1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía bắc việt nam (nghiên cứu trường hợp bản sả séng, sapa, lào cai và bản lác, mai châu, hoà bình)

23 931 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Bản Sả Séng, Sa Pa, Lào Cai và Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình)
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Dân tộc học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 367,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Sapa, Lào Cai và bản Lác, Mai Châu, Hoà Bình Nguyễn Thị Hường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân v

Trang 1

Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp bản

Sả Séng, Sapa, Lào Cai và bản Lác,

Mai Châu, Hoà Bình) Nguyễn Thị Hường

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bộ môn Nhân học Chuyên ngành: Dân tộc học; Mã số: 60 22 70 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Chính

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Nhận diện sự hình thành các điểm du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc

Việt Nam, điều kiện xuất hiện và những đặc điểm phát triển của nó ổ Việt Nam Phân tích các hoạt động du lịch tại cộng đồng, dịch vụ du lịch và sự tham gia của ngườ dân địa phương vào hoạt động du lịch Trên cơ sở đó, làm rõ vai trò của cộng đồng trong việc tham gia tổ chức khai thác, phát triển du lịch, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên

và bảo tồn văn hóa địa phương nơi có hoạt động du lịch Tìm hiểu tác động của loại hình du lịch cộng đồng lên hoạt động kinh tế, môi trường, văn hóa xã hội tại điểm du lịch của hai bản Sả Séng (tả Phìn, Sapa, Lào Cai) và Bản Lác (Chiếng Châu, Mai Châu, Hòa Bình) Tìm hiểu phản ứng của người dân địa phương và sự thích ứng trước trào lưu

du lịch cộng đồng cũng như nhận thức của họ về tác động của loại hình du lịch này lên đời sống văn hóa dân tộc Mối quan hệ lưỡng nan giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa địa phương được coi là vấn đề mở trong nghiên cứu này

Keywords Dân tộc học; Du lịch cộng đồng; Vùng núi phía bắc; Việt Nam

Trang 2

Nhưng một thực tế là, bên cạnh đem lại lợi ích cho các công ty du lịch, góp phần tăng trưởng kinh tế cho các địa phương, thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá…, sự phát triển du lịch miền núi cũng đã và đang đặt ra nhiều bất đề bất cập Đó là các tác động tiêu cực đến môi trường, sự mai một của các yếu tố văn hoá truyền thống, an ninh, chính trị, tệ nạn nghiệt hút, mại dâm… Đặc biệt sự hưởng lợi từ hoạt động du lịch của người dân địa phương không được là bao

Trước đây mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mảng đề tài này Có thể khái quát thành bốn nhóm chính:

- Các công trình nghiên cứu sâu về các khái niệm và lý luận về loại hình du lịch cộng đồng;

- Các nguồn tài liệu quảng bá du lịch cộng đồng thông qua lăng kính của truyền thông đại chúng và quảng cáo du lịch;

- Các nghiên cứu định hướng chính sách phát triển du lịch bền vững;

- Các nghiên cứu học thuật về mối liên hệ giữa văn hóa tộc người địa phương và

du lịch cộng đồng

Tuy nhiên, khuynh hướng chủ đạo của các công trình đã có là hướng đến đề xuất chính sách phát triển du lịch bền vững hoặc xem xét lịch sử hình thành và phát triển văn hóa vùng núi trong một viễn cảnh lịch sử và ở tầm vĩ mô Có thể nhận thấy hai khiếm khuyết phổ biến của các nghiên cứu đã có là:

- Nặng về thiên kiến chủ quan của người nghiên cứu trong khi tiếng nói của chủ thể du lịch cộng đồng là người dân địa phương lại ít được quan tâm xem xét;

- Còn thiếu các nghiên cứu sâu ở từng trường hợp cụ thể và đặc biệt là những phân tích tác động kinh tế - xã hội của loại hình du lịch cộng đồng còn thiên về lý thuyết hơn là được phát triển từ những tư liệu thực địa được thu thập một cách có hệ thống

Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam” trên cơ sở tập trung nghiên cứu sâu hai mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác và

Sả Séng để mang lại một cái nhìn cận cảnh về tình hình du lịch cộng đồng và tác động của nó qua con mắt của người dân địa phương

Trên cơ sở đó, Luận văn tập trung giải quyết 4 vấn đề cốt lõi:

1 Nhận diện, phân tích hiện trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu

2 Phân tích các hoạt động du lịch tại cộng đồng và sự tham gia của người dân

Trang 3

3 Phân tích, so sánh các tác động của hoạt động du lịch cộng đồng lên hoạt động kinh tế, môi trường, văn hoá, xã hội tại địa bàn nghiên cứu Đặc biệt quan tâm đến vấn

đề lợi ích của người dân địa phương trong quá trình tham gia hoạt động du lịch và đánh giá hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng

4 Tìm hiểu phản ứng của người dân địa phương và sự thích ứng trước trào lưu

du lịch cộng đồng Mối quan hệ lưỡng nan giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hoá địa phương được coi là một vấn đề mở trong nghiên cứu này để cùng phân tích và bình luận

Địa bàn được chọn nghiên cứu trường hợp là hai bản Sả Séng, Lào Cai và bản Lác, Hoà Bình Đây là hai trong những điểm du lịch khá nổi tiếng, vốn hoạt động khá hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc hiện nay

Các phương pháp mà tác giả sử dụng trong quá trình triển khai và hoàn thành luận văn gồm: điền dã dân tộc học, phiếu hỏi, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm Đặc biệt, Luận văn chú trọng đưa tiếng nói của người dân, chủ thể văn hoá trong quá trình phân tích, lý giải nội dung của đề tài nhằm bổ khuyết và làm tăng tính thuyết phục của

tư liệu thu thập được tại địa bàn nghiên cứu

Ngoài chương mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thư mục, phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 2: Tài nguyên du lịch của vùng núi phía Bắc Việt Nam và sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở bản Lác, Hoà Bình và Sả Séng, Lào Cai

Chương 3: Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương Chương 4: Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa phương

Chương 1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM VÀ

Trang 4

SỰ HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở SẢ SÉNG (TẢ PHÌN, SAPA, LÀO CAI) VÀ BẢN LÁC (CHIÈNG CHÂU, MAI CHÂU, HOÀ BÌNH)

1.1 Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch của

vùng núi Tây Bắc

Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,

Mai Châu, Hoà Bình

Vị trí địa lý,

địa hình

- Lào Cai cách Thủ đô Hà Nội 338km, có cửa khẩu thông thương với Trung Quốc Sapa là một trong những điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn của Lào Cai với nhiều điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn, giàu bản sắc, trong đó

có tuyến du lịch làng bản Tả Phìn

- Hoà Bình tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về phía Tây Bắc Có cửa ngõ thông sang thượng Lào Mai Châu là một trong những vẻ đẹp chính của Hoà Bình với điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng, có lịch sử phát triển khá lâu đời đó là bản Lác, bản Pom Coọng…

Cảnh quan

sinh thái

- Các bản làng du lịch nằm rải rác ở thung lũng Với tầng tầng lớp lớp những ruộng bậc thang ôm lấy thân núi và nhiều dòng thác bạc bọt tung trắng xoá

- Các bản làng du lịch nằm ở thung lũng với những vạt nương định canh, những cánh đồng lúa nước hai vụ cho năng suất cao nhờ kỹ thuật điều khiển nguồn nước suối nơi chân núi làm nên một phong cảnh hữu tình của non nước

Khí hậu - Khí hậu ôn đới với sự hội tụ của 4

mùa trong ngày Đặc biệt, vào những ngày đông lạnh giá, du khách còn được ngắm cảnh tuyết rơi

- Chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa tây bắc, chia thành hai mùa: mùa mưa

và mùa khô, biên độ trong ngày cao,

có ngày rét, sương muối hoặc mưa phùn giá rét

Hệ động, thực

vật

- Hệ động thực vật phong phú, đa dạng Nhiều rừng tái sinh có độ tuổi

từ 60-70 tuổi, là nơi sinh sống của nhiều loại động, thực vật quý như:

cây gỗ Zổi, Xoan Trà, Trâm;Báo, Gà

Hệ sinh thái rừng đã hầu như cạn kiệt, trở thành những cánh rừng trồng và những vạt nương định canh đem đến cho du khách thấy một nét đẹp khác của tự nhiên đã bị chinh phục và phá

Trang 5

Lôi, Rắn Hổ Mang Chúa, đặc biệt, trong rừng có nhiều thảo quả và nhiều loại cây thuốc có giá trị

vỡ ở nơi đây Đây chính là nguồn cung ứng thực phẩm dồi dào cho du khách lưu lại nơi này trong đó cá suối

là một sản vật địa phương không thể thiếu trong mỗi bữa ăn đãi khách

Như vậy, xét về điều kiện tự nhiên, bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu dường như không thật phong phú, hấp dẫn như ở Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, nhưng trên thực tế, du lịch ở bản Lác lại phát triển không thua kém gì Sả Séng, phải chăng, sức hút du lịch của bản Lác lại chính là nguồn tài nguyên văn hoá nhân văn rất phong phú và đa dạng mà người Thái vẫn lưu giữ được gần như nguyên vẹn

1 2 Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của

du lịch cộng đồng

Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu,

Hoà Bình Lịch sử

định cư

Sả Séng là nơi tụ cư của người Dao đỏ,

có nguồn gốc từ vùng Vân Nam, Trung

Quốc, di cư vào Việt Nam từ thế kỷ 18

(Bế Viết Đẳng, 2006, tr 160)

Bản Lác là nơi tụ cư của người Thái trắng, có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Trung Quốc, di cư vào Việt Nam từ thế

kỷ XI-XII và họ là một trong những cư dân cổ của nền văn minh Âu Lạc, là một trong những chủ nhân khai phá nền văn minh, văn hiến Đại Việt

Đời sống

văn hoá

Nhà có tường đất, dựng ở sườn núi

Trang phục có gam màu nóng nổi trội,

màu đỏ kết hợp màu vàng, màu trắng nổi

bật lên màu chàm, sử dụng kỹ thuật thêu

và ghép vải màu để tạo nên trang phục

Người Dao ăn gạo tẻ, uống rượu ngô,

rượu thóc là chính Người Dao ít quan

tâm đến kỹ thuật, chất lượng món ăn

Nhà sàn, dựng ven thung lũng Trang phục của phụ nữ Thái trắng gồm

áo sửa cỏm và váy đen bó sát người cùng với chiếc khăn piêu tạo nên vẻ thanh nhã, duyên dáng của người phụ nữ Thái Sử dụng kỹ thuật dệt vải tạo trang phục Người Thái ăn gạo nếp, uống rượu cần là chính Người Thái có nhiều kỹ thuật chế biến món ăn rất độc đáo, hấp dẫn, đảm

Trang 6

bảo dinh dưỡng

Văn hoá

ứng xử

Xã hội phụ quyền, đề cao vai trò người

đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội

Hôn nhân do cha mẹ áp đặt

Rất mến khách và có tính cộng đồng cao

Lễ tết nhảy, tết cơm mới và tục cấp sắc là

những lễ, tục có ý nghĩa quan trọng đối

với người Dao đỏ…

Xã hội phụ quyền, đề cao vai trò người đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội Hôn nhân do trai gái tự nguyện

Rất mến khách và có tính cộng đồng cao Hội Chá chiêng, hội xên bản xên mường, tết cơm mới… là những sinh hoạt cộng đồng nổi bật của người Thái trắng…

1.3 Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng (Lào Cai)

Nội dung Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,

Mai Châu, Hoà Bình

Sự hình

thành

DLCĐ

Sả Séng, Tả Phìn nằm trên tuyến du lịch

làng bản của Sapa, có lịch sử phát triển du

lịch lâu đời song du lịch cộng dồng mới

thực sự được xây dựng và phát triển từ

năm 2005

DLCĐ ở bản Lác bắt đầu manh nha từ năm 1964 nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, người đặt nền móng đầu tiên là ông Hà Công Nhấm, một cán bộ xã khi đó

Trang 7

Qua những nghiên cứu, đánh giá trên, ta có thể rút ra một vài nhận xét so sánh về tình hình, hiện trạng phát triển du lịch tại Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình như sau:

1- Về chính sách phát triển du lịch, cả Lào Cai và Hoà Bình đều được xác định là một trong những điểm du lịch lớn của đất nước, có nhiều tiềm năng để khai thác, phát triển loại hình du lịch sinh thái văn hoá hay du lịch cộng đồng Sả Séng, Tả Phìn, Sapa

và bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu là một trong những điểm du lịch làng bản, du lịch cộng đồng nổi tiếng của hai tỉnh, có nền tảng phát triển du lịch khá lâu đời Song xét về mức độ quan tâm đầu tư cho phát triển du lịch thì Tả Phìn, Sapa, Lào Cai có nhiều chính sách ưu tiên và quan tâm tới phát triển du lịch sớm hơn, toàn diện hơn Mai Châu, Hoà Bình Các cấp chính quyền ở Mai Châu, Hoà Bình dường như thụ động, không tham gia tích cực vào hoạt động du lịch của bản Ở Tả Phìn, Sapa, chính quyền địa phương rất năng động và giữ vi trí thiết yếu trong sự phát triển du lịch của cộng đồng Thành viên Hội chữ thập đỏ và Trung tâm Thông tin du lịch Sapa đóng vai trò chính trong việc hỗ trợ bản

2- Về nguồn lực đầu tư cho hoạt động du lịch: bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai đón nhận được nhiều chính sách ưu tiên cũng như nhiều nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước cho hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng Các tổ chức phi chính phủ SNV, SIDA đã giúp đỡ một cách tích cực trong sự phát triển du lịch cộng đồng tại bản thông qua việc đào tạo và nâng cao nhận thức, tổ chức cộng đồng, phát triển cơ cấu

và sản phẩm du lịch cũng như khâu tiếp cận thị trường Ngược lại, ở bản Lác, dường như không có một tổ chức phi chính phủ hay một cơ sở đào tạo năng lực nào tại địa phương tham gia vào hoạt động du lịch của bản Lác Có tình trạng trên một phần là do Sả Séng,

Tả Phìn được hưởng những lợi thế nằm trong vùng ảnh hưởng của trung tâm du lịch Sapa, trong khi đó, du lịch Mai Châu lại rất mờ nhạt và không có nhiều tác động đến các vùng phụ cận của vùng Nếu sự hình thành và phát triển của du lịch cộng đồng Sả Séng,

Tả Phìn là hệ quả của những tác động từ trung tâm du lịch Sapa thì ngược lại, du lịch cộng đồng ở bản Lác lại hình thành và phát triển mang tính chất tự phát từ chính bản thân

nó, do cộng đồng địa phương tự đứng lên vay vốn đầu tư làm du lịch, không trông chờ, ỉ lại vào các nguồn đầu tư của nhà nước, địa phương và các tổ chức phi chính phủ Phải chăng, nhờ vậy nên du lịch cộng đồng ở bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu có nội lực phát triển bền vững hơn, có khả năng chủ động kiểm soát được tác động của du lịch hơn bản

Sả Séng, Tả Phìn, Sapa Để làm rõ điều này, chúng ta sẽ cùng phân tích quá trình tham

Trang 8

gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch và đánh giá tác động của du lịch lên đời sống kinh tê - văn hoá - môi trường cộng đồng

Tiểu kết

Du lịch cộng đồng, với tư cách là một loại hình du lịch ăn khách hiện nay, thực ra chỉ mới được phát triển từ những thập niên giữa thế kỷ hai mươi ở khu vực Âu Mỹ Khái niệm này dần được truyền bá ra thế giới và ở Việt Nam, du lịch cộng đồng giờ đây được thwcaf nhận là một loại hình có nhiều triển vọng, đã được phát triển khá rộng, không chỉ ở vùng núi, vùng biển mà cả ở vùng đồng bằng miệt vườn Nam bộ

Tài nguyên của du lịch cộng đồng chủ yếu bao gồm hai dạng chính là tài nguyên sinh thái tự nhiên địa phương và bản sắc đa dạng của văn hóa các tộc người bản địa

Vùng núi Tây Bắc Việt Nam được xem là địa bàn giàu có về cả hai loại hình tài nguyên du lịch nói trên Chính sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của loại hình du lịch sinh thái tại khu vực này Bản Lác của người Thái Mai Châu và bản Sả Séng của người Dao Đỏ Sapa có thể được xem là những mô hình du lịch dựa vào cộng đồng được phát triển tương đối sớm ở Việt Nam và vẫn đang là những điểm đến của du khách trong và ngoài nước Chính sự tương tác giữa con người với hệ sinh thái đã tạo nên cảnh quan du lịch và nét đặc sắc của văn hóa tộc người do đó đã trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt trong hoạt động du lịch cộng đồng

Chương 2

DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ TÁC ĐỘNG KINH TẾ - MÔI TRƯỜNG

Ở ĐỊA PHƯƠNG

2.1 Dịch vụ du lịch tại cộng đồng

Dịch vụ Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai Bản Lác, Chiềng Châu,

Mai Châu, Hoà Bình

Trang 9

Nhà nghỉ tại gia 06/99 hộ dân làm nghỉ nghỉ tại gia

(chiếm 06%) Công năng nhà nghỉ:

10-15 khách/nhà Giá dịch vụ trung bình:

40.000 đồng/người/đêm Gia đình không phải đóng thuế do khách về bản đã phải đóng phí tham quan 20.000/đoàn khách

do UBND xã thu Doanh thu trung bình:

1,5-2 triệu đồng/gia đình/năm

24/110 hộ gia đình làm nghỉ tại gia (chiếm 21,8%) Công năng nhà nghỉ: 20-25 khách/nhà Giá dịch vụ trung bình: 40.000 đồng/người/đêm Gia đình phải đóng thuế cho chính quyền

xã với mức phí 5000 đồng/người Doanh thu trung bình: 10-15 triệu đồng/gia đình/năm

Sản xuất và tiêu

thụ sản vật địa

phương

- Bán hàng thổ cẩm dưới nhiều hình thức: bán hàng rong và thành lập CLB, sản xuất tập trung, tiêu thụ qua các cơ sở đầu mối tại các địa phương, trong đó Craflink tại Hà Nội là một trong những đầu mối chính

- Sản xuất và tiêu thụ thuốc tắm cổ truyền dưới nhiều hình thức: tư nhân (3 gia đình) và thành lập công ty cổ phần Sapa Napro

- Trồng và bán thảo quả dưới hình thức nhỏ lẻ gia đình

- Mở gian trưng bày bán sản phẩm tại chính ngôi nhà của mình (chiếm 80% các gia đình trong bản) Thành lập CLB sản xuất thổ cẩm, Cơ sở bảo trợ

xã hội nhân đạo Thuận Hoà do một cá nhân đứng ra xây dựng và phát triển Khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm,

có 35 hộ gia đình tham gia

- Việc lấy thuốc chủ yếu phục vụ nhu cầu của bản thân, chưa hình thành thị trường bán - mua sản phẩm thuốc dân tộc ở bản Lác

Dịch vụ ẩm thực - Số lượng khách ăn và nghỉ lại qua đêm

tại bản không nhiều Giá dịch vụ trung bình 40.000 đồng/người/bữa ăn, doanh thu ước đạt 300.000 đồng/hộ gia đình/tháng

- Món ăn gồm: các món ăn Tây: khoai tây chiên, xúc xích rán… và các món ăn truyền thống của dân tộc như: thịt sấy khô trên gác bếp, thịt gà đen, lợn cắp nách và đặc biệt là rượu thóc Tả Phìn

- Ở bản Lác, loại hình dịch vụ này phát triển sôi động hơn Giá dịch vụ trung bình 50 - 80.000 đồng/bữa/người, doanh thu ước đạt 15-20 triệu đồng/tháng

Món ăn gồm: thịt thú rừng (hoẵng, cầy, lợn rừng…); các loại thú nuôi (cá dầm xanh, gà đồi ) và các loại rau:

su su, cải mèo, khoai sọ, măng rừng; Cơm lam, sôi đồ; Rượu cần, rượu Mai

Hạ

Trang 10

Quảng bá, hướng

dẫn du lịch

- Người dân ít quan tâm đến công tác quảng bá hình ảnh của mình mà chủ yếu được thực hiện bởi các công ty du lịch

Toàn xã có 15 thiếu nữ Dao, H’mông làm HDV du lịch cho các công ty du lịch tại Sapa

- Người dân rất chủ động, linh hoạt trong công tác quảng bá bản thân thông qua nhiều hình thức như: qua người thân, qua khách du lịch, qua các phương tiện thông tin như điện thoại, fax, internet… và qua các dịch

vụ môi giới với lái xe ôm, HDV du lịch…

- Bản Lác chưa có ai làm HDV du lịch mà chỉ có một số gia đình cung cấp dịch vụ chỉ đường khi khách có nhu cầu

2.2 Tác động kinh tế

2.2.1 Tác động lên kinh tế hộ gia đình

- Bảng so sánh lực lượng lao động tham gia vào hoạt động du lịch tại Bản Lác và bản Sả Séng

STT Loại hình Tỷ lệ người tham gia

Bản Lác Bản Sả Séng

1 Sản xuất và bán hàng thổ cẩm 80% dân số 70% dân số

2 Dịch vụ nhà nghỉ homestay 21,8% hộ gia đình 6% hộ gia đình

3 Tham gia đi tour du lịch Trên 5% dân số 1,8% dân số

(Nguồn: Điều tra thực địa 2009)

- Bảng so sánh thu nhập của các hộ gia đình tham gia hoạt động du lịch

Mức thu nhập/năm Bản Sả Séng Bản Lác

Trang 11

(Nguồn: Điều tra thực địa 2009)

- Bảng so sánh tác động của du lịch lên cơ cấu kinh tế và thu nhập của hộ gia đình tại bản Lác và Sả Séng

Tỷ suất (%) Số hộ

gia đình

Tỷ suất (%)

Số hộ Gia đình

(Nguồn: Điều tra thực địa 2009)

- Bảng so sánh mục đích sử dụng tiền kiếm đƣợc từ du lịch ở hai bản

Ngày đăng: 16/01/2014, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w