề mở trong nghiên cứu này để cùng phân tích
và bình luận
Địa bàn được chọn nghiên cứu trường hợp là hai bản Sả Séng, Lào Cai và bản Lác, Hoà Bình Đây là hai trong những điểm du lịch khá nổi tiếng, vốn hoạt động khá hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc hiện nay
Các phương pháp mà tác giả sử dụng trong quá trình triển khai và hoàn thành luận văn gồm: điền dã dân tộc học, phiếu hỏi, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm Đặc biệt, Luận văn chú trọng đưa tiếng nói của người dân, chủ thể văn hoá trong quá trình phân tích, lý giải nội dung của đề tài nhằm bổ khuyết và làm tăng tính thuyết phục của tư liệu thu thập được tại địa bàn nghiên cứu
Trang 7Ngoài chương mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thư mục, phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 2: Tài nguyên du lịch của vùng núi phía Bắc Việt Nam và sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở bản Lác, Hoà Bình và Sả Séng, Lào Cai
Chương 3: Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương Chương 4: Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa phương
Chương 1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM VÀ
SỰ HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở SẢ SÉNG (TẢ PHÌN, SAPA,
LÀO CAI) VÀ BẢN LÁC (CHIÈNG CHÂU, MAI CHÂU, HOÀ BÌNH)
1.1 Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch
của vùng núi Tây Bắc
Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình
Vị trí địa lý,
địa hình
- Lào Cai cách Thủ đô Hà Nội 338km, có cửa khẩu thông thương với Trung Quốc Sapa là một trong những điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn của Lào Cai với nhiều điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn, giàu bản sắc, trong đó có tuyến du lịch làng bản Tả Phìn
- Hoà Bình tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về phía Tây Bắc Có cửa ngõ thông sang thượng Lào Mai Châu
là một trong những vẻ đẹp chính của Hoà Bình với điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng, có lịch sử phát triển khá lâu đời đó là bản Lác, bản Pom Coọng…
Trang 8Cảnh quan
sinh thái
- Các bản làng du lịch nằm rải rác
ở thung lũng Với tầng tầng lớp lớp những ruộng bậc thang ôm lấy thân núi và nhiều dòng thác bạc bọt tung trắng xoá
- Các bản làng du lịch nằm ở thung lũng với những vạt nương định canh, những cánh đồng lúa nước hai vụ cho năng suất cao nhờ kỹ thuật điều khiển nguồn nước suối nơi chân núi làm nên một phong cảnh hữu tình của non nước
Khí hậu - Khí hậu ôn đới với sự hội tụ của 4
mùa trong ngày Đặc biệt, vào những ngày đông lạnh giá, du khách còn được ngắm cảnh tuyết rơi
- Chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa tây bắc, chia thành hai mùa: mùa mưa và mùa khô, biên độ trong ngày cao, có ngày rét, sương muối hoặc mưa phùn giá rét
Hệ động, thực
vật
- Hệ động thực vật phong phú, đa dạng Nhiều rừng tái sinh có độ tuổi từ 60-70 tuổi, là nơi sinh sống của nhiều loại động, thực vật quý như: cây gỗ Zổi, Xoan Trà, Trâm;Báo, Gà Lôi, Rắn Hổ Mang Chúa, đặc biệt, trong rừng có nhiều thảo quả và nhiều loại cây thuốc có giá trị
Hệ sinh thái rừng đã hầu như cạn kiệt, trở thành những cánh rừng trồng và những vạt nương định canh đem đến cho du khách thấy một nét đẹp khác của tự nhiên đã bị chinh phục và phá vỡ ở nơi đây Đây chính là nguồn cung ứng thực phẩm dồi dào cho du khách lưu lại nơi này trong đó cá suối là một sản vật địa phương không thể thiếu trong mỗi bữa ăn đãi khách
Như vậy, xét về điều kiện tự nhiên, bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu dường như không thật phong phú, hấp dẫn như ở Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, nhưng trên thực tế, du lịch ở bản Lác lại phát triển không thua kém gì Sả Séng, phải chăng, sức hút du lịch của bản Lác lại chính là nguồn tài nguyên văn hoá nhân văn rất phong phú và đa dạng mà người Thái vẫn lưu giữ được gần như nguyên vẹn
Trang 91 2 Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của
du lịch cộng đồng
Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu,
Hoà Bình Lịch sử
định cư
Sả Séng là nơi tụ cư của người Dao
đỏ, có nguồn gốc từ vùng Vân Nam,
Trung Quốc, di cư vào Việt Nam từ
thế kỷ 18 (Bế Viết Đẳng, 2006, tr
160)
Bản Lác là nơi tụ cư của người Thái trắng, có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Trung Quốc, di cư vào Việt Nam
từ thế kỷ XI-XII và họ là một trong những cư dân cổ của nền văn minh Âu Lạc, là một trong những chủ nhân khai phá nền văn minh, văn hiến Đại Việt
Đời sống
văn hoá
Nhà có tường đất, dựng ở sườn núi
Trang phục có gam màu nóng nổi trội,
màu đỏ kết hợp màu vàng, màu trắng
nổi bật lên màu chàm, sử dụng kỹ
thuật thêu và ghép vải màu để tạo nên
trang phục
Người Dao ăn gạo tẻ, uống rượu ngô,
rượu thóc là chính Người Dao ít quan
tâm đến kỹ thuật, chất lượng món ăn
Nhà sàn, dựng ven thung lũng Trang phục của phụ nữ Thái trắng gồm áo sửa cỏm và váy đen bó sát người cùng với chiếc khăn piêu tạo nên vẻ thanh nhã, duyên dáng của người phụ nữ Thái Sử dụng kỹ thuật dệt vải tạo trang phục
Người Thái ăn gạo nếp, uống rượu cần là chính Người Thái có nhiều kỹ thuật chế biến món ăn rất độc đáo, hấp dẫn, đảm bảo dinh dưỡng
Văn hoá
ứng xử
Xã hội phụ quyền, đề cao vai trò
người đàn ông trong gia đình và ngoài
xã hội
Hôn nhân do cha mẹ áp đặt
Xã hội phụ quyền, đề cao vai trò người đàn ông trong gia đình và ngoài
xã hội Hôn nhân do trai gái tự nguyện
Trang 10Hội Chá chiêng, hội xên bản xên mường, tết cơm mới… là những sinh hoạt cộng đồng nổi bật của người Thái trắng…
1.3 Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng (Lào Cai)
Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình
triển du lịch lâu đời song du lịch cộng
dồng mới thực sự được xây dựng và
phát triển từ năm 2005
DLCĐ ở bản Lác bắt đầu manh nha từ năm 1964 nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, người đặt nền móng đầu tiên là ông Hà Công Nhấm, một cán bộ xã khi đó
tổ chức phi chính phủ thì gần như không có Sự phát triển DLCĐ ở bản Lác chủ yếu từ vốn tự đầu tư và sự năng động của người dân địa phương Qua những nghiên cứu, đánh giá trên, ta có thể rút ra một vài nhận xét so sánh về tình hình, hiện trạng phát triển du lịch tại Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình như sau:
1- Về chính sách phát triển du lịch, cả Lào Cai và Hoà Bình đều được xác định là một trong những điểm du lịch lớn của đất nước, có nhiều tiềm năng để khai thác, phát triển
Trang 11loại hình du lịch sinh thái văn hoá hay du lịch cộng đồng Sả Séng, Tả Phìn, Sapa và bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu là một trong những điểm du lịch làng bản, du lịch cộng đồng nổi tiếng của hai tỉnh, có nền tảng phát triển du lịch khá lâu đời Song xét về mức độ quan tâm đầu tư cho phát triển du lịch thì Tả Phìn, Sapa, Lào Cai có nhiều chính sách ưu tiên và quan tâm tới phát triển du lịch sớm hơn, toàn diện hơn Mai Châu, Hoà Bình Các cấp chính quyền ở Mai Châu, Hoà Bình dường như thụ động, không tham gia tích cực vào hoạt động
du lịch của bản Ở Tả Phìn, Sapa, chính quyền địa phương rất năng động và giữ vi trí thiết yếu trong sự phát triển du lịch của cộng đồng Thành viên Hội chữ thập đỏ và Trung tâm Thông tin du lịch Sapa đóng vai trò chính trong việc hỗ trợ bản
2- Về nguồn lực đầu tư cho hoạt động du lịch: bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai đón nhận được nhiều chính sách ưu tiên cũng như nhiều nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước cho hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng Các tổ chức phi chính phủ SNV, SIDA đã giúp đỡ một cách tích cực trong sự phát triển du lịch cộng đồng tại bản thông qua việc đào tạo và nâng cao nhận thức, tổ chức cộng đồng, phát triển cơ cấu và sản phẩm du lịch cũng như khâu tiếp cận thị trường Ngược lại, ở bản Lác, dường như không có một tổ chức phi chính phủ hay một cơ sở đào tạo năng lực nào tại địa phương tham gia vào hoạt động du lịch của bản Lác Có tình trạng trên một phần là do Sả Séng, Tả Phìn được hưởng những lợi thế nằm trong vùng ảnh hưởng của trung tâm du lịch Sapa, trong khi đó, du lịch Mai Châu lại rất mờ nhạt và không có nhiều tác động đến các vùng phụ cận của vùng Nếu
sự hình thành và phát triển của du lịch cộng đồng Sả Séng, Tả Phìn là hệ quả của những tác động từ trung tâm du lịch Sapa thì ngược lại, du lịch cộng đồng ở bản Lác lại hình thành và phát triển mang tính chất tự phát từ chính bản thân nó, do cộng đồng địa phương tự đứng lên vay vốn đầu tư làm du lịch, không trông chờ, ỉ lại vào các nguồn đầu tư của nhà nước, địa phương và các tổ chức phi chính phủ Phải chăng, nhờ vậy nên du lịch cộng đồng ở bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu có nội lực phát triển bền vững hơn, có khả năng chủ động kiểm soát được tác động của du lịch hơn bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa Để làm rõ điều này, chúng ta sẽ cùng phân tích quá trình tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch và đánh giá tác động của du lịch lên đời sống kinh tê - văn hoá - môi trường cộng đồng
Tiểu kết
Du lịch cộng đồng, với tư cách là một loại hình du lịch ăn khách hiện nay, thực ra chỉ mới được phát triển từ những thập niên giữa thế kỷ hai mươi ở khu vực Âu Mỹ Khái niệm
Trang 12này dần được truyền bá ra thế giới và ở Việt Nam, du lịch cộng đồng giờ đây được thwcaf nhận là một loại hình có nhiều triển vọng, đã được phát triển khá rộng, không chỉ ở vùng núi, vùng biển mà cả ở vùng đồng bằng miệt vườn Nam bộ
Tài nguyên của du lịch cộng đồng chủ yếu bao gồm hai dạng chính là tài nguyên sinh thái tự nhiên địa phương và bản sắc đa dạng của văn hóa các tộc người bản địa
Vùng núi Tây Bắc Việt Nam được xem là địa bàn giàu có về cả hai loại hình tài nguyên
du lịch nói trên Chính sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của loại hình du lịch sinh thái tại khu vực này Bản Lác của người Thái Mai Châu và bản Sả Séng của người Dao Đỏ Sapa có thể được xem là những mô hình du lịch dựa vào cộng đồng được phát triển tương đối sớm ở Việt Nam và vẫn đang là những điểm đến của du khách trong và ngoài nước Chính sự tương tác giữa con người với hệ sinh thái đã tạo nên cảnh quan du lịch và nét đặc sắc của văn hóa tộc người do đó đã trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt trong hoạt động du lịch cộng đồng
Chương 2
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ TÁC ĐỘNG KINH TẾ - MÔI TRƯỜNG
Ở ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Dịch vụ du lịch tại cộng đồng
Dịch vụ Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,
Mai Châu, Hoà Bình Nhà nghỉ tại gia 06/99 hộ dân làm nghỉ nghỉ tại gia
(chiếm 06%) Công năng nhà nghỉ:
10-15 khách/nhà Giá dịch vụ trung bình: 40.000 đồng/người/đêm Gia đình không phải đóng thuế do khách
về bản đã phải đóng phí tham quan 20.000/đoàn khách do UBND xã thu
Doanh thu trung bình: 1,5-2 triệu đồng/gia đình/năm
24/110 hộ gia đình làm nghỉ tại gia (chiếm 21,8%) Công năng nhà nghỉ: 20-25 khách/nhà Giá dịch vụ
đồng/người/đêm Gia đình phải đóng thuế cho chính quyền xã với mức phí 5000 đồng/người Doanh thu trung bình: 10-15 triệu đồng/gia đình/năm