Nghiên cứu về cấu trúc Nghiên cứu cấu trúc hình thái: Được tiến hành bằng cách lập các ô tiêu chuẩn, những ô tiêu chuẩn này được đặt trong đồng cỏ Quần hợp cỏ xuông + cỏ lông trên các
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-[ \ -
HOÀNG CHUNG
ĐỒNG CỎ VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
ĐỀ TÀI TỪ NĂM 2000 ĐƯỢC SỰ HỖ TRỢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CƠ BẢN - NGÀNH KHOA HỌC SỰ SỐNG
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI 2004
Trang 2Đề tài có sự tham gia của
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đồng cỏ là một cơ sở chủ yếu của ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hoá năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người Con người đã từ lâu biết khai thác đồng cỏ, nhưng lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên Nhu cầu phát triển chăn nuôi ngày một lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được, do đó đòi hỏi loài người phải đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ những đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến các phương thúc cải tạo, sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm tối đa trên đơn vị diện tích đồng cỏ trồng cũng như tự nhiên
Sự hiểu biết của loài người về đồng cỏ được tích luỹ nhiều hơn cả là từ các loại hình đồng cỏ, thảo nguyên vùng ôn đới Còn các loại hình đồng cỏ và Savan vùng nhiệt đới được nghiên cứu còn quá ít
Ở Việt Nam đồng cỏ phân bố rải rác ở khắp nơi, nhưng tập trung nhất vẫn là trên
các đồi núi và các cao nguyên của trung du và miền núi (Chiếm tới 10 triệu ha) Đồng
cỏ vùng núi Bắc Việt Nam là loại hình thứ sinh, tuỳ theo mức độ bị tác động hàng ngày của con người và gia súc mà nó biểu hiện ra ở các trạng thái khác nhau Để có cơ
sở cho việc xác lập các phương án sử dụng hợp lý loại hình đồng cỏ này cùng các dạng thoái hoá của nó, chúng ta không thể không tiến hành điều tra toàn diện các mặt sinh thái, sinh vật học của từng loại hình cụ thể đó Những tư liệu tương tự như vậy đối với loại hình đồng cỏ Việt Nam hãy còn rất ít, nó mới đề cập đến từ những năm 1950 trở lại đây và phần lớn là những nghiên cứu tản mạn của từng vùng Dương Hữu Thời
1963, 1965, 1974a, 1974b, 1974c, 1981, Võ Văn Chi, Nguyễn Đình Ngối, 1964, Dương Hữu Thời, Nguyễn Đình Ngối, 1965 Dương Hữu Thời và các tác giả 1965, Trần
Nhơn, 1985 Đặc biệt Dương Hữu Thời 1981 có công bố Công trình "Đồng cỏ Bắc Việt Nam" Trong đó đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ bắc Việt Nam Ngoài ra
còn nhiều công trình nghiên cứu về thành phần cây thức ăn gia súc ở vùng nhiệt đới:
Lê Sinh Tặng, Nguyễn Chính 1959; Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tặng, 1964; Lê Sinh Tặng, 1969; Trịnh Văn Thịnh và các tác giả, 1974; Điền Văn Hưng, 1975; Nguyễn Đăng Khôi, 1978, 1979, 1981; Võ Duy Giảng, 1983; Dương Thành Liên, 1981; Bùi
Xuân An và Ngô Vãn Mâu, 1981 Một số tác giả có đề cập vấn đề cải tạo đồng cỏ tự
nhiên, sử dụng hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập nội một số loài mới, phân tích thành phần dinh dưỡng của một số loài cỏ ở Việt Nam Đoàn Ẩu, Võ Văn Tự, 1976;
Hoàng Kim Nhuệ, 1979; Võ Vãn Tự, 1983
Từ 1975 chúng tôi đã xây dựng một chương trình nghiên cứu đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam Đã thành lập trạm nghiên cứu định vị ở Ngân Sơn Bắc Kim Đồng cỏ thuộc vành đai á nhiệt đới tầm thấp, đặc trưng cho loại hình đồng cỏ vùng núi Bắc Việt
Trang 4Ngoài ra chúng tôi còn mở rộng nghiên cứu ra toàn miền bắc, nghiên cứu một số yếu tố sinh thái, phân loại loại hình và phân bố của nó, thành phần loài, dạng sống, cấu trúc, năng suất, động thái tự nhiên cũng như trong quá trình sử dụng, nghiên cứu kéo dài đến năm 1985 Từ những năm 1990 trở lại đây chúng tôi nghiên cứu các mô hình rừng trồng cây ăn quả cây công nghiệp trên một số vùng đồng cỏ của Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh Nghiên cứu tiếp những đặc điểm sinh thái, sinh vật học của loại hình đồng cỏ và thảm cây bụi của một số tỉnh miền núi, nghiên cứu một số mô hình chăn nuôi đại gia súc của gia đình, tập thể và của công ty
Tác giả
HOÀNG CHUNG
Trang 5Chương một ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 1.1 NHỮNG YẾU TỐ ĐỊA LÝ, ĐỊA HÌNH
Bắc Việt Nam về mặt địa hình có thể chia thành 3 vùng - vùng núi, trung du và đông bằng Đặc trưng cho cả 3 vùng là sự giảm dần độ cao từ tây bắc xuống đông nam
và có những dẫy núi chạy dọc theo hướng này Vùng núi và trung du chiếm 3/4 diện tích bắc Việt Nam, được phân cách rõ rệt với đồng bằng, có địa hình phức tạp, hiểm trở do bị phân cắt nhiều bởi các sống núi, đồi và thung lũng Vùng núi và trung du phân biệt rõ ràng song có sự chuyển tiếp dần
Trong vùng núi, đỉnh cao nhất là Phan - Xi - Păng - 3.148m, tiếp theo là Pú - Lường - 2.893m Còn lại thì cao trung bình từ 500-l.500m
Vùng núi Bắc Việt Nam được phân thành hai tiểu vùng là Đông Bắc và Tây Bắc Dãy núi Hoàng Liên Sơn được coi là ranh giới của hai tiêu vùng này
Vùng Đông Bắc nói chung núi thấp hơn Tây Bắc, cao nhất là dẫy Tây Côn Lĩnh - 2.431m, đồng thời độ dốc của các sườn cũng kém hơn, thung lũng các sông, suối rộng hơn Những dẫy núi cao của vùng Đông Bắc chạy theo nhiều hướng khác nhau, nhưng hướng chính vẫn là Tây Bắc - Đông Nam
Nhóm thứ 1.: Được tạo thành do những dẫy núi thuộc loại diệp- thạch, sa - thạch,
đá sét; núi thấp hơn, có những vực sâu, ở trong thung lũng các sông địa hình khá đồng nhất Bao gồm dẫy con voi và các dẫy núi phân chia sông Lô, sông Chảy Về địa chất
nó được hình thành vào thời kỳ Cổ sinh hạ, có độ cao lớn và bị phân cắt nhiều hơn các vùng núi thấp của lưu vực các sông Lục Ngạn, Kỳ Cùng và Bắc Giang
Trong vùng có khu vực Hà Giang gần với biên giới Trung Quốc, một số vùng gần biên giới cao 700 - 900m hay 1.000 - 1.200m như cao nguyên Bắc Hà, Sima Kai, Mường Khương, Quản Bạ, Đồng Văn vùng này được cấu thành bởi đá gà nai, diệp thạch, granít trong thời kỳ Cổ sinh đại, ở đây thường có hang động, nước chảy ngầm
Nhóm thứ 2.: Những dãy núi được tạo thành từ những núi đá vôi, đặc trưng bởi
sự phân cắt liên tục của những vách dựng đứng với không ít nơi được hình thành bởi
đá vôi, có nhiều thung lũng nhỏ hoặc to, hay gặp hiện tượng Cacstơ Ở đây có thể chia thành 3 vùng núi đá vôi Vùng núi cao từ trung bình tới 1.000m, có thung lũng nhỏ và nằm ở trung tâm Đông bắc Dãy Quảng Yên phân bố ở gần biên giới Trung Quốc cũng
có độ cao tương tự nhưng có nhiều thung lũng rộng hơn Trong vùng Đông Bắc còn có các thung lũng lòng chảo được bồi tụ trong thời kỳ Tân sinh đại Do có sự thuận lợi về địa hình các thung lũng đã trở thành trung tâm dân cư vùng núi Trong thung lũng
Trang 6Vùng Tây Bắc có cấu tạo khác nhau, nó tạo thành hàng loạt những dãy núi song song, nối tiếp nhau chạy từ tây bắc xuống đông nam và độ cao cũng giảm dần theo hướng này Dãy núi cao nhất ở đây là Hoàng Liên Sơn có đỉnh cao nhất là Phan - Xi - Păng và dẫy núi Pú - Lường cũng là sự nối tiếp xuống phía Nam của dãy này, nó được tạo thành bởi đá gơnai cổ, đá granit, diệp thạch đềvol Giữa các dãy này có con sông lớn là sông Đà, nó khác với các dẫy núi ở vùng Đông Bắc là có sườn dốc dựng đứng
hơn, đỉnh cao và nhọn hơn, có những thung lũng trong các dẫy này (Nghĩa Lộ, Quang Huy, Than Uyên)
Phía Tây của dẫy Hoàng Liên Sơn liền với các cao nguyên tạo bởi đá vôi kỷ Đề von hay Các bon và Diệp thạch đệ tam Trên mỏm Tây Bắc của đai này là cao nguyên
Tà phình cao trên 1.000m phía Nam của cao nguyên Tà Phình tách biệt thung lũng sâu của sông Đà, và trên độ cao hơn 1.000m có cao nguyên Xín - Chải, cao nguyên này
cũng bị phân tách với cao nguyên Sơn La rộng và thấp hơn (gần 600 m ) và thung lũng
Thuận Châu Cao nguyên phía Nam là cao nguyên Mộc Châu có độ cao khoảng 1.000m nó cũng tách biệt với cao nguyên Sơn La bởi khe sâu và dốc của sông Ngân Sáp Những cao nguyên này nói chung có bề mặt khá bằng phẳng, đặc biệt là cao nguyên Mộc Châu Hệ núi đá vôi tạo thành cao nguyên này chạy thấp dần theo hướng Đông Nam, xuống tới vùng Đồng Giao đến sát bờ biển hình thành ranh giới của đồng bằng Bắc bộ và Thanh Hoá
Tiếp theo phần lãnh thổ phía Tây của Việt Nam còn chưa được nghiên cứu đầy
đủ Vùng này giữ quan hệ tạo sơn với dẫy núi của các đen đin, Pùsam sao) theo đó
tồn tại danh giới Việt - Lào Vùng này còn tham gia vào việc tạo thành lưu vực sông
Hồng Hà Những vùng này được tạo thành bởi nhiều loại đá mẹ khác nhau (đá granit
đá gơ nai, điệp thạch ) nó có địa hình dạng núi thấp hay trung bình hơi thoai thoải
Không ít những thung lũng lớn nằm trong hệ thống núi này, ví dụ Điện Biên Phủ có chiều dài 25 km, rộng 5-6 km
Sông, suối trong vùng núi chảy xiết, tham gia tích cực vào quá trình tạo thành địa hình, lòng sông đầy đá to, sông đâm vào các tầng đá mẹ, tạo phù sa
Độ dốc của núi và hình dáng của các sườn núi quan hệ mật thiết với đặc điểm đá
mẹ hình thành, đặc biệt là độ dốc vùng núi đá vôi Núi từ đá diệp thạch thấp và bằng hơn các dạng đá mẹ khác - dạng trung gian
Tóm lại địa hình vùng núi Bắc Việt Nam có những đặc điểm chính sau:
- Sự tương phản cao giữa vùng đồng bằng Bắc bộ trẻ, bằng phẳng và đồng bằng ven biển với vùng tiếp giáp với nó địa hình phân cách nhiều, địa hình được tạo thành
từ đá mẹ cổ sơ và có lịch sử phát triển lâu dài
- Sự tương phản giữa những dạng tương đối bằng phẳng bao quanh các đỉnh núi
và sống núi có độ dốc khá dựng đứng của sườn và các thung lũng sông trong vùng núi
- Là sự kém phát triển của các thung lũng, thềm sông, suối cả vùng núi và đồng
Trang 7có ảnh hưởng lớn đến khí hậu Bắc Việt Nam
Từ tháng 9 cho đến tháng 3 năm sau vùng Đông Nam Á (có Việt Nam nằm trong)
chịu ảnh hưởng của khí áp cao vùng châu Á, trung tâm của nó là cao áp Xibêri Từ đó
có một bộ phận không khí lạnh di chuyển về phía Nam, tạo ra gió khống chế trong mùa này, nó làm thay đổi đặc điểm khí hậu Bắc Việt Nam, làm tồn tại ở đây có hai mùa, mùa đông lạnh lẽo và khô mà các nơi khác cùng vành đai không có
Sự chênh lệch khí hậu từ Bắc vào Nam (ở Việt Nam) trong mùa hè không lớn
Thí dụ nhiệt trung bình cao ở Lạng Sơn là 27oC (21 o 52’ N) ở và Nội là 28oC (21 o 02')
còn ở thành phố Hồ Chí Minh 28oC (20 o 05’) Nhưng trong mùa đông rất khác biệt:
Lạng Sơn 13o3C, Hà Nội 16o6C, Thành phố Hồ Chí Minh 21o7C (tháng 1) Xu hướng
chung của luồng không khí lạnh là đi từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
Địa hình cũng có ảnh hưởng lớn đến khí hậu bắc Việt Nam đặc biệt quan trọng là
độ cao các dẫy núi, các vòng cung Ngân Sơn, Phía Biooc, Tam Đảo đặc biệt là Hoàng Liên Sơn và Pú Lường Chiều cao của nó làm cản trở luồng không khí lạnh phương Bắc Thí dụ Lạng Sơn tần suất không khí lạnh là 22 lần/ năm, Lai Châu là 7 lần/năm,
Hà Nội là 20,6 lần/năm, Sơn La là 11,21 lần/năm, Điện Biên Phủ là 5,2 lần/năm, Vinh
là 15,4 1ần/năm, Đồng Hới là 14 1ần/năm
Độ lục địa ảnh hưởng ít đến khí hậu Bắc Việt Nam, địa hình ảnh hưởng lớn, vùng Tây Bắc đầu mùa hè có gió Lào là do địa hình, mùa đông ấm hơn vùng Đông Bắc và đồng bằng là do dãy Hoàng Liên Sơn tạo thành lá chắn Độ cao cũng có ảnh hưởng đến khí hậu Bắc Việt Nam, thường cứ lên cao 100m thì nhiệt giảm 0,5 - 0,6oC quy luật này đúng cho cả mùa đông và mùa hè Đa số các nhà khoa học cho rằng khí hậu Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới bị biến tính bởi gió mùa và bị chia thành 3 đai theo độ cao địa hình
Do ảnh hưởng của gió lạnh và địa hình nên khí hậu Bắc Việt Nam có thể chia thành 2 vùng : Tây Bắc và Đông Bắc Căn cứ theo quy luật biến đổi của khí hậu có thể chia làm 4 mùa Từ tháng 11 đến tháng 2 là mùa khô lạnh lượng mưa khoảng 100 -
300mm/3 tháng Nhiệt dao động từ 14 – 19oC, vùng Đông Bắc xuống tới 12oC Mùa ẩm
và mát từ tháng 2 đến tháng 4 Từ tháng 5 đến hết tháng 9 là mùa mưa ẩm Nhiệt độ trong thời kỳ này đạt trị số tối đa, gió từ biển thổi vào mang theo mưa lớn, thường có
Trang 8lừ 13 – 18oC, đến tháng 4 nhiệt tăng nhanh, từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt cao nhất từ 26 – 29oc, tháng 10, 11 giảm dần nhiệt độ Ở hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc có khác nhau ít nhiều Thí dụ: Nhiệt tối cao ở Tây Bắc đạt được trong tháng 4 còn ở Đông Bắc đạt được trong tháng 7 Trong vùng núi cao 500m trở lên nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới 0oC, còn giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc thì Tây Bắc cao hơn ít nhiều
Sự phân bố mưa trong các vùng khác nhau phụ thuộc vào địa hình Nguyên nhân của sự khác nhau này liên quan đến hướng núi và gió mùa từ hướng Đông Nam đi vào Các dẫy núi cao cũng tạo thành bức thành chắn gió lại càng mưa nhiều hơn Như vùng
núi và chân núi Hoàng Liên Sơn, Pú Lường (trạm Sa pa: 2.975 m là Tam Đường: 2.663mm,Cao nguyên Sìn - Hồ: 2.698 mm), các dãy núi vùng Tam Đảo : 2564mm, cao
nguyên Bắc Quang gần 3000mm, Hà Giang: 2440mm.v.v Ngược lại ở một số cao nguyên nằm khuất sau các dẫy núi thì lượng mưa giảm xuống như Điện Biên Phủ: l439mm, Cò Nòi: l367mm, Sông Mã: 1286mm, Lục Ngạn: 1265mm, lượng mưa được
biểu thị trên hình 1 Đường cong biểu thị phân bổ mưa có nhiều dạng khác nhau, song
có thể khái quát lại trong hai dạng: Kiểu 1 : có 2 cực đại đặc trưng cho vùng nhiệt đới Kiểu 2: có 1 cực đại, đặc trưng cho vùng á nhiệt đới (hình 1)
Thời gian có nắng vùng Tây Bắc ít thay đổi, nó dao động từ 120 đến 200 giờ/tháng Tháng 1,2 khoảng 120 - 150 giờ/tháng, sang tháng 3 tháng 4 tăng dần lên
180 - 230 g/tháng Vùng Đông Bắc có hơi khác, ở đây giảm xuống từ tháng 1 đến tháng 3 là cực tiểu (từ 30 - 60g/tháng) Sau đó tăng lên và đạt đến tối đa vào 7, 8, 9 có khi cả tháng 10 (từ 170 đến 220 g/tháng), sau đó giảm dần xuống
Độ ẩm tương đối của không khí khá cao, dao động từ 84 - 88 % một số nơi vùng Tây Bắc trong các tháng khô (3, 4) độ ẩm có thể giảm xuống 70 – 73%
Độ ẩm khá cao nên độ bốc hơi nước ở đây thấp Tổng lượng nước bốc hơi cả năm không nơi nào đạt 1000mm Nghĩa là nhỏ hơn nhiều so với tổng lượng mưa Cường độ bay hơi giảm xuống trong mùa khô, điều này thấy rõ ràng ở vùng Tây Bắc
Tóm lại: Khí hậu Bắc Việt Nam nói chung thuộc khí hậu nhiệt đới, nhưng trong
vùng núi thì có chia thành các đai khí hậu: nhiệt đới, á nhiệt đới, nhiệt đới đai cao Ở từng vùng khác nhau sự phân đai khác nhau Trên lãnh thổ Bắc Việt Nam các điều kiện khí hậu bị phức tạp hoá bởi sự xuất hiện của không khí lạnh tràn đến và ảnh hưởng của các hệ núi, xem xét toàn bộ các đặc điểm về khí hậu Bắc Việt Nam có thể chia thành 4 mùa và hai vùng khí hậu - Tây Bắc và Đông Bắc theo đặc điểm khí hậu so sánh với các điểm cùng đai, vùng Tây Bắc có nhiều đặc điểm biểu thị gần xích đạo hơn vùng Đông Bắc
Đặc điểm các dòng chẩy:
Hệ thống sông ở Bắc Việt Nam rất dầy đặc, điều này rõ ràng có quan hệ với lượng mưa lớn và bay hơi ít đã tạo ra nhiều dòng chảy Tây Bắc có một số hệ thống
Trang 9sông lớn như, sông Đà, sông Mã Đông Bắc có hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình, sông Lô, sông Gâm, sông Chảy, các nhánh như sông Năng, Ngô Quế, vùng Đông Bắc còn có 3 hệ thống sông - hệ thống sông Cầu, Thương, Lục Nam Hệ thống sông Bằng Giang, Kỳ Cùng, hệ thống ven biển của tỉnh Quảng Ninh, ngoài ra còn có nhiều nhánh sông nhỏ, suối
Biến động các yếu tố khí hậu thuộc vùng Tiên Yên
Độ cao: 24,5m; 21 0 19'N; 107 0 23'E
Biến động các yếu tố khí hậu thuộc vùng Mộc Châu
Độ cao: 956m; 20049'N; 104042'E
Trang 10Địa hình vùng núi trẻ và chuyển đột ngột sang đồng bằng nên ảnh hưởng lớn đến các dòng sông như lòng sông hẹp, dốc, thung lũng có vách dựng đứng, nhiều ghềnh thác đôi khi tạo thành hồ lớn Trong vùng núi tốc độ dòng chảy lớn do độ dốc của dòng lớn - Sông Hồng 22 cm/km đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì Sông Đà là 38 - 44 cm/km, do mưa lớn tập trung trong mùa hè nên cũng ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy như sông Hồng mực nước thấp nhất tốc độ dòng chảy là 500 m3/ giây, mùa nước là 30.000m3/ giây, sông nhỏ và suối sự thay đổi càng lớn Như sông Đà từ 200 đến 1.800
m3/ giây, sông Lô từ 150 đến 10.000m3/giây Sông Thương, Lục Nam từ 3,6 đến 1200, 1400m3/giây Lượng vật chất cứng mang theo trong nước cũng thay đổi lớn theo mùa,
và tuỳ thuộc vào từng sông Sông Hồng tại Hà Nội thời kỳ nước thấp là 200 - 300g/1m3 nước, mùa mưa là 2 - 3 Kg/1m3 nước sông Lô tại Tuyên Quang mùa khô là
15 20g/1m3, còn mùa mưa là 350 - 430g/1m3, sông Cầu là 16 - 65 g/1m3
Vùng núi cao có rừng rậm thường xanh khô, cây gỗ thấp, cong queo
Ngoài ra ở vùng thấp còn có rừng tre, nứa một số trong đó có thể có nguồn gốc nguyên sinh, còn phần lớn là thứ sinh
Ở vùng núi đá vôi cũng có loại rừng rậm nhiệt đới mưa mùa trên núi đá vôi, chủ yếu là cây lá rộng, càng lên cao cây càng thấp, cong queo, thưa dần
Trong quá trình hoạt động khai phá, các kiểu rừng trên (đặc' biệt là vùng núi thấp) chỉ còn sót lại từng mảnh trong những vùng xa xôi, hiểm trở, còn phần lớn đã bị
thay thế bằng các kiểu rừng thứ sinh Rừng thứ sinh này tồn tại ở nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc vào độ phì của đất Rừng thứ sinh thường gặp ngày nay là loại rừng hỗn giao gồm nhiều cây nhỡ, cây bụi, dây leo, cây thuộc thảo, tỷ lệ cây chịu hạn, ưa sáng tăng lên Cũng có những rừng thứ sinh thuần loại như rừng vầu, nứa, giang, chuối rừng
Rừng thứ sinh bị tiếp tục khai thác nhiều lần sẽ hình thành các kiểu thảm cỏ, hoặc Savan hoặc thảm cây bụi Đặc biệt do mùa đông lạnh và hơi khô nên phù hợp cho sự phát triển của thảm cỏ
Thường gặp ở đây các kiểu thảm cỏ tranh, cỏ lông và cỏ xương, hay kiểu cỏ tranh lẫn cỏ lông và xương hoặc Savan cỏ như lau, chít, hoặc lau với chít, chè vè, cỏ lào với cỏ tranh, guột Thảm cây bụi như sim, mua, sầm, thành ngạnh, thanh hao, hỗn
Trang 11hợp hay thuần loại
Hiện nay nhiều nơi trên loại hình này đang được trồng một số cây rừng, cây công nghiệp các kiểu thảm cây trồng thường gặp nhất hiện nay là rừng bạch đàn, mỡ, bồ
đề, long não, lim hoặc hỗn hợp vài loài như lim, lát, ngát, vạng, trám, keo trong tổ hợp từ 3 - 5 loài Ngoài ra còn một số kiểu rừng trồng cây công nghiệp như trâu, đồi cây ăn quả, chè và các loại cây kinh tế khác
Trên những vùng đất bằng thấp tồn tại các loại cây lương thực, cây làm thức ăn cho người và gia súc, các loại cây kinh tế khác
1.4 ĐẤT ĐAI
Đất đai vùng đồi núi Bắc Việt Nam có lịch sử hình thành khác nhau, nhưng có chung đặc điểm của sản phẩm phong hoá vùng nhiệt đới ẩm là có nhiều sắt và nhôm Sắt nằm trong các dạng ôxit là nguyên nhân chủ yếu của màu vàng và đỏ
Trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm, cũng như sự đa dạng của lớp phủ thực vật, quá trình phong hoá và quá trình tạo thành đất xẩy ra mạnh mẽ hơn so với vùng ôn đới Đồng thời quá trình phong hoá hoá học cũng biểu thị mạnh mẽ hơn là quá trình lý học, khi lớp phủ thực vật bị phá, quá trình phong hoá sẽ bị thay đổi bởi quá trình thoái hoá, đó là sự phá huỷ đất
Có nhiều bảng phân loại đất bắc Việt Nam nhưng có lẽ hợp lý hơn là bảng phân
loại đất của Viện thổ nhưỡng (1980) và bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 của Hội
Khoa học đất Việt Nam (1996) Bắc Việt Nam theo bảng này có 12 lớp phụ và 34
kiểu Phân bố rộng rãi hơn cả là lớp phụ đất feralít đỏ vàng có mùn trên núi (lớp phụ 10) - 20%
Những kiểu đất chính thường gặp ở vùng núi bắc Việt Nam là:
- Kiểu 50: Đất Feralít nâu đỏ trên đá mácma trung tính hay bagiơ, chiếm diện tích
- 410.595 ha, thường gặp ở Vịnh Phúc, Tây bắc trên địa hình đồi bát úp
Kiểu 52: Đất Feralít nâu đỏ trên đá vôi Chiếm 4% diện tích - 208.837ha, gặp ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà tuyên, một số vùng Tây bắc, trong các thung lũng đá vôi Kiểu 53: Feralít đỏ vàng trên đất sét hay đá biến chất 53% diện tích - 2.990.701
ha Phân bố vùng đồi và núi thấp của vùng trung tâm bắc Việt Nam, hiện nay vùng đất này không có rừng che phủ, là thảm cỏ hay cây bụi
Kiểu 54: Feralít vàng đỏ trên đá mácma axid chiếm khoảng 10% diện tích - 533.732 ha Phân bố núi thấp địa hình phân cắt mạnh sườn dốc 20 – 250
- Kiểu 55: Đất vàng nhạt Feralít của đá sa thạch, chiếm tới 22% diện lích - 1.234.190 ha Phân bố ở đồi núi thấp, địa hình phân cắt mạnh
Trang 12- Kiểu 57: Đất Feralít vàng nâu chiếm khoảng 2% diện tích 107.991 ha Phân bố
vùng chân núi thấp (Đất trồng lúa)
Lớp phụ X: Đất Feralít vàng hơi đỏ có mùn trên núi Loại đất này phân bố trong rừng trên độ cao từ 600 - 700m đến 1.700 - 1.800 m Thảm thực vật rừng thường xanh
á nhiệt đới, hay rừng rụng lá từng phần (không hoàn toàn)
Những lớp phụ và kiểu còn lại có diện tích không đáng kể (dưới 10% lãnh thổ), thường phân bố trên núi cao (Trên 1.800m), ở bờ biển, ở các thềm sông, các thung
Sự phân bố của các lớp phụ và kiểu đất theo độ cao địa hình ở bắc Việt Nam là
phù hợp với đai cao của khí hậu Tuy nhiên sự phân chia vùng khí hậu (theo chiều ngang) không có quan hệ với sự phân chia lớp phụ và kiểu đất trên lãnh thổ bắc Việt
Nam Khi đi lên theo độ cao của núi cấu trúc của lớp đất cũng đơn giản hoá, quá trình phong hoá và hình thành đất xảy ra còn yếu hơn, độ dầy lớp đất giảm xuống lớp đất
phủ phức tạp hơn cả là ở đai 0 - 700m (đai nhiệt đới) Đất của đai này được hình thành
trên các loại đá mẹ khác nhau trong các thời kỳ địa chất khác nhau Ngoài ra việc sử dụng đất ở cường độ cao trong vùng này đã ảnh hưởng lớn và ảnh hưởng rất xấu đến quá trình hình thành đất
Trang 13Chương hai PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam là loại hình thứ sinh, phân bố lại rác hay tập trung thành vùng trong hai đai nhiệt đới và á nhiệt đới Để kết quả nghiên cứu đạt được độ chính xác lớn hơn trong điều kiện thời gian và sức lực hạn chế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu theo hai hệ phương pháp là định vị và điều tra trên diện rộng theo vùng và tuyến
2.1.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH VỊ
Chúng tôi đã chọn đồng cỏ Thôm - Luồng, Ngân Sơn làm nơi nghiên cứu định vị Đồng cỏ Ngân Sơn phân bố ở độ cao từ 500 - 1.000m, với diện tích khoảng 6.000 ha Địa hình chia cắt phức tạp, có nhiều khe sâu, độ dốc trung bình từ 20 – 300, có nơi dốc hơn Đồng cỏ nhiều nơi đã và đamg sử dụng làm bãi chăn thả, nhưng vẫn có nhiều nơi còn bỏ hoang Trong đồng cỏ này chúng tôi đã đặt 2 điểm nghiên cứu định vị tại Thôm Luông và Khuổi Luông, cách nhau 6km
Vùng Thôm Luông từ 1974 đã thành lập trại bò với diện tích được giao là 700 ha,
có 300 bò Tại đây chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các mặt trong quần hợp cỏ xương cá + cỏ lông (Arundinella nepalensis + Jschaemul indicum) Đây là quần hợp
cỏ điển hình của vùng này và chiếm diện tích chủ yếu của đồng cỏ Các thí nghiệm nghiên cứu định vị đã được dẫn dắt từ năm 1975 đến năm 1980 theo tháng và theo mùa, tiến hành đồng thời trên 3 môi trường là sườn đồi cao, chân đồi, trên đồi thấp
Đầu năm 1977 chúng tôi làm hàng rào 1 ô rộng 3 ha (trên đồi thấp) để so sánh, từ năm
1981 đến 1985 chỉ theo dõi mỗi năm 1 lần Từ 1995 chúng tôi trở lại nghiên cứu vùng này với ý đồ tìm hiểu về diễn thế đồng cỏ và các mô hình sử dụng
Vùng Khuổi Luông tiến hành nghiên cứu trong quần hợp cỏ tranh + cỏ lông (Imperata cylindrica + Ischaemum indicumm) ở vùng này số lần nghiên cứu có ít hơn
vùng trên Các phương pháp nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 2 vùng đều thống nhất
2.1.a Phương pháp nghiên cứu thành phần loài và thành phần dạng sống
Để tiến hành nghiên cứu thành phần loài và thành phần dạng sống, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu trong đồng cỏ Ngân Sơn và đặc biệt trong 2 quần hợp nghiên cứu định vị Chúng tôi đã tập nhiều tuyến đi qua nhiều môi trường sống cụ thể, tiến hành trong 4 mùa của nhiều năm Mặt khác trên các điểm nghiên cứu định vị chúng tôi đã làm các ô theo dõi sự biến động cá thể và loài trong nhiều năm, song song với những nghiên cứu về cấu trúc và năng suất Mẫu thực vật nghiên cứu thành phần loài vừa để nghiên cứu dạng sống nên mẫu lấy đầy đủ cả phần dưới đất, đồng thời có quan sát và
mô tả tại chỗ về dạng sống mỗi loài đã lấy mẫu, còn các đợt sau chỉ thống kê
Trang 14số mẫu chúng tôi có nhờ các chuyên gia thực vật học của trường Đại học Khoa học Tự
nhiên ĐHQG Hà Nội và Viện Sinh thái và tài nguyên thực vật (Trung tâm KHTN và
CN quốc gia) giám định Phần đang sống, mẫu được mô tả đầy đủ về dạng sống và
hình thái của cả hai phần trên và dưới đất, sau đó được sắp xử lại theo kiểu dạng sống theo quan điểm tiến hoá
2.1.b Nghiên cứu về cấu trúc
Nghiên cứu cấu trúc hình thái: Được tiến hành bằng cách lập các ô tiêu chuẩn,
những ô tiêu chuẩn này được đặt trong đồng cỏ (Quần hợp cỏ xuông + cỏ lông) trên
các tuyến đi, diện tích ô là 1m2 nếu là thảm cỏ thuần nhất và 4m2 cho các vùng phức tạp, hoặc có nhiều cây bụi, thảm cây bụi: các ô tiêu chuẩn được mô tả theo phương pháp thường dùng trong sinh thái học
- Để nghiên cứu về sự biến động loài và cá thể trong quần xã và quần thể, ngoài việc tiến hành nghiên cứu trên diện rộng ở các mùa khác nhau, chúng tôi còn lập một
số ô tiêu chuẩn cố định trong hai vùng chăn thả và bảo vệ theo dõi vài năm, trong các
ô này ngoài những chỉ tiêu chung về cấu trúc hình thái còn tiến hành đếm số lượng loài, số cá thể, số chồi và chồi sinh sản của từng loài trong ô và qua các mùa
- Nghiên cứu về cấu trúc thảm cỏ: Để nghiên cứu cấu trúc thẳng đứng của thảm
cỏ, chúng tôi đã dùng ô tiêu chuẩn với diện tích 0,25m2, các loài cỏ trong ô được cắt theo tầng cỏ 10cm
Những phần cỏ đã được cắt này sẽ phân thành hai phần tươi và khô Phần tươi lại được phân chia theo loài, phần tươi của từng loài sẽ được phân thành 3 phần: phiến lá, thân và cuống lá, cơ quan sinh sản, phần chết của từng tầng để riêng, tầng sát mặt đất được phân thành phần khô và phần bán mục Phần khô là phần chết nhưng còn quan hệ với cơ thể thực vật Phần bán mục là phần chết đã tách khỏi cơ thể, là mẫu riêng biệt Nghiên cứu cấu trúc phần dưới đất được tiến hành theo phương pháp đào phẫu diện đất ngay tại ô đã làm phần cấu trúc trên mặt đất Phẫu diện được đào sâu đến 100cm, rộng 50cm, mẫu đất được lay theo tầng 10cm lừ trên xuống, khối đất lấy là 10
x 10 x 30cm Mẫu đất từng tầng được ngâm trong dung dịch acidacetíc 7% trong 10 giờ, rồi rửa qua rây có mắt là 1,5 x 1,5mm Mẫu rễ được phân thành phần sống và phần chết, phần sống được phân ra thành 5 nhóm: thân rễ, rễ cái, rễ bên, rễ bất định, rễ con
Tất cả hai phần trên và dưới đất đều được sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 1100C trong 12 tiếng, rồi cân từng phần riêng
Số lần lặp lại cho từng điểm là 5
2.1.c Nghiên cứu năng suất
Để xác định khối lượng thực vật của cả 2 phần trên và dưới đất, chúng tôi cũng
đã sử dụng phương pháp ô tiêu chuẩn như phần nghiên cứu cấu trúc sau khi lấy mẫu
Trang 15phần trên mặt đất (cắt sát đất) Chúng tôi lấy mẫu phần dưới đất, tới độ sâu 30cm, chia
thành 3 tầng Mẫu mang về cũng được xử lý như nghiên cứu cấu trúc Trong ô thí nghiệm định vị mẫu vật được lấy theo tháng và theo mùa; các điểm khác lấy vào tháng
1 và tháng 10 Để xác định sự tăng trưởng trong năm chúng tôi lay tháng cao nhất trừ
đi tháng thấp nhất Năng suất tổng số được tính toán theo cách tính của Badilêvik và Tilianova (1975)
P = ∆T + ∆L + ∆m1 + ∆R + ∆r + ∆m2
Trong đó:
P: là năng suất sinh học toàn phần
∆T : Sự tăng trưởng của phần sống trên mặt đất
∆L: Sự tăng trưởng của phần chết trên mặt đất
∆R: Sự tăng trưởng phần sống dưới đất
∆r : Sự tăng trưởng phần chết dưới đất
∆m1,2 : Số lượng bị phân huỷ trong năm của phần trên và dưới đất
Để tính diện tích lá chúng tôi tiến hành theo phương pháp trọng lượng Trước tiên chúng tôi xây dựng bảng hệ số tương quan giữa trọng lượng và diện tích lá cho từng loài Từ hệ số này tìm diện tích lá cho từng loài và cho cả quần xã
Để xác định tốc độ tích luỹ và phân huỷ đã làm phương pháp bổ sung:
Đối với phần trên mặt đất sử dụng các túi lưới mắt nhỏ (1,5 x 1,5mm) bằng sợi tổng hợp trong đựng một khối lượng mẫu cỏ (phần bán mục) có trọng lượng biết trước (xác định trọng lượng theo độ khô không khí), sau đó được đem gắn vào trong ô nghiên cứu (sát đất) Sau 1 tháng lấy về một số, phơi khô không khí, cân Sau tháng thứ hai lấy tiếp một số nữa và cứ như thế đến hết (5 túi/ tháng)
Đối với phần dưới đất chúng tôi đã làm như sau: cắt bỏ phần trên mặt đất, đào lấy một khối đất nguyên vẹn 10 x 20 x 30cm, sau đó cắt bỏ 2 em bề mặt, gỡ nhẹ lấy thân
rễ (còn sống) trong khối đất, phần thân rễ và phần rễ trong lớp đất 2cm được đem rửa
sấy khô, cân Khối đất còn lại được đem vùi vào ví trí cũ, sau 1 tháng lấy lên, đem rửa theo phương pháp trên để lấy rễ Thí nghiệm này được lặp lại 3 lần ở mỗi đợt sai số của phần năng suất chung ở trên với thí nghiệm này, được coi là số bị phân huỷ trong 1 tháng
2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỂU TRA TRÊN DIỆN RỘNG
Ngoài 2 vùng nghiên cứu định ví, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên diện rộng ở những vùng thuộc Tây Bắc và Đông Bắc Tại các vùng nghiên cứu chúng tôi cũng lập các tuyến đi, lấy mẫu theo tuyến đi đồng thời tiến hành nghiên cứu về cấu trúc hình
Trang 16ô tiêu chuẩn dọc theo tuyến, số lần lặp lại tại mỗi điểm là 5
Tại vùng nghiên cứu định vị Thôm Luông và Khuổi Luông cũng như các vùng trên tuyến điều tra ở Đông Bắc và Tây Bắc, trong mỗi lần lấy mẫu cỏ đều lấy mẫu đất,
thông thường lấy 3 tầng (sâu 30cm), mẫu đất được xử lý và nghiên cứu các chỉ tiêu về:
độ ẩm, mùn, N, P, K dễ tiêu và nghiên cứu thành phần cơ giới, độ xốp ở một số điểm Nghiên cứu thành phần hoá học ở một số loài cỏ vùng Thôm Luông theo phương
pháp hiện hành của hoá thực vật (số liệu phân tích nhờ phòng hoá thc vật ĐHKH Tự nhiên thuộc ĐHQG Hà Nội và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên)
(Các điểm nghiên cứu: Thái Nguyên: Định Hoá, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Bình, Đồng Hỷ; Bắc Kạn, Ngân Sơn, Cho Rã, Na Rì; Cao Bằng: Nguyên Bình: Hoà An, Hoà Quảng; Lạng Sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng, Cao Lộc,, Bắc Sơn; Quảng Ninh, Đông Triều, Tiên Yên, Móng Cái, Tuyên Quang, Na Hang, Sơn Dương; Yên Bái: Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải; Tây Bắc gồm các vùng: Lào Cai: Than Uyên, Phong Thổ, Lai Châu: Điện Biên, Tuần Giáo, Pha Đin; Một Châu, Phú Yên, Bắc Yên, Hoà Bình)
Trang 17Chương ba PHÂN LOẠI ĐỒNG CỎ VÙNG NÚI BẮC VIỆT NAM 3.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ PHÂN LOẠI CÁC QUẦN
XÃ THUỘC ĐỒNG CỎ VÙNG NÚI BẮC VIỆT NAM
từ 1 đến 3 tháng lượng mưa không đáng kể Bắc Việt Nam lớp vỏ phong hoá khá dầy, trung bình từ 1,5 - 5m, vì vậy lớp đất cũng lớn, lớp có mùn đạt từ 10 - 25 cái Mực
nước ngầm trung bình là 2 - 3m (theo Phơ - rít - lan 1961, 1964) Những điều kiện
thuận lợi của vùng bị thay đổi nhiều trong quá trình phát triển lịch sử, đặc biệt là khí
hậu (Vun - phơ, 1944 và các T G khác) Tổng hợp các yếu tố này tạo điều kiện hình
thành rừng nhiệt và á nhiệt đới Bắc Việt Nam, phân bố ở các độ cao khác nhau
(Chevalier, 1918; Maurand, 1943, 1953; Schmid, 1962; Thái Văn Trừng, 1972, 1978)
Những kiểu rừng nguyên thuỷ này đã bị thay đổi dưới tác động của con người và hình thành các kiểu thứ sinh
Khi nghiên cứu về nguồn gốc thứ sinh của các thảm cỏ trong các vùng nhiệt đới khác nhau, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng, các quần xã cỏ và cây bụi trong
vùng nhiệt đới đều hình thành trên những quần xã rừng bị chặt hạ (Cooper, Tai ton -
1968 Pleming, 1968; Schmell, 1970; Dương Hữu Thời 1981) Rõ ràng là khi chặt phá
rừng làm nương rẫy, và đất đã làm đất bị cháy và khô đi Những tác động này được kết thúc vào cuối mùa khô Đầu mùa mưa ở đây sẽ được gieo các loại cây trồng nông nghiệp Trải qua nhiều lần như vậy đất sẽ được bỏ hoang, trên nó lại phục hồi dần rừng thứ sinh, và lại tiếp tục bị chặt hạ để trồng trọt Kết quả dẫn đến rửa trôi mạnh lớp đất mặt, cây gỗ không có điều kiện tái sinh nữa, hình thành nên lớp cỏ hay có lẫn một số loài cây thảo và cây bụi hạn sinh
Trong vùng á nhiệt đới Bắc Việt Nam, trên những chỗ bị tàn phá như vầy hình thành thảm cỏ với những cây hoà thảo, sa thảo, vài năm sau lại bị đốt, làm cho các yếu
tố môi trường bị nghèo kiệt dần, làm giảm mực nước ngầm, đặc biệt là làm nghèo thành phần loài thực vật, tăng tỷ lệ cây hạn sinh Về ngoại mạo nó gần giống thảo nguyên vùng ôn đới
Trang 18mạnh hơn, và đặc biệt là hình thành tầng đá ong Điều này làm cho độ phì đất bị giảm cực đại, giảm khả năng thấm nước của đất, do đó bề mặt bị đốt nóng mạnh trong thời
kỳ khô nóng (có khi lên đến 60 0 C) Trong điều kiện đó hình thành các kiểu Savan và
Savan giả khác nhau với ưu thế của các loài hạn sinh, vùng núi thấp tồn tại Savan cỏ
với sự điểm cây gỗ, cây bụi Những loài thường gặp là: Miscanthus Floridulus, Saccharum arundinaceunm, Themeda giganthea, Thysallolaena maxima, Chromolaena odorata, Eurva acuminata, Cratosylon cochinchinensis, Phyllanthus emblica, Aporosa dioica thảm cây bụi hạn sinh thường gặp các loài – Melastoma septemnervium, Rhodomyrtus tomentosa, Memexylon edule, Baeckea frutescens, Dicranopteris linearis, và nhiều loài cây thảo khác
3.1.2 Phân loại đồng cỏ
Phân loại là điều cần thiết trong nghiên cứu thảm thực vật, và trong tư liệu đã có rất nhiều bảng phân loại thực bì
Đối với vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Nam Trung Quốc, Đưlit (1958) đã dựa vào
độ dẻo và độ phì của đất để phân chia các kiểu rùng thông Pinus yunnanensis; và dựa
vào cả địa hình để phân chia như Va-rô-nốp, Da-nat-va (1965) Phân tích các công
trình của N.B.Ka-ba-nốp (1971) thấy rằng, khi phân chia ông đã gộp các kiểu vào
thành nhóm trên cơ sở độ dầy của lớp đất trên các sườn dốc và mỏm, trên sườn dốc lớp đất mỏng hơn, trên đất đá vôi, trên bãi bồi của các sông, suối trong rừng, trên các khe
núi Phân chia loại hình đồng cỏ chỉ có trong các công trình của Wang (1961, 1965) Chang (1957), Keng (1959)
Ở Ấn Độ, thuộc loại đầu tiên có lẽ là Champion (1936) Champion, Griffithe (1948) Bảng phân loại các kiểu rừng và đồng cỏ ngày nay đã có sự thay đổi nhiều trong mối quan hệ với những đơn vị về phân chia kiểu đất Puri (1960); Whyte (1968); Champion, Seth, (1968); Lakshamanan, (1968), Seth, Kinh (1978)
Ở Malaixia tồn tại các kiểu rừng khác nhau, nó phụ thuộc từ yếu tố sinh thái, địa
hình, và độ ẩm, đã được đề cập bởi Fox, (1971, 1973); Fox, Tan Teong Hing (1971) Trong công trình của Whitmore (1973, 1975) đã nhấn mạnh các kiểu rừng trên lớp vỏ
phong hoá của đất mưa ẩm và granít
Ở Inđônixia cũng như Malaixia việc phân chia các kiểu trong mối quan hệ với thổ nhưỡng, các tác giả nhấn mạnh rằng trong vùng nhiệt đới dù chỉ khác biệt rất ít về đất đai cũng dẫn đến sự khác nhau về thành phần hệ thực vật, cũng như sự phức tạp của quần xã Richards, (1961, 1963); Bruning, (1970, 1973)
Những công trình chủ yếu về phân loại thảm thực vật ở Đông dương rất ít, phân loại thảm cỏ lại càng ít hơn Nó chỉ có rải rác ở từng phần trong các công trình chung
về phân chia loại hình của từng tác giả Maurand, (1943, 1954); Dương Hàm Hi, (1956); Vidal, (1958); Thomasius, (1962, 1965, 1966); Trần Ngũ Phương, (1970); Schmid, (1962, 1974); Thái văn Trừng, (1962, 1972, 1978); Lê Kim Biên, Lê Văn
Trang 19Thường (1998); Nguyễn Nghĩa Thìn (1998)
Dương hữu Thời (1981) đã mô tả khá tỷ mỉ về thảm cỏ Bắc Việt Nam, ông chia
Bắc Việt Nam ra thành 5 vùng Trong mỗi vùng ông mỏ tả khá nhiều quần xã đặc trưng Nhưng rất tiếc ông không lập bảng phân loại thảm cỏ
Về vấn đề nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới : nhiều tác giả cho ý kiến khác nhau Đa số cho rằng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới không có đồng cỏ tồn tại, các quần xã cỏ ở đây phải là loại hình Savan (Diel, 1908; Haudel-Mazzeti, 1921, 1927; Ilinskii 1937; Maurand, 1943, 1953; Krácnốp, 1984)
J Vidal (1958) khi phân chia thực bì ở Lào đã xếp các quần xã cỏ vào Savan Trong đai dưới 1.000m thì Savan cây bụi (Savane-arbone) Trên 1.000m (từ 1 000 - 1.800m) nhiệt độ trung bình là 200C, lượng mưa - 2.000mm thì có các kiểu Savan
khác nhau (Savan bụi, Savan gỗ, Savan cỏ tranh, Savan Thysanolaena maxima) và thảo nguyên giả (Imperata và Curcuma) Thảo nguyên giả phân bố trong đai 1000 - 1200m Kerbanôp (1962) khi phân loại thực bì Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam), đã
gọi các quần xã cỏ thứ sinh là Savan, ông chia Savan bụi và Savan rừng Savan bụi phát triển trên sườn dốc, có nhiều ánh sáng, theo thành phần loài và đặc điểm chung,
nó giống Savan bụi của Vidal (1958) Savan rừng (Savan điểm cây) chiếm diện tích
lớn hơn, nó phân bố ở độ cao từ 250m trở lên, và phát triển trên đất rừng bị phá Trong kiểu này được chia thành 5 tầng, trong đó tầng cỏ là liên tục và khép tán
Theo M Numata (1979) Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông khô, mùa hè mưa ẩm Trong điều kiện như vậy xuất hiện các quần xã
cỏ thuộc kiểu đồng cỏ Savan chỉ gặp ở các vùng có lượng mưa thấp từ 200 - 800mm,
và mùa khô kéo dài trên 7 tháng Vì vậy Bắc Việt Nam không có Savan, Dương Hữu
Thời (1981) cũng đã đưa ra kết luận tương tự
Thái Văn Trừng (1970, 1978) khi giải quyết những khó khăn về việc phân chia các đơn vị nhỏ trong hệ thống phân loại thảm thực vật và chia các loại thảm cỏ, ông đã phân chia rừng nhiệt đới theo những điều kiện của nơi sống với sự phân chia ra các
kiểu ngoại mạo (kiểu nơi sống, kiểu đất rừng) và gọi các thảm cỏ là "Trảng" - trảng
cây bụi, trảng cỏ, theo ông trảng không phải Savan cũng không phải đồng cỏ
H.Walter (1939, 1970) cho rằng, Savan là loại hình thực vật đặc trưng cho vùng nhiệt đới, nó đối lập với rừng và thảm cây bụi và cũng đối lập với thảm có nhiệt đới Savan là loại hình thực vật cỏ chiếm ưu thế, cỏ là tầng ưu thế sinh thái và trên đó có cây gỗ hay cây bụi mọc rải rác Nếu không có cây gỗ hay cây bụi thì ông gọi là grassland (đồng cỏ) Như vậy theo ông nhiệt đới có cả Savan và đồng cỏ
Theo quan điểm của T.A.Rabốtnốp (1974) thì đồng cỏ có thể có ở tất cả các đai, đổi khí hậu khác nhau và có nguồn gốc khác nhau Nhưng đồng cỏ phải có thảm cỏ
Trang 20nhưng chủ yếu là ở mức độ trung bình, tức độ phì, độ ẩm trung bình, nồng độ các muối cũng trung bình
Tâm đồng với quan điểm phân chia các kiểu thảm thực vật thuộc thảo vùng nhiệt đới của H.Walter, J.Vidal, Kerbanốp , vận dụng quan điểm của Rabốtnốp về tiêu chuẩn xác định đồng cỏ, chúng tôi phân chia các kiểu thảm thuộc thảo Bắc Việt Nam như sau:
- Về loại hình đồng cỏ như tiêu chuẩn của Rabếtnốp đã nêu ở trên, ở Bắc Việt Nam loại hình này chiếm diện tích lớn nhất
- Savan là loại hình thực bì có thảm cây thuộc thảo khép tán và có độ cao nhất định, có cây gỗ hay cây bụi mọc rải rác, gồm những cây hạn sinh, đa số sống lâu năm,
có thể ngừng sinh trưởng trong thời gian nắng nóng và không đạt được độ ẩm từ đất, đất có độ phì, độ ẩm, độ pa thấp, nồng độ muối cũng thấp
- Thảo nguyên là thảm cỏ của vành đai á nhiệt đới, bao gồm những cây cỏ hạn sinh là chính, sống lâu năm, ngửng sinh trưởng vào mùa đông do nhiệt độ thấp hay giữa hè do không đạt được độ ẩm, đất có độ phì, độ pH, nồng độ các muối thuộc loại trung bình
Từ thực tế nghiên cứu chúng tôi thấy: Bắc Việt Nam tồn tại nhiều kiểu Savan, đồng cỏ và các dạng trung gian Trong đai nhiệt đới, trên những vùng đã bị chặt phá, khi mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao, thì sẽ hình thành ở đây loại hình đồng cỏ vì thảm cỏ ở đây gồm các cây cỏ có thân rễ dài, búi thưa thuộc nhóm trung sinh sống lâu năm ngừng sinh trưởng vào mùa đông Trong quá trình tác động tiếp theo con người sẽ làm cho lớp đất mặt bị bào mòn, khả năng giữ nước của đất kém, đất có độ chua cao, trong thảm cỏ tỷ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đây các loài cỏ, cây bụi hạn sinh, và cây đoản mệnh, hình thành Savan cỏ, Savan cây bụi hoặc thảm cây
bụi hạn sinh, quá trình này có thể tóm tắt như sau: Rừng nguyên sinh - rừng thứ sinh
- Đồng cỏ - Savan cỏ hoặc Savan bụi - Thảm cây bụi hạn sinh Do đặc điểm của từng vùng và do mức độ tác động khác nhau của con người mà quá trình này có thể
bỏ qua từng khâu một So với kiểu Savan điển hình thi Savan Việt Nam không có
hiện tượng ngừng sinh trưởng vào mùa hè, mà chỉ hơi ngừng hay giảm vào thời điểm nắng nóng cúc đại và mưa thì giảm
Ở những vùng có độ cao từ 500 - 700m đến 1200 - 1500m, nhiệt trung bình năm
là 1 8 – 220C, lượng mưa trung bình là 1500 - 2500mm , Mưa ở vùng này thường có
một cực đại (chương 1) đa phần vào tháng 8 Mùa khô trùng với thời kỳ lạnh (từ phía Bắc đổ vào) kéo dài 5 tháng Tác động của con người có ít hơn so với đai tồn tại Savan
trên, động thái đất trong mối quan hệ với cọn người là không đồng đều ở từng vùng Một số nơi độ sâu lớp đất mùn còn dầy 25 - 40cm, có nơi chỉ đạt 15 - 20 cm, độ ẩm đất khá cao vào mùa hè, pH trung bình, tầng đá ong nằm sâu 1 – 1,5m, và chưa phát triển mạnh, một vài nơi còn chưa có Những quần xã có tồn tại trong vùng này chủ yếu là
Trang 21hoà thảo và sa thảo, và thuộc nhóm cỏ sống nhiều năm, trung sinh, trung sinh - hạn sinh và hạn sinh, cũng có cả cây một năm, rêu, địa y, thảm cỏ cao, năng suất có thể đạt trên 70 tấn/ha (tươi) Về biến động năm của tích luỹ sinh khối thường thể hiện hai giai
đoạn tích luỹ mạnh, cực đại là giai đoạn sau thường vào tháng 10 hay tháng 11 Giữa
hai giai đoạn có một thời gian dừng hay hơi giảm, thảm cỏ ngừng sinh trưởng vào mùa
đông (khô và lạnh) những quần xã này thuộc loại: đồng cỏ và nếu tỷ lệ cây hạn sinh tăng lên thì gọi là ềông cỏ á thảo nguyên, Hoàng Chung (1988)
Trong điều kiện bị tác động nặng nề, đồng cỏ và đồng cỏ á thảo nguyên sẽ biến đổi cấu trúc thảm cỏ, những yếu tố hạn sinh tăng dần lên, gểam dần trung sinh, nghĩa
là thay đổi mối quan hệ sinh thái học và thực vật quần lạc Điều kiện sống nghèo kiệt
đi, vai trò lập quần của cây trung sinh bị thay thế bằng cây khác, đặc biệt tăng tỷ lệ cây bụi hạn sinh, vì vậy đồng cỏ và đồng cỏ á thảo nguyên sẽ biến đổi thành các kiểu Savan cây thuộc thảo, Savan cây bụi và thảm cây bụi hạn sinh
Vận dụng nguyên tắc phân loại đồng cỏ của A.P.Sennhicốp (1935, 1941) chúng tôi chia thảm cỏ Bắc Việt Nam ra thành ba lớp quần hệ - lớp quần hệ Savan và lớp quần hệ đồng cỏ và lớp quần hệ cây bụi hạn sinh Lớp quần hệ Savan lại chia ra thành
ba nhóm quần hệ là nhóm quân hệ Savan bụi và Savan cỏ và Savan cây thuộc thảo
Lớp quần hệ đồng cỏ được chia thành 4 nhóm quần hệ (phụ thuộc từ độ cao của địa ình và độ ẩm của đất) - Nhóm quần hệ đồng cỏ á thảo nguyên hay đồng cỏ khô, đồng
cỏ, đồng cỏ ẩm và đầm lầy Các nhóm quần hệ lại được chia thành các quần hệ dựa trên cơ sở các đặc điểm ngoại mạo của thảm cỏ, nghĩa là các đặc điểm sinh lý sinh thái
cụ thể là cùng chung loài lập quần (Sennhicốp, 1935).Các quần hệ được phân chia ra các nhóm quần hợp (lớp quần hợp không nêu ra vì tôi mỗi nhóm quần hợp cũng chính
là một lớp quần họp), theo dấu hiệu ưu thế loài và theo đặc điểm cấu trúc thảm
Dưới nhóm quần hợp là quần hợp phân chia theo thành phần, cấu trúc (bảng l,2,3,4,5,6)
3.1.2.1 Lớp quần hệ đồng cỏ
ĐỒNG CỎ TRONG ĐAI Á NHIỆT ĐỚI
Trong vùng á nhiệt đới Bắc Việt Nam, tồn tại 3 nhóm quần hệ cỏ: đồng cỏ á thảo nguyên, đồng cỏ và đồng cỏ ẩm, bảng 1, 2
Nhóm quần hệ á thảo nguyên đồng cỏ Quần hệ cỏ cao Imperateta cylindrice
Thuộc quần hệ này bao gồm tất cả những thảm cỏ của đai á nhiệt đới bắc Việt Nam trên đất còn khá tốt Đặc điểm nổi bật là thảm cỏ cao, có cả cây thuộc thảo và cây bụi, trong nhóm quần hệ này có 5 nhóm quần hợp và 14 quần hợp Điều kiện cơ bản cho sự tồn tại của quần hệ này là đất còn đủ ẩm, các quần hợp trong quần hệ này khác nhau về chế độ ẩm Nó phân bố trên sườn và đỉnh núi vừa Thực vật trong các quần
Trang 22nhiều có thể giảm xuống tới 15 tấn/ha hay thấp hơn
Nhóm quần hợp Eulalieta quadrinervis
Những loài chủ yếu của những quần hợp trong nhóm này là những loài thích nghi trong những vùng đỉnh hay lưng chừng đồi núi cao hay trung bình mà đất còn khá tốt,
độ ẩm thấp Trong vùng này (đai) thì nhóm quần hợp Eulalieta quadrinervis là chiếm
ưu thế Những loài chính của các quần hợp trong nhóm này là cây cỏ nhiều năm, trung sinh-hạn sinh Ưu thế chính là những cây thuộc họ hoà thảo Trong số 6 loài ưu thế của nhóm quần hợp này thì có 5 loại cũng là ưu thế trong các nhóm quần hợp khác thuộc quần hệ này Nhiều loài trong nhóm quần hợp này có mặt trong các quần hợp thuộc cùng quần hệ Mỗi quần hợp có vùng phân bố xác định và môi trường sống xác định
Nhóm quần hợp Eulalieta quadrinervis được chia thành 3 quần hợp
Quần hợp: Eulalia qualrinervis + Arundinella bengalensis + Imperata cylindrica Quần hợp này phân bố trên đỉnh của các núi trung bình vùng Tây bắc có
đất Feralit trên núi Môi trường sống khô và chóng thoát nước Lớp cỏ phát triển tốt, khối lượng thực vật tập chung chủ yếu ở độ cao từ 0 đến 80-90cm Ngoài 3 loài kể
trên, những loài thường gặp trong quần hợp này là Arundinella nepalensis, Cymbopogon tortilis, Hyparrhenia bracteata, Themeda triandra vai vulgaris những loài có độ phong phú thấp hơn là Themeda caudata, Faspalum scrobiculatum, Neylraudia reynaudiana
Quần hợp: Eulalia quadrinervis + Arundinel1a bengalensis + Cymbopogon caesius Phân bố trên đỉnh núi trung bình vùng đông Bắc Việt Nam Trên vùng đất
mùn Feralít trên núi Đây cũng thuộc vùng có môi trường khô, dễ thoát nước Thảm cỏ phát triển tốt, khối lượng thực vật tập chung chủ yếu trong lớp từ mặt đất đến 80 hay 100cm năng suất đạt 40 - 50 tấn/ha Những loài hoà thảo chính hay gặp ở đây là:
Eulalia phaeothix, Cymbopogon tortilis, Themeda triandra, Arundinella nepalensis, Narenga fallax, Polytoca digitaria, Sorgum nitidum, Neyraudia reynaudiana, Apluda varia var mutica Vv…
Quần hợp: Eulalia quadrinervis +Ischaemum indicum, phân bố trên đỉnh núi
thấp và trên các gò thoai thoải bát úp đông bắc Việt Nam, trên đất Feralít mùn trên núi Đất của các nơi này có độ ẩm trung bình, đất khá phì nhiêu Trong số các quần hợp của nhóm này nó đứng vị trí thấp nhất về mặt địa lý và thuận lợi hơn cả về mặt sinh thái học.' Khối lượng thực vật trong loại hình đồng cỏ này tập trung ở độ cao đến 70 -
80cm, năng suất đạt 45 - 50 tấn/ha những loài hoà thảo thường gặp là: Eulalia phaeothix, Cymbopogon caesius, Themeda triandra, Rhynchospora rubra, Apluda varia var mutica, Arundinella bengalensis, A.nepalensis, Polytoca digitata, Digitaria adscendens, Schisachyrium brevifolium, Pogonaterum crinitum,…
Nhóm quần hợp: Imperataeta cylindricae
Nhóm quần hợp Imperataeta cylindricae được phân biệt bởi nhu cầu thấp về độ
Trang 23ẩm và độ phì của đất và rất khác nhau trong các quần hợp Đây là những vùng có độ
ẩm thấp trên các đỉnh hay sườn đồi Đất có thể từ loại Feralít nghèo mùn trên núi cho tới loại khá phì nhiêu Quá trình rửa trôi xảy ra trong mối quan hệ khăng khít với độ dốc lớn của các sườn đồi (30 – 450) Rất nhiều loài thực vật gặp trong nhóm quần hợp này và đóng vai trò quan trọng Nhóm quần hợp này được tạo thành chủ yếu từ những thực vật nhiều năm trung sinh và trung sinh hạn sinh, nhiều loài ưu thế trong nhóm quần hợp này cũng là ưu thế trong những nhóm quần hợp khác Các quần xã của nhóm quần hợp này đang được sử dụng làm bãi chăn thả; những thảm cỏ trên các sườn có độ dốc lớn thường ít được sử dụng
Nhóm quần hợp Imperataeta cylindricae bao gồm 6 quần hợp
Quần hợp Imperataeta cylindricae phân bố rộng rãi trên các sườn và các gò của
vùng núi tây Bắc của Việt Nam, cũng như trên các vùng đất trống của đai này Quần
hợp này còn phân bố trong nhiều vùng khác nhau về điều kiện sinh thái (độ ẩm và độ phì của đất) Thảm cỏ loại này có chỉ số trung bình về chiều cao (60 – 70cm) và chỉ số trung bình về năng suất (30 - 40 tấn/ha) Những loài hoà thảo chủ yếu vùng này là Cymbopogon caesius, Miscanthus floridulus,Themda gigantea, Eulalia phaeothrix, Narenga prphyrocoma, Saccharum arundinaceum, những cây thuộc họ sa thảo thường gặp là: Fimbristylis annua, Carex baviensis;cây thuộc thảo khác là: Blumea balsamifera, Inula cappa,Elephantopus scaber, Pueraria phaseoloides, cây bụi thường gặp: Melastoma septemnervium…
Quần hợp: Imperata cylindrica + Cymbopogon caesius + Arundinella nepalensis, phân bố rộng rãi trên các sườn đồi dốc của bắc Việt Nam (Độ dốc 30 –
35 0 ) Căn cứ theo điều kiện độ ẩm và độ phì của đất thì quần hợp này đa dạng nhất
trong nhóm quần hợp của quần hệ cỏ tranh và nó thường phân bố ở phần trên của sườn đồi, núi Hầu như tất cả các loài thực vật trong quần hợp này đều phổ biến và khá phong phú trong các quan hệ này Thực vật trong quần hợp này chủ yếu thuộc bọn trung sinh hạn sinh chiều cao trung bình của thảm cỏ là 60 - 70cm Những loài hoà
thảo thường gặp là: Narenga fallax, Eutalia quadrinervis, Ischaemum indicum, Miscanthus floridulus, Paspalum scrobiculatum Sa thảo thường gặp là: Carex sp, Rhynchospora rubra, Fimbristylis sp; Cây bụi thường gặp là: Helicteres angustifolia, Erigeron canadense, Pteridium aquilinum, Aporosa dioica, Phyllanthus emblica,… Quần hợp : Imperata cylindrica + Ischaemum indicum, phân bố rộng rãi vùng
núi đông bắc của Việt Nam, thường gặp trên những sườn dốc 15 – 300, và khá đa dạng
về mặt điều kiện sinh thái Độ ẩm của đất là yếu tố quyết định hơn cả về sự tồn tại quần hợp này, tiếp theo mới là độ phì Trong 4 loài đặc hữu của hoà thảo có những loài
điển hình cho loại hình đồng cỏ khô, và đặc trưng bởi những loài đặc hữu: Arundinella nepalensis, Paspalum scrobiculatum Một số loài kém ưu thế hơn: Digitaria
Trang 24aurea, fimbristylis annua, Viola arcuata, Centella asiatica, thảm cỏ phát triển tốt, độ
cao trung bình là 50 - 60cm
Trang 25Bảng 1: Bảng phân loại đồng cỏ á thảo nguyên bắc Việt Nam trong đai á nhiệt đới độ cao
Eulalieta quadrinervis Eulalia quadrinervis + Arundinella bengalensis + Cymbopogon caesius
Eulalia quadrinervis + Ischaemum indicum
Hoà thảo cây cao trung bình Arundinelleta nepalensis
Arundinelleta nepalensis
Arundinella nepalensis + Imperata cylindrica + Ischaemum indicum Đồng cỏ
á thảo
nguyên
Hoà thảo cây cao Imperateta cylindricae
Imperateta cylindrrica Imperata cylindrica
Imperata cylindrica + Cymbopogon tortilis Imperata cylindrica + Ischaemum indicum Imperata cylindrica + Cymbopogon caesius + Arundinella nepalensis Hoà thảo cây cao
Ischaemeta indici
Ischaemeta indici Ischaemum indicum
Ischaemum indicum + Arundinella nepalensis
Đồng
cỏ
Đồng cỏ
Digitarieta longiflorae
Digitarieta longiflorae Digitaria longiflora + Paspalum scrobiculatum + Eragrostis geniculata
Trang 2626
Hoà thảo thấp Paspaleta conjugati
Paspaleta conjugati Paspalum conjugatum
Hoà thảo cỏ cao Phragmiteta communis
Phragmiteta communis
Fimbristylis Juncus Xyrid
Trang 27Bảng 2: Bảng phân loại đồng cỏ á thảo nguyên bắc Việt Nam trong đai á nhiệt đới độ cao
Eulalia quadrinervis + Arundinella bengalensis + Imperata cylindrica Eulalia quadrinervis + Arundinella bengalensis + Cymbopogon caesius Đồng cỏ
Imperateta cylindricae
Imperata cylindrica Imperata cylindrica + Cymbopogon caesius + Arundinella nepalensis Imperata cylindrica + Themeda gigantea
Paspalum conjugatum
Hoà thảo cây cao Phragmiteta communis
Phragmiteta communis
Phragmites communis Đồng cỏ
Leersia hexandra
Sa thảo cây cao Fimbristyleta Fimbristylis
Trang 28Lophopogoeta Intermedi
Lophopogon intermedium + Arundinella nepalensis + Ischaemum indicum
Lophopogon intermedium + Arundinella nepalensis Imperateta
cylindricae
Imperateta cylindricae
Imperata cylindrica + Arundinella nepalensis + Ischaemum indicum
Hoà thảo cây cao trung bình
Ischaemeta indici
Ischaemeta indici Ischaemum indicum + Dimeria kurzii
Ischaemum indicum + Cymbopogon tortilis + Paspalum scrobiculatum Ischaemum indicum + Paspalum scrobiculatum + Digitaria longiflora Ischaemum indicum + Cymbopogon coloratus + Digitaria longiflora
Eragrosteta geniculatae
Digitaria longiflora + Eragrostis geniculata Eragrostis geniculata + Paspaalum scrobiculatum + Digitaria longiflora
Trang 29Đồng cỏ
Hoà thảo cây thấp
Chrysopogoneta aciculati
Chrysopogoneta aciculati
Chrysopogon aciculatus Chrysopogon aciculatus + Cynodon dactylon
Đồng cỏ cây cao trung bình Ischaemeta aristate
Ischaemeta aristate Ischaemum aristatum var vallax + Fimbristylis polytricoides
Vetiverieta zizanoides
Vetiverieta zizanoides
Vetiveria zizanoides + Hemarthria compressa + Fimbristylis polytricoides
Đồng cỏ
ẩm
Hoà thảo cây cao Phragmiteta communis
Phragmiteta communis
Phragmites communis
Hoà thảo cây thấp
Leersieta hexandrae
Leersieta hexandrae Leersia hexandra
Đầm lầy
Sa thảo cây cao trung bình
Fimbristyleta Junceta Xyrideta
Fimbristylis Juncus Xyrid
Trang 30Imperata cylindricae
Imperata cylindrica + neyraudia arundinacea + Arundinella nepalensis
Hoà thảo cây cao trung bình
Ischaemeta indici
Ischaemeta indici Iscahemum indicum + Cymbopogon tortilis + Paspalum scrobiculatum
Iscahemum indicum + Paspalum scrobiculatum + Digitaria longiflora Paspalum scrobiculatum + Cymbopogon tortilis + Digitaria longiflora
Eragrosteta geniculatae
Digitaria longiflora + Eragrostis geniculata Eragrostis geniculata + Paspalum scrobiculatum + Digitaria longiflora Đồng cỏ
Đồng cỏ
Đồng cỏ cây thấp Chrysopogoneta aciculati
Chrysopogoneta aciculati
Chrysopogon aciculatus Chrysopogon aciculatus + Cynodon dactylon
Trang 31Hoà thảo cây thấp Paspaleta
conjugatae
Paspaleta conjugatae
Paspalum conjugatum
Đồng cỏ
ẩm Hoà thảo cây cao
trung bình Vetiveriata zizanoides
Vetiveriata zizanoides
Vetiveria zizanoides + Hemarthria compressa + Fimbristylis polytricoides
Đầm lầy cỏ cao Phragmiteta communis
Phragmiteta communis
Phragmites communis
Đầm lầy cỏ thấp Leersieta
hexandrae
Leersieta hexandrae
Leersia hexandra Đầm lầy
Sa thảo cây cao trung bình
Fimoristyleta Junceta Xyrideta
Fimoristylis Juncus Xyrid
Trang 32Thysanolaeneta maximae
Thy sanolaena maxima + Saccharum arundinaceum
Sacchareta arundinace
Sacchareta arundinace
Saccharum arundinaceum Savan
cây thảo
Miscantheta foriduli
Miscantheta foriduli
Miscanthus floridulus + Saccharum arundinaceum
Chromolaeneta Chromolaeneta Chromolaena odorata + Imperata cylindrica Savan
cây thuộc
thảo Dicranoprerieta linearis Dicranoprerieta linearis Dicranopteris linearis + Aporosa dioica Savan ẩm
Savan cây bụi
Melastometa septemnervi
Melastometa septemnervi
Melastoma septemnervium + Rhodomyrtus tomentosa + Imperata cylindrica Melastoma septemnervium + Ischaemum indicum + Imperata cylindrica Cây bụi
hạn sinh
Cây bụi
hạn sinh
Baeckeeta frutescens
Baeckeeta frutescens
Baeckeeta frutescens + Rhodomyrtus tomentosa + Melastoma septemnervium Baeckeeta frutescens + Rhodomyrtus tomentosa + Dicranopteris linearis
Trang 33Rhodomyrtus tomentosa + Melastoma septemnervium + Dicranopteris linearis
Rhodomyrteta tomentosae
Rhodomyrteta tomentosae
Rhodomyrtus tomentosa + Baeckeeta frutescens Cratoxyloneta
cochinchinensis
Cratoxyloneta cochinchinensis
Cratoxylon cochinchinensiss + Aporosa dioica + Rhodomyrtus tomentosa
Trang 3434
Từ 0 đến 500-600m (vùng Tây Bắc) Lớp
Thysanolaeneta maximae
Thysanolaena maxima + Saccharum arundinaceum Thysanolaena maxima + Imperata cylindrica
Miscantheta floriduli
Miscantheta floriduli
Miscanthus floridulus + Saccharum arundinaceum
Savan cây hoa
thảo
Sacchareta arundinace
Sacchareta arundinace
Saccharum arundinaceum
Chromolaeneta odorati
Chromolaeneta odorati
Chromolaena odorata + Imperata cylindrica Savan
cây thuộc
thảo Dicranopterieta
linearis
Dicranopterieta linearis
Aporosa dioica + Dicranopterieta linearis Savan ẩm
Savan cây bụi
Melastometa septemnervi
Melastometa septemnervi
Melastoma septemnervium + Ischaemum indicum + Imperata cylindrica
Rhodomyrteta tomentosae
Rhodomyrteta tomentosae
Rhodomyrtus tomentosa + Melastoma septemnervium + Dicranopterieta linearis
Trang 35Nhóm quần hợp: Arundinellaeta nepalensis
Những loài có trong nhóm quần hợp này hoàn toàn điển hình cho quần hệ
Arundinellaeta nepalensis Những loài đặc trưng cho vùng đỉnh núi thì ở đây có độ
gặp không lớn phần lớn những loại trong nhóm này phổ biến trong các môi trường sống như sườn thấp trung bình và chân đồi của đông bắc Việt Nam, ở đó độ ẩm của đất hơi thấp, đất có độ thấm nước kém hơn so với môi trường sống nhóm quần hợp xã
kể trên Hầu hết các loài thực vật thường gặp đều có mặt trong các quần xã của nhóm
quần hợp này, thuộc quần hệ cỏ cao (hoà thảo) Nó bao gồm chủ yếu các loài trung
sinh - hạn sinh sống nhiều năm Các quan xã thuộc nhóm này được dùng làm bãi chăn gia súc
Nhóm quần hợp này gồm 2 quần hợp:
Quần hợp: Arundinellaeta nepalensis + Imperata cylindrica + schaemum indicum phân bố rộng rãi trên các sườn đồi của các dẫy núi, so với quần hợp Arundinellaeta nepalensis + schaemum indicum thì nó thường phân bố nơi đất khô cằn
hơn Độ cao trung bình thảm là 50 - 70cm Những cây thuộc họ hoà thảo thường gặp ở
đây là Paspalum scrobiculatum, Narenga falax, Miscanthus floridulus,Cymbopogon caesius, Schizachyrium brevifolium; những cây thuộc họ sa thảo là Rhynchospora rubra, Fimbristylis annua các cây thuộc thảo như Erigeron canadens, Tylophora ovata, helicteres angustifolia, Pteridum aquilinum
Quần hợp: Arundinellaeta nepalensis + schaemum indicum phân bố rộng rãi trên
các sườn và chân các dẫy núi, nơi có độ ẩm và độ phì của đất thuộc loại trung bình Quần hợp bao gồm những loài chủ yếu là trung sinh, hạn sinh Những loài hoà thảo
thường gặp là: Imperata cylindrica,Cymbopogon caesius, Digitaria propinqua, D.pruriens Eragrostis unioloides, những loài sa thảo thường gặp là: Fimbristylis annua, cây thuộc thảo Hypoxis aurea, Vioa arcuata, Salomonia cantoniensis, Hypericum japonicum,Centella asiatica; cây bụi: -Melastoma septemnervium
Nhóm quần hợp: Ischaemeta indici
Khác với nhóm quần hợp khác là nhóm quần hợp này không có loài đặc trưng riêng cho mình, nhiều loài thuộc quần hệ cỏ tranh cũng phổ biến trong nhóm quần hợp này, những loài đó thích ứng với độ ẩm cũng như độ phì đất cao hơn Nhóm quần hợp này hay gặp hơn cả la trong các vùng thấp, xen kẽ giữa các dẫy núi, đồi của vùng đông bắc Việt Nam, chủ yếu là những cây trung sinh nhiều năm, một số ít loài là trung sinh - hạn sinh Các quần xã của nhóm quần hợp này thường được dùng làm bãi chăn, nhóm quần hợp này có 2 quần hợp
Quần hợp: Ischaemum indicum + Arundinella nepalensis phân bố rộng rãi vùng
chân đồi hay vùng trũng (thấp) của các dẫy núi, quần hợp này hay gặp ở những vùng
Trang 36acuminata,Elephantopus scaber, Hypericum japonicum, Salomonia cantoniensis,Viola betonicifolia, Centella asiatica,Hypoxis aurea, Fimbristylis annua, Cymbopogon caesius, Imperata cylindrica, Paspalum scrobiculatum, Eragrostis unioloides, Amphilophis pertusa, Digitaria timorensis
Quần hợp: Ischaemum indicum phân bố rộng rãi trên những vùng thấp và đất có
độ ẩm, độ phì khá cao trong quần hợp thường gập các loài: I.rugosum, Digitaria longiflora, D.ischaemum, D.viloascens,P.scrobiculatum, Paspalum orbiculatum P.conjugatum, Eragrostis geniculata, E japonica, Schizachyrium brevifolium, Pogonatherum paniceum, Panicum miliaceum, P.montanum, Setaria glauca, S.barbata,Rhynchospora rubra, Scleria radula, Cerex sp, Fimbristylis annua, Blumea balsamifera, Clerodendron cyrtophy, Pteridium aquilinum, Dicranopteris linearis,…
Nhóm quần thể đồng cỏ
Quần hệ: Paspaleta conjugatae
Quần hợp: Paspalum conjugatum, thường gặp ở những nơi ẩm vùng đất thấp
Khác với các quần hợp khác, quần hợp này không có tổ hợp loài đặc trưng riêng cho
nó Những loài gặp trong quần hợp này cũng thường xuyên gặp ở quần hệ cỏ thấp, đặc điểm môi trường là độ ẩm trung bình và đất tốt trong vùng nhiệt đới Quần hợp này cũng bao gồm các quần xã được sử dụng làm bãi chăn thành phần loài nói chung
nghèo so với các quần hợp khác Thường gặp các loài sau: Digitaria longiflora, Imperata cylindrica,Paspalum scrobiculatum, Panicum montanum, Elphantopus scaber Hypericum japonicum, Melastoma septemnervium, Chromolaena odorata
Về điều kiện sinh thái và ngoại mạo, quần hợp này đứng vị trí trung gian giữa loại hình đồng có và đồng có á thảo nguyên
Nhóm quần hệ đầm lầy
Thuộc nhóm quần hệ này bao gồm tất cả các loại đồng cỏ ẩm, ưu, hoặc đôi khi bị ngập Đất thuộc loại nghèo mùn và chua Những loài đặc trưng cho nó bao gồm các loại cỏ hoà thảo chịu nước thân cao, sa thảo và các đại diện thuộc thảo khác có thân cao, thỉnh thoảng có cả cây gỗ và cây bụi Nhóm quần hệ này chia ra 3 quần hệ, sự phân chia này dựa vào ngoại mạo và loài ưu thế Gồm có quần hệ cỏ cao thuộc sa thảo, quần hệ cỏ cao hoà thảo, quần hệ cỏ hoà thảo thấp
Quần hệ cỏ cao thuộc sa thảo
Bao gồm những quần xã có ẩm ướt, những loài gặp ở đây diễn hình cho kiểu nơi sống thừa ẩm, nhiều khi là có nước ngập mặt đất và kéo dài cả thời kỳ dinh dưỡng Những quần xã này thường rất nghèo về thành phần thực vật có một số loài sa thảo chiếm ưu thế, đặc trưng và cũng là loài có ý nghĩa chỉ thị môi trường - những loài chỉ
thị đất nghèo và chua Thuộc vào quần hệ này có các quần hợp Fimbristyleta, Junceta
và Xyrideta Tất cả các quần hợp này đều thích nghi với môi trường thừa ẩm, đất hơi
nghèo chất dinh dưỡng, nói chung phản ánh đúng qui luật phân bố địa lý của nó Ý
Trang 37nghĩa kinh tế của quần hệ này thấp, được phân chia thành 3 quần hợp
Quần hệ cỏ cao thuộc hoà thảo - Phragmiteta
Vùng phân bố của các quần xã thuộc quần hệ này (Phragmiteta.) có sự độc lập
về thành phần loài, những loài này thích nghi những nơi sống có thừa ẩm, đôi khi có
vùng quanh năm nước ngập (phần gốc) Những môi trường sống như vậy thường có ở
các bãi ven sông suối, hoặc các hồ ao nhỏ trong thung lũng giữa các dẫy núi Những đại diện của quần hệ này thường biểu thị tính đồng nhất khá cao về loài, nó là những loài ẩm sinh hay thuỷ sinh Những loại trung sinh gặp ở đây rất cá biệt, nó là loài đặc trưng cho quần hệ khác Cai trị kinh tế của các quần hệ này không lớn, đôi khi cũng sử dụng làm bãi chăn, song vì thường bị ngập nước một phần nên gây khó khăn, giá trị
dinh dưỡng cũng kém Thuộc vào quần hệ này có một quần hợp Phragmites australis,
đi cùng với nó thường có loài Leersia hexandra của quần hê cỏ thấp
Quần hệ cỏ hoà thảo thấp - Leerisieta
Về đặc điểm môi trường sống thì hội quần hệ Leerisieta và Phragmiteta.là giống nhau, nhưng quần hệ Leerisieta thường gặp vùng đất tốt hơn Nó thường chiếm những
vùng trống trải, trong một số trường hợp có thể gọi nó là quần xã tiên phong cho loại môi trường sống này Trải qua một thời gian các quần xã này sẽ bị thay thế bởi các
quần xã của Phragmiteta hoặc các quần hệ khác đặc trưng cho quần xã vùng ẩm ướt Quần hệ Leersieta có một quần hợp là Leersia hexandra; những loài thường gặp là Isachne globosa, Ischaemum rugosum, Panicum repens, Fimbristylis Sp, Heleocharis acutangula,Rhynchospora columbosa, Hypericum japonicum, Xiris sp
ĐỒNG CỎ TRONG ĐAI NHIỆT ĐỚI (bảng 3,4)
Nhóm quần hệ đồng cỏ khô
Thuộc nhóm quần hợp này gồm có 4 quần hệ đồng cỏ hoá thảo cây cao; tất cả các bãi chăn của đai này đều thuộc quần hệ hoà thảo cây cao Những quần hệ này hàng năm đều nhận được lượng nước mưa khá lớn và đất khá tốt, nó phân bố chủ yếu trên các sườn đồi núi thấp của vùng đông bắc Việt Nam Vùng tây bắc những quần hệ này
ít gặp hơn, các quần hệ cỏ cao này có thể chia thành 10 quần hợp thuộc 4 nhóm quần hợp Những loài mọc trong các quần hợp này thường ở thời gian đầu mọc chậm, từ tháng 6 trả đi mọc nhanh hơn, chiều cao tối đa của thảm cỏ đạt 120cm
Quần hệ : Lophopogoeta intermedi
Thuộc nhóm này có hai quần hợp
Quần hợp: Lophopogon intermedium + Arundinella nepalensis + Ischaemum indicum phân bố trên các vùng đồi bát úp (sườn có độ dốc tới 20 0 ) của vùng đông bắc
Việt Nam, thuộc tỉnh Quảng Ninh, độ cao trên mặt biển đạt tới 400m lượng mưa trung
Trang 38digitata, Schizachyrium brevifolium, Paspalum scrobiculatum,P.orbiculatum, P.longifolium, Panicum tripheron, Themeda triandra, Scleria radula, Fimbristylis annua, Rhynchospora rubra, Helicteres angustifolia, Dicranopteris linearis, Lycopodium cernuum, Osbeckia sinensis,…
Quần hệ cỏ tranh Imperateta cylindricae
Nhóm quần hợp Imperateta cylindricae có 2 quần hợp:
Quần hợp Imperata cylindrica + Arundinella nepalensis + Ischaemum indicum,
thường gặp ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Thái, Lạng Sơn Hà Tuyên, Và thường phân bố trên các sườn núi thấp Đất khá tốt và ẩm, thêm nước tốt Những cây ưu thế ở đây thường thuộc loại trung - sinh và trung sinh hạn sinh Chiều cao trung bình của thảm
cỏ là 150 - 200cm chủ yếu trong thành phần là cây hoà thảo, thứ đến là cây thuộc
thảo; độ phủ trung bình là 90% (đôi khi hơn) Các quần xã của quần hợp này được sử dụng làm bãi chăn thả Những loài thường gặp là : Eulalia phacothrix, Themeda gigantea, Miscanthus floridulus, Phragmites karka, Arundo donax, Digitaria longiflora, Eragrostis geniculata, Paspalum scrobiculatum, Schizachyrium brevifolium, Fimbristylis annua Rhynchospora rubra, Liquidambar formosana, Rhodomyrtus tomentosa, Blumea balsamifera, Clerodendron cyrtophyllum, Desmodium pulchllum, Pteridum aquilinum, Dicranopteris dichotoma
Quần hợp: Imperata cylindrica + Neyraudia arundinacea + Arundinella nepalensis, bao gồm những loài thực vật trung sinh-hạn sinh và trung sinh, mọc trên
đất tốt, đất đá vôi, mới phong hoá Vùng phân bố của quần hợp này là vùng hơi khô
nhưng đất khá mầu mỡ, đồng cỏ có chỉ số trung bình về chiều cao thảm cỏ (60 – 80cm) Một số loài đóng vai trò rất quan trọng trong thành phần thảm cỏ của quần hợp này cũng như một số quần hợp khác trong quần hệ Những loài thường gặp là: Apluda varia var.mutica, Ophiurus exaltatus, Paspalun longifolium, Sorghum nitidum,Cymbopogon caesius, Themeda gigantea, Pogonatherum paniceum: Cây bụi thường gặp là: Cratoxylon prunifolium, Rhus sinensis, Rubus alcaefolius,Callicarpa sp,…
Quần hệ: Ischaemeta indici
Nhóm quần hợp.- Ischaemeta indici
Nhóm quần hợp này bao gồm các quần xã đồng cỏ ẩm và hơi khô, đất tốt hoặc đất rất tốt Những loài chủ yếu cho các quần xã này là những loài thường gặp ở nhiều nơi khác, chủ yếu là những loài ưa ẩm cao và có biên độ sinh thái rộng Nhóm quần hợp được tạo thành chủ yếu là bọn thực vật trung sinh và trung sinh - hạn sinh, ưu thế
là những cây thuộc họ hoà thảo Trong số 7 loài ưu thế của quần hợp (cỏ cao thuộc họ hoà thảo) thì có 6 loài là của nhóm quần hợp này Nhóm này có 4 quần hợp
Quần hợp: Ischaemum indicum + Dimeria kurzii
Trang 39Các quần xã của quần hợp này phân bố trên các lòng chảo của các dãy đồi bát úp thuộc lỉnh Quảng Ninh Quá trình xói mòn xảy ra mạnh mẽ Càng lên cao lớp đất càng
mỏng Nhìn chung yếu tố môi trường ở đây thuộc loại trung bình (Về độ ẩm và độ phì của đất) Thực vật trong quần hợp này thuộc nhiều nhóm sinh thái khác nhau: trung
sinh, trung sinh - hạn sinh, hạn sinh: phức tạp cả về dạng sống - cây một năm, cây
nhiều năm, cây thảo, cây bụi nửa bụi ; những loài hoà thảo chủ yếu là: Paspalum scrobiculatum,Imperata cylindrica, Digitaria longiflora, những loài sa thảo thường gặp: Rhynchospora rubra, Fimbristylis annua Cây thuộc thảo: Dicranopteris linearis, Lycopodium cermum Pteris insiguis, Pteridium aquilinum,Osbeckia zeylanica; cây bụi: Baeckea frutescens, Cratoxylon prunifolium,, Giá trị chăn thả của các quần xã
này thấp:
Quần hợp: Ischaemum indicum + Cymbopogon tortilis + Paspalum scrobiculatum Phân bố vùng núi thấp của tỉnh Hoàng Liên Sơn (cũ) trên đất khá ẩm
khá mầu mỡ Trong thành phần hệ thực vật của quần hợp gồm những loài phần lớn là
ưa ẩm Những loài thường gặp là: Digitaria longiflora, Polytoca digitata, Sorghum nitidum, Ischaemum aristatum, Sacciolepis indica, Fimbristylis annua, Dicranopteris linearis, Melastoma septemmervium, Rhodomyrtus tomentosa, Breynia fruticosa, Clerodendron cyrtophyllum Quần hợp bao gồm những quần xã thường dược sử
- trung sinh và trung sinh Chiều cao thảm cỏ khoảng 20 - 25cm hay thấp hơn Năng
suất tung bình 3-5 tấn/ha Những loại chủ yếu: Eragrostis geniculata, Chysopogon aciculatus, Baeckea frutescens, Clerodendron cyrtophyllum, Melastoma septemnervium, Rhodomyrtus tomentosa
Quần hợp: Ischaemum indicum + Cymbopogon coloratus + Digitaria longiflora,,
về điều kiện môi trường thì quần hợp này giống quần hợp vừa nói trên, quần hợp này thường gặp ở trên các đỉnh của những đồi thấp bát úp thuộc vùng trung tâm bắc Việt
Nam Những loài thường gặp là: Imperata Cylindrica, Eragrostis geniculata, Chrysopogon aciculatus, Schizachyrium brevifolium Themeda triandra, Fimbristylis annua, Osbeckia zeylanica, Dicranopteris linearis, Melastoma septemnervium,…
Nhóm quần hợp: Eragrosteta genic'ulata Thường phân bố trên các sườn núi,
đồi Quá trình bào mòn đất ở đây xảy ra mạnh mẽ, vì thế lớp đất mỏng Lớp Feralit
Trang 40Nhóm quần hợp này được chia thành 2 quần hợp, hai quần hợp này có khác nhau
về môi trường sống Quần hợp Digitaria longiflora + Eragrostis geniculata thường gặp nơi đất khô cằn hơn là quần hợp Eragrostis genicu1ata + Paspalum scobiculata + Digitaria longifiora
Nhóm quần hệ đồng cỏ
Quần hệ cỏ hoà thảo thấp - Chrysopogoeta aciculati
Thuộc vào quần hệ này bao gồm loại hình đồng cỏ thấp trên các đồi núi thấp, những vùng thấp và bằng giữa các day núi, nó thường được sử dụng làm bãi chăn thả Quần hệ này không có loài đặc trưng riêng, nhưng những loài trong quần hệ này thường có khả năng chịu dẫm đạp và gặm hàng ngày của gia súc Vì bị chăn thả
thường xuyên nên quá trình bào mòn đất (đặc biệt là sườn đồi) xảy ra rất mạnh mẽ
Đặc điểm đặc trưng cho các loài cỏ cửa quần hệ này là khả năng thích nghi chăn thả và tăng nhanh khả năng sinh sản dinh dưỡng trường hợp này thường xảy ra ở những vùng mà phần dưới đất khó phát triển vì gặp chướng ngại hay đất quá khô cứng, lớp đất mặt bị bào mòn, đất bị Feralít ngoài ra sự phát triển thân bò ở đây có lẽ còn do sự
sinh sản bằng hạt gặp khó khăn (do chăn thả thường xuyên) Do tổng hợp các điều
kiện sống khó khăn nên lớp phủ thực vật ở đây kém, độ phủ trung bình (50 - 60%) năng suất là 2 - 3 tấn/ha có khi thấp hơn Chiều cao trung bình của cỏ là 10cm
Nhóm quần hệ được chia thành 2 quần hệ đó là Chrysopogoeta aciculati và Paspaleta conjllgatae Hai quần hệ này gồm có 2 nhóm quần hợp
Nhóm quần hợp – Paspaleta conjugatae
(Đã được mô tả ở trang 41)
Nhóm quần hợp: Chysopogoeta aciculati, đặc trưng cho các đồng cỏ ùng thấp và
đặc biệt là nhanh chóng xâm chiếm vùng đất chống, những nơi mà độ ẩm và đó phì đất còn khá cao Trong điều kiện chăn thả nặng nề, độ ẩm của đất giảm, làm cho cấu trúc thảm cỏ kém đi Quần hợp cỏ này được tạo thành từ những cây cỏ trung sinh, thành phần loài nghèo, mức độ chăn thả tuỳ theo từng vùng có khác nhau Thuộc vào nhóm
quần hợp này có hai quần hợp: Chrysopogon aciculatus và Chrysopogon aciculatus + Cynodon dactylon Thường quần hợp cỏ may phân bố nơi khô cằn, còn quần hợp sau
thì thường gặp nơi đất tốt, ẩm hơn và thường trong vai trò kẻ tiên phong
Nhóm quần hệ đồng cỏ ẩm ướt
Những quần xã thuộc nhóm quần hệ này thường phân bố ở xung quanh các hồ
nước, bị ngập nước có định kỳ (đặc biệt vùng thấp) Thí dụ: Những quần xã trên các
bãi bồi ven sông hay giữa lòng sông xung quanh ao hồ tự nhiên hay nhân tạo, cũng như các thung lũng, các khe núi Đây là những vùng có mực nước ngầm nâng cao, thường là phủ mặt đất Các quần hợp được tạo thành bởi các loài cỏ tạp hoà thảo và sa thảo, thực vật chủ yếu là cây trung sinh ẩm sinh và thuỷ sinh, các quần xã của nó được