Du lịch cộng đồng một mặt tạo ra mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa khách du lịch với cộng đồng cư dân địa phương, mặt khác người dân địa phương không chỉ là đối tượng được thăm viếng một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở VÙNG NÚI PHÍA
BẮC VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai và
bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình)
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Dẫn luận 3
1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Vấn đề và địa bàn nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Bố cục luận văn 15
Chương I Tài nguyên du lịch ở vùng núi phía Bắc Việt Nam và loại hình du lịch cộng đồng 16
1.1 Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch của vùng núi Tây Bắc 16
1.2 Văn hóa tộc người với tư cách là một nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch cộng đồng 24
1.3 Sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác (Hòa Bình) và Sả Séng (Lào Cai) 43
Chương II Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương 54
2.1 Dịch vụ du lịch tại cộng đồng 54
2.1.1 Dịch vụ nhà nghỉ và loại hình du lịch tại gia (homestay) 54
2.1.2 Sản xuất và tiêu thụ sản vật địa phương 58
2.1.3 Dịch vụ ẩm thực trong du lịch cộng đồng 67
2.1.4 Quảng bá, môi giới và hướng dẫn viên du lịch 69
2.2 Tác động kinh tế 72
2.2.1 Du lịch cộng đồng và kinh tế hộ gia đình 72
2.2.2 Du lịch cộng đồng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế địa phương 77
2.2.3 Du lịch cộng đồng và quá trình đô thị hoá ở miền núi 81
2.3 Tác động lên môi trường sinh thái 86
2.3.1 Nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương 86
2.3.2 Nguy cơ rác thải và ô nhiễm môi trường 88
Trang 4Chương III Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa
phương 90
3.1 Văn hoá tộc người trong du lịch cộng đồng 90
3.1.1 Lễ hội cổ truyền và du lịch 90
3.1.2 Lối sống của tộc người và du lịch 92
3.1.3 Văn nghệ địa phương và du lịch 94
3.2 Tác động của du lịch lên đời sống văn hoá - xã hội địa phương 96
3.2.1 Bản sắc văn hoá tộc người 96
3.2.2 Tình hình an ninh, chính trị 119
3.2.3 Quá trình thương mại hoá văn hoá 121
3.3 Sex và nghiện hút trong du lịch cộng đồng và tác động của nó 125
3.3.1 Dịch vụ sextour trong du lịch ở cộng đồng 125
3.3.2 Quan niệm và hành vi văn hoá tình dục ở địa phương 128
3.3.3 Du lịch và tình trạng nghiện hút ở địa phương 130
3.3.4 Người dân địa phương trước các tệ nạn xã hội du nhập vào cộng đồng qua hoạt động du lịch 135
Kết luận 137 Tài liệu tham khảo
Phụ lục ảnh
Trang 5DẪN LUẬN
1 Cơ sở khoa học của đề tài
Ngày nay, khi cuộc sống vật chất, tiện nghi đã trở nên đầy đủ với nhiều người thì nhu cầu khám phá những vùng đất mới, tiếp xúc với những nền văn hoá mới trở thành một xu hướng phổ biến và do đó, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với nhiều người Tham quan du lịch ngày nay không chỉ dừng lại ở sự chiêm ngưỡng, ngắm nhìn mà đối với nhiều khách du lịch, còn là cơ hội để tìm hiểu và khám phá nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của bản thân Con người hoà mình vào môi trường thiên nhiên, môi trường văn hoá xa lạ và cảm nhận một cách trực tiếp, chân thực và trọn vẹn những giá trị của tài nguyên du lịch mà mình mong muốn được đến tận nơi để trải nghiệm
Theo số liệu điều tra của Tổ chức du lịch thế giới, ngày nay có trên 80% số khách đi du lịch nhằm mục đích hưởng thụ các giá trị văn hoá độc đáo và khác biệt với nền văn hoá của dân tộc họ Họ muốn được xem và hưởng thụ những giá trị văn hoá giàu bản sắc, đích thực, sống động trong cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương Người dân tự tổ chức các sinh hoạt văn hoá đích thực vì cuộc sống của chính họ chứ không phải "đóng giả" như diễn viên để phục vụ du khách Các hoạt động văn hoá sống động như phiên chợ, cảnh làm ruộng bậc thang, lễ cưới, sinh hoạt ở từng gia đình, sản xuất đồ rèn, thêu dệt thổ cẩm, v.v., luôn thu hút du khách (Trần Hữu Sơn, http://laocai.gov.vn)
Những nhu cầu trên đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho loại hình du lịch cộng đồng ra đời và phát triển
Du lịch cộng đồng thường được hiểu như là một loại hình du lịch mà khách
du lịch được “ba cùng”: Cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với gia đình người dân bản địa Du lịch cộng đồng một mặt tạo ra mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa khách du lịch với cộng đồng cư dân địa phương, mặt khác người dân địa phương không chỉ là đối tượng được thăm viếng một cách thụ động mà họ cũng là một phần của quá trình du lịch, từ tiếp cận thị trường, tổ chức cung cấp dịch vụ du lịch và quản lý du lịch trên địa bàn và gắn bó chặt chẽ với loại hình du lịch cộng đồng Như vậy, khái
Trang 6niệm du lịch cộng đồng cũng có thể hiểu như là một loại hình du lịch dựa vào cộng đồng (community-based tourism)
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN (1998) đã khuyến cáo khách du lịch rằng thay vì tìm kiếm “thiên đường”, hãy phát hiện tính đa dạng văn hóa bằng cách cố gắng hiểu biết một số lối sống khác qua các con mắt khác hơn là phung phí tiền bạc để tận hưởng những chuyến đi du lịch ở “một quê hương xa nơi quê hương” (Nguyễn Đình Hoè 2001, tr.84)
Khách du lịch một khi tham gia vào loại hình du lịch cộng đồng thì không còn là khách thể mà thực sự đã trở thành chủ thể của môi trường tự nhiên và văn hoá nơi đến Cùng ăn - cùng ở - cùng sinh hoạt với người dân bản địa, nhập vai trở thành một người dân bản địa với cuộc sống sinh hoạt của một người dân bản địa Loại hình du lịch này ngay từ khi ra đời đã nhanh chóng trở nên phổ biến rộng rãi, thu hút một lượng đông đảo khách du lịch tham gia bởi nó không chỉ đem lại cảm giác thú vị, độc đáo cho du khách khi khám phá và hoà nhập vào một nền văn hoá mới mà còn mang tính nhân văn sâu sắc khi góp phần chia sẻ lợi ích từ du lịch với cộng đồng địa phương
Tại nhiều quốc gia và địa phương, khi du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn thì lợi ích chủ yếu thuộc về nhà cung ứng du lịch và các cơ quan tổ chức
và quản lý du lịch của địa phương Còn cư dân địa phương - một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động du lịch, chủ nhân của tài nguyên du lịch nhân văn và cũng
là người bảo vệ, gìn giữ tài nguyên du lịch tự nhiên lại hưởng lợi không nhiều từ hoạt động du lịch Du lịch cộng đồng do đó sẽ góp phần khắc phục những hạn chế nói trên, đặc biệt là với những hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch Việc chia
sẻ này có thể được xem như một hình thức phân chia lợi ích một cách hợp lý cho các bên tham gia, điều hoà mâu thuẫn giữa các nhóm quyền lợi và đảm bảo một sự công bằng nào đó trong phát triển Những lợi ích thiết thực đó sẽ góp phần nâng cao
ý thức bảo tồn của cộng đồng và nhờ đó tài nguyên du lịch của địa phương sẽ được bảo vệ từ chính những người dân địa phương
Du lịch cộng đồng ở Việt Nam tuy mới phát triển gần đây nhưng đã hé lộ một triển vọng to lớn trong tương lai Một số địa phương đã bước đầu tổ chức phát triển loại hình du lịch này như Mai Châu (Hòa Bình), Sapa (Lào Cai), Ba Bể (Cao
Trang 7bằng), Huế (Thừa Thiên Huế), Hội An (Quảng Nam), và nhiều địa bàn thuộc đồng bằng sông Cửu Long
Miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn cư trú chủ yếu của nhiều dân tộc thiểu số, nơi đó còn lưu giữ được kho tàng văn hoá truyền thống giàu bản sắc, môi trường sinh thái trong lành, là điều kiện lý tưởng để thu hút khách tham quan, nghỉ dưỡng Hình thức du lịch cộng đồng được khách du lịch ưa thích vì họ có thể tiếp cận dễ dàng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi có cảnh quan lý tưởng và sắc màu văn hoá đa dạng Nói cách khác, miền núi đang trở thành mảnh đất có một mê lực mạnh mẽ của du khách đến với bản làng các dân tộc
Bên cạnh sức hấp dẫn của du lịch văn hóa tộc người (ethnic tourism), người
ta cũng thấy du lịch có tác động mạnh lên đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng địa phương Điều này dường như đặt du lịch cộng đồng trước tình trạng lưỡng nan của phát triển Một mặt, du lịch được xem là một ngành công nghiệp không khói mang lại lợi nhuận lớn cho các hãng lữ hành và các cộng đồng địa phương nơi có điểm du lịch hấp dẫn, nhưng mặt khác, một trong những yếu tố sống còn của sự phát triển du lịch là phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia vào quá trình du lịch, bảo tồn và phát huy được các giá trị văn hoá tộc người, bảo vệ được môi trường tự nhiên Chính vì vậy, để phát triển du lịch bền vững và đạt hiệu quả cao, một trong những yêu cầu bức thiết của các nhà quản lý là phải biết được mức độ tác động của
du lịch đến cộng đồng địa phương cả trước mắt cũng như lâu dài, từ đó đề ra được các giải phát triển du lịch bền vững và hiệu quả hơn
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và lý luận nói trên, tôi đã chọn đề tài: Du
lịch cộng đồng vùng núi phía Bắc Việt Nam để nghiên cứu làm luận văn khoa học
với tham vọng có thể thu thập thông tin và phân tích mối quan hệ phức tạp giữa sự phát triển của loại hình du lịch cộng đồng và tác động của nó lên cuộc sống của người dân địa phương, góp một cách nhìn cùng các nhà làm chính sách phát triển du lịch hướng đến bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá tộc người, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ môi trường Nghiên cứu của tôi chủ yếu tập trung vào hai trường hợp là Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) và Bản Sả Séng (Sa Pa, Lào Cai)
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về loại hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam là một đề tài còn khá mới mẻ Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu đề cập trực tiếp đến du lịch cộng đồng cũng như những tác động của du lịch lên đời sống văn hoá tộc người tại chỗ và những ngụ ý cho phát triển du lịch bền vững Trong số những nghiên cứu này, có
thể kể ra công trình của Võ Quế trong “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng”
(2006) Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các thông tin đã có về du lịch cộng đồng ở các nước châu Á và một số khu du lịch sinh thái trong nước để đề xuất mô hình hoạt động du lịch bền vững Trong công trình này, tác giả cũng tập trung làm rõ các khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa, điều kiện, nguyên tắc và tiêu chí tham gia phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Đáng tiếc là quá trình hình thành, phát triển loại hình du lịch cộng đồng trong nước và các trường hợp điển hình của loại hình du lịch này đã không được quan tâm làm rõ
Nguyễn Đình Hoè và Vũ Văn Hiếu trong công trình về “Du lịch bền vững”
(2001) đã tập trung phân tích các nguyên tắc của quan điểm phát triển bền vững Họ
đã chỉ ra một cách xác đáng rằng du lịch bền vững chỉ thực sự được thực thi khi và chỉ khi cộng đồng địa phương được tham gia vào quá trình du lịch Theo các tác giả này, vai trò và vị trí của cộng đồng bản địa nơi có địa điểm du lịch là vấn đề quan trọng hàng đầu trong định hướng phát triển du lịch bền vững ở miền núi
Gần đây, trong một hội thảo hiếm hoi nhằm chia sẻ kinh nghiệm phát triển
du lịch cộng đồng, một số bài viết công bố trong Kỷ yếu Hội thảo chia sẻ kinh
nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về du lịch
cộng đồng trên cơ sở so sánh giữa du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng Hội thảo này đã đánh dấu sự xuất hiện và bước đầu trao đổi thử nghiệm mô hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam, xây dựng cơ sở nền tảng lý luận cho nghiên cứu và xây dựng mô hình du lịch cộng đồng sau này
Gần đây, trong nhân loại học văn hóa thế giới bắt đầu xuất hiện một ngành học
có tên gọi Nhân học về du lịch (Anthropology of Tourism) Nằm trong trào lưu này,
đã có một công trình giáo khoa về mối liên hệ giữa nhân loại học và du lịch được dịch ra tiếng Việt Đó là biên khảo của Cao Lộ Gia (2004) có tiêu đề Nghiên cứu Nhân loại học Du lịch Trong tài liệu này, tác giả đã cung cấp cho ta một cái nhìn khá
Trang 9mới mẻ, toàn diện về hệ thống cơ sở lý luận về lý thuyết nhân loại học và du lịch và mối quan hệ giữa nhân loại học với phát triển du lịch Ông phân tích các thành tố thuộc nhân loại học và ứng dụng nó vào phát triển du lịch Tuy nhiên ông chỉ xem đây là nền tảng bước đầu, khái quát về nhân loại học và mối quan hệ của nó với du lịch dưới con mắt của một nhà nghiên cứu Trung Quốc Theo ông thì “vận dụng tư liệu Trung Quốc, giải quyết vấn đề Trung Quốc là cách trình bày giải thích hệ thống của nhân loại học du lịch Trung Quốc ” (Cao Lộ Gia, 2004, tr.5) Hệ thống lý luận này cũng có thể là một nguồn tài liệu tham khảo tốt để vận dụng vào nghiên cứu du lịch tộc người ở Việt Nam
Như vậy, dù ít ỏi, những tài liệu có tính lý luận nói trên thực sự có ích cho quá trình nghiên cứu làm luận văn của tôi Nó đã cung cấp một cái nhìn lý luận tổng quan về loại hình du lịch cộng đồng, nêu ra và thảo luận một loạt các khái niệm, đặc trưng và điều kiện phát triển của du lịch cộng đồng Đó là cơ sở lý luận quan trọng
để vận dụng vào nghiên cứu loại hình du lịch này và tác động của nó lên đời sống văn hoá tộc người tại một địa bàn cụ thể
Bên cạnh những vấn đề lý luận và khái niệm có tính công cụ, cũng cần phải nhận thấy rằng trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương
đã triển khai một hệ thống chính sách về phát triển du lịch Có thể nói đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng đặt nền tảng cho các phân tích về vai trò của nhà nước, của chính quyền địa phương trong việc xây dựng chính sách phát triển du lịch trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên sinh thái, nhân văn của địa phương Nhiều địa phương cũng cho ra đời các chương trình, đề án phát triển du lịch, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch, v.v Tuy nhiên, như một đặc điểm phổ quát ở tầm vĩ mô, hệ thống chính sách phát triển du lịch nói chung và
du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam chủ yếu được hình thành và áp đặt từ trên xuống thay vì xuất phát từ cộng đồng Tiếng nói của người dân địa phương trong việc đề xuất phát triển du lịch ở địa bàn của họ thường ít được quan tâm xem xét Một nguồn tài liệu tương đối phổ biến giúp ta tiếp cận thông tin về du lịch cộng đồng dễ dàng là hệ thống tài liệu quảng bá du lịch được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Như thường thấy, các tài liệu này thường có khuynh hướng “thi vị hoá” các giá trị văn hoá tộc người, lãng mạn hoá những giá trị
Trang 10nhân văn lãng mạn nơi miền sơn cước nhằm kích thích tính hiếu kỳ và xung động tâm lý của du khách Chẳng hạn hình ảnh “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” trong giai điệu thơ ngọt ngào, đằm thắm của nhà thơ Quang Dũng hoặc “những miền gái đẹp” với huyền thoại xoè Thái, những tuyệt sắc giai nhân làm mê đắm lòng người thường được khai thác nhằm quảng bá, giới thiệu trong các tờ rơi, tập gấp giới thiệu
về điểm du lịch do các hãng du lịch lữ hành, các Trung tâm Xúc tiến du lịch của các tỉnh in ấn và phát hành Mục đích chính của hoạt động quảng bá hình ảnh du lịch nhằm tăng sức hấp dẫn du khách, từ đó tăng doanh thu lợi nhuận cho các nhà kinh doanh lữ hành mà lờ đi tác động của du lịch lên văn hoá tộc người Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng, các dòng “tít” đưa tin về du lịch cộng đồng, quảng
bá các tour, tuyến, điểm du lịch với các nhan đề rất ấn tượng như “Lên Mai Châu thăm bản Lác, múa sạp cùng người Thái”, “Mai Châu - điểm hẹn của du khách”,
“Nét duyên thầm Mai Châu”, “Tả Phìn hướng tới mặt trời”.v.v được đăng tải và cập nhật liên tục, thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng Du lịch cộng đồng được nhận định như một hiện tượng du lịch mới nổi và phát triển rầm rộ Trong đó vùng dân tộc thiểu số được nhận định là một trong những mảnh đất lý tưởng để phát triển du lịch cộng đồng Việc tiếp cận hệ thống tài liệu này sẽ giúp ta xác định dòng du lịch chủ đạo và lý giải nguyên nhân bùng nổ của trào lưu du lịch này trong thời gian gần đây Tuy vậy đây chỉ là những thông tin rời rạc và mang tính thời sự
Cuối cùng, trong số các nghiên cứu về văn hóa và du lịch, phải kể đến các công trình khảo cứu nhân học trong nước về các tộc người miền núi cũng như những quan tâm của các cá nhân và tổ chức quốc tế liên quan đến lĩnh vực du lịch
và văn hóa tộc người ở Việt Nam Tuy nhiên, phải nói rằng các nghiên cứu về văn hoá tộc người ở Việt Nam có khuynh hướng tập trung mô tả kho tàng văn hoá truyền thống của các tộc người, quá trình tộc người và đặc tính dân tộc Không có mối liên hệ đặc biệt nào giữa các mô tả dân tộc học này và sự hình thành của du lịch cộng đồng hay du lịch tộc người, nhưng chính các mô tả này đã mang lại nhiều cảm hứng cho các nhà thiết kế các tour du lịch và là một nguồn tư liệu chính thức cho các giới thiệu về văn hóa tộc người của các hãng lữ hành
Trang 11Dưới đây tôi sẽ cố gắng điểm lại một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến du lịch cộng đồng ở các tộc người ở miền núi Bắc Việt Nam và đặc biệt là hoạt động du lịch ở các tộc người Dao và Thái - tâm điểm chú ý của luận văn này Trong một nỗ lực bảo tồn đa dạng văn hóa và sinh thái, năm 1998, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới IUCN Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu sâu tại Sapa nhằm phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam Kết luận của nghiên cứu này
là muốn phát triển du lịch bền vững cần phải bảo tồn và phát huy các nguồn tài nguyên, đặc biệt tài nguyên văn hoá truyền thống của các tộc người, thu hút sự tham gia tối đa của cộng đồng vào hoạt động du lịch nhưng phải đảm bảo quyền lợi kinh
tế cho cộng đồng địa phương
Dường như sự phát triển mạnh mẽ của du lịch tộc người ở Sapa đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài Năm 1996 một học giả Mỹ là Michael Dirgegorio và các cộng sự đã bắt đầu thu thập thông tin và phân tích ảnh hưởng của du lịch ở Sapa lên tăng trưởng kinh tế ở địa phương Một năm sau, Mark Grindley (1997) công bố khảo sát về các hoạt động du lịch ở Sapa và các làng phụ cận Năm 1998, hai nhà nhân học Canada Jean Michaud và Sarah Turner xuất bản bài viết “Contending Visions of a Hill-Station in Vietnam” phân tích lịch sử hình thành của khu nghỉ dưỡng - du lịch nổi tiếng Sapa dưới thời thực dân và ba năm sau (2000), họ lại viết chung một bài viết trình bầy các quan sát về hoạt động du lịch ở chợ Sapa Nhận định chung của hai nhà nghiên cứu này là chính văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số nơi đây đã góp phần quan trọng vào sự phát triển du lịch tại Sapa nhưng họ lại chỉ có được lợi ích rất hạn chế từ du lịch Cũng giống như nhiều nghiên cứu khác về du lịch ở Sapa, các tác giả này cho rằng giải pháp cho hiện trạng này là cộng đồng địa phương phải được chủ động tham gia vào hoạt động du lịch của
họ cũng như kiểm soát việc khách du lịch vào thăm làng bản, thăm cuộc sống và các
lễ nghi của họ Từ đó, các nghiên cứu đưa ra mô hình phát triển du lịch bền vững dựa vào cộng đồng nhằm đem lại lợi ích công bằng cho người dân địa phương
Thực ra, những quan điểm như vậy đã được Goeffwall, Michel Hall và Trevor H Sofield trình bầy khá rõ ràng trong các nghiên cứu của mình, trong đó cho rằng văn hoá địa phương là nhân tố trung gian và là chất men của sự phát triển
du lịch; và một khi yếu tố này mất đi thì du lịch cộng đồng cũng mất sức hấp dẫn
Trang 12Các nhà nghiên cứu này tin rằng dịch vụ nhà nghỉ tại gia (homestay) là một cách thích ứng của người dân bản xứ trước trào lưu du lịch cộng đồng và phản ánh sự tham gia, tổ chức làm du lịch của người dân
Trong một nỗ lực khám phá thị trường du lịch cộng đồng ở vùng núi Việt Nam, một nghiên cứu sinh người Thái Lan tại đại học Chiang Mai tên là Achariya Nate-Chei đã đến thực địa tại Bản Lác ở Mai Châu Cô tập trung xem xét loại hình du lịch cộng đồng trong bối cảnh toàn cầu hoá, đặc biệt là vai trò của thị trường trong việc kiểm soát tác động của du lịch lên đời sống văn hoá và kế sinh nhai của cộng đồng Nghiên cứu của cô đã phân tích thị trường du lịch và giá trị văn hoá đối với thị trường du lịch, về dịch vụ nhà nghỉ homestay tại cộng đồng và cách thích ứng với hoạt động kinh doanh du lịch của cộng đồng địa phương Do nhấn mạnh vào thị trường du lịch nên nghiên cứu này không quan tâm nhiều đến tác động của du lịch lên đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội và môi trường tại địa bàn nghiên cứu Mặc dù đây là một nghiên cứu đang được tiến hành song có vẻ như nó chưa thực sự chú trọng đến chủ thể của du lịch cộng đồng và sự phản hồi của họ
Trong khi các nghiên cứu của học giả nước ngoài có xu hướng nhấn mạnh vào thị trường du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển du lịch bền vững thì
đã có một số nghiên cứu của các học giả trong nước quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa văn hoá và du lịch Chẳng hạn, tác giả Trần Hữu Sơn (2004) đã phân ảnh hưởng của du lịch lên một số thiết chế xã hội người Mông ở Sapa trong khi Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai Lan (2000) lại xem xét tác động của du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội của các dân tộc thiểu số Các nghiên cứu này đã phân tích không gian ảnh hưởng của du lịch trên địa bàn nghiên cứu và đặc biệt là những tác động của hoạt động du lịch đến cộng đồng dân tộc thiểu số Tuy nhiên, tiếng nói của người trong cuộc và vai trò tham gia của người dân địa phương như một đối tác tham gia lập kế hoạch và tham gia quản lý phát triển du lịch chưa được các tác giả đề cập đến Hiện tượng tình dục trong du lịch (Sex tour), nhận thức và khả năng kiểm soát của cư dân bản địa về tình dục và tác động của hiện tượng này lên đời sống văn hoá truyền thống và sức khoẻ cộng đồng cũng chưa được các tác giả đề cập đến
Tiếp cận sự phát triển của du lịch ở Sapa trong mối liên hệ tương tác với quá trình hình thành của hệ thống đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, các tác giả Nguyễn
Trang 13Văn Chính và Trần Thùy Dương (2007) đã tập trung tìm hiểu lịch sử phát triển du lịch Sapa và vai trò của điều kiện cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ cho sự phát triển du lịch cũng như tác tác động của du lịch đối với quá trình di dân và đô thị hoá ở Sapa Tóm lại, tôi đã tóm lược những công trình nghiên cứu và các nguồn thông tin chủ yếu liên quan đến đề tài văn hóa tộc người và loại hình du lịch cộng đồng Như tôi thấy, các nguồn tài liệu dù tản mạn và đa dạng, vẫn có thể quy về mấy nhóm chính như sau: (1) Các công trình nghiên cứu sâu về các khái niệm và lý luận về loại hình du lịch cộng đồng; (2) Các nguồn tài liệu quảng bá du lịch cộng đồng thông qua lăng kính của truyền thông đại chúng và quảng cáo du lịch; (3) Các nghiên cứu định hướng chính sách phát triển du lịch bền vững; (4) Các nghiên cứu học thuật về mối liên hệ giữa văn hóa tộc người địa phương và du lịch cộng đồng Như đã chỉ ra ở trên, các tài liệu dường như khá thống nhất khi chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa văn hóa tộc người/địa phương và sự hình thành, phát triển của loại hình du lịch cộng đồng Dù là một loại hình du lịch mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều nhưng cũng đã có các nghiên cứu phân tích ở cả bình diện lý thuyết và chính sách ở tầm vĩ mô, trong đó một số công trình đã bước đầu đề cập đến tình hình du lịch cộng đồng ở vùng núi Bắc Việt Nam Các tài liệu này đã giúp tạo ra những góc nhìn đa chiều về sự phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng tại các địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, khuynh hướng chủ đạo của các công trình đã có là hướng đến đề xuất chính sách phát triển du lịch bền vững hoặc xem xét lịch sử hình thành và phát triển văn hóa vùng núi trong một viễn cảnh lịch sử và ở tầm vĩ mô Có thể nhận thấy hai khiếm khuyết phổ biến của các nghiên cứu đã có là: 1) nặng về thiên kiến chủ quan của người nghiên cứu trong khi tiếng nói của chủ thể du lịch cộng đồng là người dân địa phương lại ít được quan tâm xem xét; 2) còn thiếu các nghiên cứu sâu ở từng trường hợp cụ thể và đặc biệt là những phân tích tác động kinh tế - xã hội của loại hình du lịch cộng đồng còn thiên
về lý thuyết hơn là được phát triển từ những tư liệu thực địa được thu thập một cách
có hệ thống Chúng tôi hy vọng có thể bổ khuyết tình hình trên bằng việc tập trung nghiên cứu sâu hai mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác và Sả Séng để mang lại một cái nhìn cận cảnh về tình hình du lịch cộng đồng và tác động của nó qua con mắt của người dân địa phương
Trang 143 Vấn đề và địa bàn nghiên cứu
Qua phân tích các khuynh hướng nghiên cứu và nguồn tư liệu liên quan, chúng tôi đã chỉ ra nhu cầu cần có những nghiên cứu mới để đạt được hiểu biết toàn diện hơn về loại hình du lịch cộng đồng và tác động của nó ở vùng núi Bắc Việt Nam Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào các vấn đề sau đây:
1 Nhận diện sự hình thành các điểm du lịch cộng đồng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, điều kiện xuất hiện và những đặc điểm phát triển của nó ở Việt Nam Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sự khác biệt giữa hình thức du lịch dựa vào cộng đồng và các trung tâm du lịch quy mô lớn
2 Phân tích các hoạt động du lịch tại cộng đồng, dịch vụ du lịch và sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn làm rõ vai trò của cộng đồng trong việc tham gia tổ chức khai thác, phát triển du lịch, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn văn hoá địa phương nơi có hoạt động du lịch
3 Tìm hiểu tác động của loại hình du lịch cộng đồng lên hoạt động kinh tế, môi trường, văn hoá xã hội tại điểm du lịch Hai bản Sả Séng (Tả Phìn, Sapa, Lào Cai) và Bản Lác (Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình) được lựa chọn là điểm nghiên cứu sâu để khảo sát các tác động Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề lợi ích của người dân địa phương trong quá trình tham gia hoạt động du lịch và đánh giá hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng
4 Tìm hiểu phản ứng của người dân địa phương và sự thích ứng trước trào lưu du lịch cộng đồng cũng như nhận thức của họ về tác động của loại hình du lịch này lên đời sống văn hoá tộc người Mối quan hệ lưỡng nan giữa phát triển du lịch
và bảo tồn văn hoá địa phương được coi là một vấn đề mở trong nghiên cứu này để cùng phân tích và bình luận
Như đã nói, nghiên cứu này muốn tìm hiểu tính hiệu quả của mô hình phát triển du lịch cộng đồng, sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động dịch
vụ du lịch và tác động của nó đến đời sống của tại cộng đồng, do đó địa bàn nghiên cứu thực địa được lựa chọn chủ yếu tập trung vào những địa bàn đã xuất hiện và phát triển du lịch cộng đồng Hiện nay, du lịch cộng đồng đã trở thành một trào lưu phát triển rộng khắp trên thế giới và cả ở Việt Nam Để hiểu sâu hơn các vấn đề đặt
Trang 15ra và đặc biệt là lắng nghe tiếng nói của chủ thể văn hóa từ cộng đồng, chúng tôi lựa chọn bản Sả Séng (Sapa, Lào Cai) và Bản Lác (Mai Châu, Hoà Bình) làm trường hợp nghiên cứu chính Lý do của sự lựa chọn hai bản này là:
- Đây là hai cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng từ rất sớm
và vẫn đang phát triển mạnh mẽ
- Hình thức tham gia du lịch, tổ chức và quản lý hoạt động du lịch ở hai cộng đồng này về cơ bản có thể được xem là hai mô hình du lịch cộng đồng tương đối điển hình để có thể nhận diện những khác biệt và tương đồng của loại hình du lịch dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
- Hai cộng đồng này đều sở hữu một kho tàng các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần to lớn, là kho tài nguyên quý giá cho phát triển du lịch cộng đồng, người dân cởi mở và hiếu khách, thuận lợi cho việc tiếp cận cộng đồng và tham gia “ba cùng” với người dân địa phương
- Đây cũng là hai cộng đồng tham gia rất sớm vào hoạt động dịch vụ du lịch
và chịu tác động sâu sắc của trào lưu du lịch này Có thể nhân thấy tác động của du lịch lên hai cộng đồng này diễn ra theo nhiều chiều hướng và mang sắc thái khác nhau Do vậy, việc lựa chọn nghiên cứu, phân tích so sánh những tác động, ảnh hưởng giữa hai cộng đồng trên hai địa bàn khác nhau được kỳ vọng là sẽ đem lại những nhận xét hữu ích trong nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này về cơ bản là một
sự kết hợp giữa kỹ năng thu thập thông tin định lượng và định tính thông qua quá trình điền dã dân tộc học Tiếng nói của người trong cuộc sẽ được quan tâm đặc biệt Các phương pháp cụ thể được áp dụng như sau:
- Điền dã dân tộc học: Để thu thập thông tin trên địa bàn hai bản đã lựa chọn, tôi đã đến ở và cùng tham gia vào các hoạt động trong đời sống hàng ngày với người dân địa phương ở mỗi bản Quá trình điền dã được tiến hành làm nhiều đợt khác nhau Trước đây, trong quá trình nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp, tôi đã từng làm việc ở bản Sả Séng (Sapa, Lào Cai) nên tương đối thông hiểu địa bàn và giữ được mối quan hệ tốt với người dân địa phương Đó là một thuận lợi để tham
Trang 16gia trực tiếp sinh hoạt văn hoá, lễ thức, và tìm hiểu cách thức làm du lịch của người dân địa phương và hành vi du lịch của du khách tại điểm du lịch nhằm thu thập những thông tin định tính Trong trường hợp bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) tôi cũng thăm viếng nơi này hai lần Lần đầu tôi cũng giống như nhiều du khách khác, chủ yếu để tiếp cận vấn đề từ con mắt một du khách, đồng thời để xây dựng các mối quan hệ và làm việc với địa phương Tôi trở lại lần hai và lưu lại đây một tháng để tìm hiểu kỹ hơn về hoạt động du lịch của dân bản Trong quá trình sinh sống với người dân và tham gia trực tiếp vào các hoạt động hàng ngày của họ, tìm hiểu cách
họ làm du lịch, và lắng nghe những quan tâm của họ đã cho tôi những hiểu biết quý báu mà trong vai một người quan sát từ bên ngoài sẽ khó mà hiểu được
- Điều tra phiếu bảng hỏi: Bên cạnh điền dã dân tộc học bằng kỹ thuật quan sát tham gia, tôi cũng thiết lập một công cụ điều tra theo bảng hỏi để thu thập thông tin định lượng về sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động dịch vụ du lịch cũng như hệ quả về kinh tế hộ và tổng thể kinh tế địa phương, tác động về môi trường và văn hoá xã hội Thông tin về mối quan hệ tương tác giữa khách du lịch và cộng đồng cư dân địa phương và hiện tượng sex trong du lịch tại cộng đồng cũng được đặt ra trong bảng hỏi để đạt được một cái nhìn tổng thể
- Tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu các đối tượng khác nhau như đại diện chính quyền, các tổ chức kinh tế - xã hội tại địa phương, công ty kinh doanh du lịch
lữ hành, những người có ảnh hưởng xã hội tại cộng đồng và du khách Ngoài ra, một số cuộc thảo luận nhóm với người dân địa phương cũng được tiến hành để hiểu những ý kiến khác nhau và những vấn đề mà họ đặt ra liên quan đến du lịch tại cộng đồng Tôi đã tổ chức thảo luận ở các nhóm khác nhau trong cộng đồng nhằm thống nhất, đối chiếu, tham khảo được nhiều ý kiến, trong đó hướng vào các ba nhóm chính như sau:
a) Nhóm người dân cung cấp dịch vụ du lịch, trong đó có nam giới,
nữ giới đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực du lịch;
b) Nhóm du khách gồm khhách trong nước và nước ngoài;
c) Nhóm những người có vai trò xã hội và quản lý trong cộng đồng
như già làng, trưởng bản, trưởng họ Chúng tôi cho rằng ý kiến của
họ về phong tục tập quán, địa phương, hệ giá trị chuẩn mực của
Trang 17cộng đồng, và quan niệm của họ về hành vi của du khách có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ du lịch cho du khách
- Các nguồn tài liệu thứ cấp lưu giữ ở các cơ quan công quyền và gia đình cũng được thu thập và phân tích nhằm góp phần soi sáng nguồn tài liệu nguyên cấp đã thu thập được từ điều tra thực địa
5 Bố cục luận văn
Ngoài các phần Dẫn luận, Kết luận, Luận văn gồm 3 Chương chính: Chương 1 Tài nguyên du lịch của vùng núi phía Bắc Việt Nam và sự hình thành loại hình du lịch cộng đồng ở Sả Séng (Sapa, Lào Cai) và bản Lác (Mai Châu, Hoà Bình)
Chương 2 Du lịch cộng đồng và tác động kinh tế - môi trường ở địa phương
Chương 3 Du lịch cộng đồng và tác động lên đời sống văn hoá - xã hội ở địa phương
Trang 18Chương 1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA VÙNG NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM VÀ
SỰ HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở SẢ SÉNG (SAPA,
LÀO CAI) VÀ BẢN LÁC (MAI CHÂU, HOÀ BÌNH)
1.1 Cảnh quan sinh thái với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch của vùng núi Tây Bắc
Lào Cai và Hoà Bình là hai tỉnh thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa
lý, địa hình có những điểm tương đồng và khác biệt và nguồn tài nguyên sinh thái của mỗi tỉnh đã góp phần tạo nên nguồn tài nguyên du lịch đa dạng nhưng vô giá của vùng núi Tây Bắc
Lào Cai nằm cách Thủ đô Hà Nội 338km, có con đường thông thương với nước bạn Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai Địa hình Lào Cai nói chung và Sapa nói riêng đều có sự chia cắt mạnh, tạo nên sự phong phú đa dạng các loại địa hình, có thung lũng và có cả núi cao hàng nghìn mét, trong đó đỉnh Phanxipang cao 1.343m vẫn được mệnh danh là nóc nhà của Đông Dương Môi trường tự nhiên ấy không thật thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp, do thời tiết quá lạnh, mỗi năm chỉ gieo trồng được một vụ lúa, một vụ nương, năng suất thấp Thế nhưng, ở đây lại rất thích hợp phát triển các đặc sản xứ lạnh mà những vùng khác không thể có được như rau, hoa quả, thảo dược và cá nước lạnh
Khác với Lào Cai, tỉnh Hoà Bình nằm ở vị trí tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về phía Tây Bắc Đây là một vị trí có ý nghĩa chiến lược của vùng đồng bằng Bắc Bộ, là cửa ngõ ra vào vùng thủ đô và là cửa ngõ thông sang thượng Lào Đường số 6 có độ dài qua Hoà Bình 125km là con đường chiến lược nối Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào Địa hình Hoà Bình có sự chia cắt phức tạp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm ở phía Tây Bắc có độ cao trung bình 600 - 700m, địa hình hiểm trở, cao nhất là huyện Đà Bắc - độ cao trung bình 660m; vùng núi thấp ở phía Đông Nam gồm các dãy núi thấp, chia cắt,
độ dốc trung bình 200 - 250, độ cao trung bình 100 - 200m, thấp nhất là thành phố
Trang 19Hoà Bình, độ cao trung bình 20m Toàn tỉnh có 11 đỉnh núi cao trên 1.000m so với mực nước biển
Lào Cai và Hoà Bình đều được sở hữu một cảnh quan tươi đẹp, văn hoá, lịch
sử đa dạng và phong phú, có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch độc đáo, hấp dẫn như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm đặc biệt là du lịch cộng đồng
Một trong những vẻ đẹp của Lào Cai chính là Sapa Nằm trên độ cao gần 1.700m so với mực nước biển, cách thành phố Lào Cai 38km về hướng đông, cách thủ đô Hà Nội 375 km đường bộ Sapa nằm trên con đường vắt ngang dãy Hoàng Liên Sơn, nối liền thành phố Lào Cai bên sườn đông và nối liền Lai Châu, Điện Biên bên sườn tây Thị trấn du lịch Sapa là điểm nút của tuyến đường vòng cung du lịch Tây Bắc Xung quanh Sapa có Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát và thành phố cửa khẩu Lào Cai là những điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam Các bản làng Sapa nằm rải rác ở thung lũng Mường Hoa, Ô Quy Hồ, Lao Chải, Tả Phìn, Sa Pả với các dãy núi cao thấp bao quanh Cánh đồng lúa nước bao quanh thân đồi, sườn núi bằng tầng tầng lớp lớp những ruộng bậc thang Đây cũng
là vùng đất của rất nhiều các dòng thác bạc đổ vào con suối Mường Hoa chạy dài qua các cánh đồng, lòng thung và chảy về sông Hồng
Sapa nổi tiếng vì điều kiện khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch Nằm trên lãnh thổ của đới khí hậu nhiệt đới nhưng đới khí hậu vùng đất này mang sắc thái khí hậu á ôn đới và cận nhiệt đới Vì vậy, Sapa được gọi là vùng Châu Âu của Việt Nam nhờ khí hậu mát mẻ trong lành Sapa hội tụ bốn mùa trong cùng một ngày Mùa xuân bắt đầu khi trời hửng sáng, hè đến lúc giữa trưa nắng nhưng nhiệt độ vẫn
dễ chịu, chiều đến trong tiết trời thu mát mẻ, buổi tối trời trở nên se lạnh như tiết trời mùa đông Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Sapa là 15,40C, vào các tháng mùa
hè nhiệt độ trung bình là 18 - 200C và mùa đông là 10 - 120C Nhiệt độ thấp là vào thời điểm tháng 1 khoảng 00C, có những năm khí hậu Sapa xuống tới -3,20C Những ngày nhiệt độ Sapa xuống thấp nhất thường báo hiệu những cơn mưa tuyết, một hiện tượng khí hậu kỳ thú đối với khách du lịch Tuyết đã rơi nhiều lần, tuyết rơi trắng trời và tràn ngập cả một thị trấn Vì vậy, Sapa không chỉ hấp dẫn khách du
Trang 20lịch vào mùa hè mà Sapa còn tập trung rất đông khách du lịch vào mùa đông, đặc biệt là vào những ngày lạnh nhất để chờ đợi tuyết trắng Sapa
Mây Sapa là một kỳ quan hấp dẫn khách du lịch mỗi khi đến vùng đất thơ mộng này Nói đến Sapa là nói đến mây Sapa, mây đã trở thành một “nhân vật” của Sapa, khách du lịch luôn nhìn thấy một Sapa ẩn hiện giữa trời mây trắng Mây Sapa thay đổi theo mùa, theo tháng, thậm chí theo từng ngày, từng giờ với nhiều dáng hình đa dạng và kỳ thú
Chính nền khí hậu đó đã sản sinh ra hệ động thực vật phong phú, đa dạng về chủng loại và giống loài Với hơn 800 loài thực vật, trong đó có nhiều loại quý hiếm như: dược liệu, cây cảnh, cây ăn quả và hơn 600 loài động vật đang cần được bảo tồn Tổng hợp tất cả các yếu tố từ vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, cảnh quan, động thực vật đều cho ta khẳng định, Sapa là trung tâm du lịch lớn với những sản phẩm
du lịch độc đáo như: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng Sự khai thác và phát triển du lịch Sapa nói riêng và Lào Cai nói chung đã đưa đến nhiều đổi thay trong toàn bộ đời sống văn hoá - xã hội của các dân tộc nơi đây Sự ảnh hưởng đó sâu đậm khác nhau, càng xa trung tâm thì khoảng cách của
nó tới vùng du lịch càng xa dần Càng những thôn, bản gần trung tâm, có cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn, người dân hội nhập nhanh với thời cuộc thì những nơi đó chịu tác động càng lớn
Mai Châu, điểm du lịch hấp dẫn của Hoà Bình cũng may mắn được thiên nhiên ưu đãi nhiều tài nguyên quý giá Mai Châu có huyện lỵ là Thị trấn Mai Châu với tên gọi rất thơ mộng như một địa danh một thời là thị thành: Phố Vãng Mai Châu nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hoà Bình, cách thành phố Hoà Bình 70km, cách thủ
đô Hà Nội 140km Mai Châu có địa hình hiểm trở, rừng sâu, núi cao, sông ngòi, đường quốc lộ độc đạo, có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng của tỉnh, là cửa ngõ lên Tây Bắc đồng thời là cửa ngõ sang Lào Phía Đông giáp huyện Tân Lạc, Đà Bắc, phía Nam và phía Tây giáp huyện Quan Hoá (Thanh Hoá), phía Bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La), tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ Địa hình núi,
độ dốc lớn, chia cắt mạnh, có đỉnh núi Pai Linh cao 1.287 m Sát nách Mai Châu là dòng sông Mã, sông Đà chạy dọc theo địa giới bắc Địa hình Mai Châu khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối và núi cao Theo địa hình có thể chia
Trang 21thành 2 vùng rõ rệt: Vùng thấp phân bổ dọc theo suối Xia, suối Mùn và quốc lộ 15, diện tích gần 2000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ Vùng cao giống như một vành đai bao quanh huyện, chiếm tới 400 km2, địa hình núi cao hiểm trở Độ dốc trung bình 30 - 350 Nhìn tổng thể địa hình Mai Châu thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Khí hậu Mai Châu chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa tây bắc, chia thành hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, độ ẩm trung bình trong năm 82% Trong mùa mưa chịu ảnh hưởng nhiều của gió lốc và gió Lào, gió nam luôn bổ sung độ ẩm và cường độ gió khá mạnh Trong mùa khô, độ ẩm thấp, biên độ trong ngày cao, có ngày rét, sương muối hoặc mưa phùn giá rét
Mai Châu được thiên nhiên ưu đãi với núi non hùng vĩ, nhiều thảm rừng xanh đẹp, hệ thống sông suối dày đặc, ngoài sông Đà, sông Mã, còn có 4 con suối lớn: Suối Xia (40 km), suối Mùn (25km), suối Bãi Sang (10km) và suối Cò Nào (14km) Mai Châu còn nổi tiếng với những di tích, danh lam nổi tiếng, thu hút nhiều khách du lịch như: hang Khoài, hang Láng, các làng người Thái (bản Lác, bản Pom Coọng, bản Pước), người H’Mông (xóm Hang Kia) Hang Khoài thuộc xã Xăm Khoè, là một di
di tích khảo cổ học được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) cấp bằng công nhận năm 1996 Hang Láng nằm ở núi Chua Luông, thuộc bản Lác, xã Chiềng Châu, được phát hiện và khai quật năm 1976
Điểm nhấn tại các điểm du lịch Sapa, Mai Châu đó chính là các tuyến du lịch làng bản hiện đang trở thành một trong những trào lưu du lịch hấp dẫn đối với du khách Một trong những điểm du lịch nằm trên tuyến du lịch làng bản của Sapa đó chính là bản Sả Séng, xã Tả Phìn của người Dao đỏ và điểm du lịch làng bản của người Thái trắng ở Bản Lác, Mai Châu, Hoà Bình
Đặc điểm tài nguyên sinh thái xã Tả Phìn (Sapa)
Là một xã vùng cao của huyện Sapa, Tả Phìn nằm cách trung tâm thị trấn Sapa 12km về phía Bắc, là trung tâm du lịch khá sôi động của Sapa Tả Phìn có vị trí khá thuận lợi trong phát triển du lịch nhờ các đường phân tuyến du lịch làng bản
từ trung tâm Thị trấn toả về Theo quy hoạch phân vùng địa lý của huyện Sapa, Tả
Trang 22Phìn cùng với Tả Giàng Phình, Bản Khoang nằm trong tiểu vùng I của huyện Có
độ cao trung bình 1200m (chiếm 60%) khí hậu ở đây mang tính chất chung của đới khí hậu á nhiệt đới, trong vành đai bắc bán cầu, khí hậu mát mẻ quanh năm Lúc sáng sớm và khi về chiều sương mù bao phủ, mùa đông đến thì tuyết rơi trắng trời Nhiệt độ trung bình luôn ở mức 13 - 140C, lượng mưa trung bình từ 2861mm/năm Với điều kiện thuận lợi đó, Tả Phìn có khả năng trồng được nhiều loại cây khác nhau: đào, mận, cây dược liệu, chè Đặc biệt, thiên nhiên ưu đãi cho Sapa, Tả Phìn một bầu không khí trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên mạnh mẽ tạo sức hấp dẫn du khách ở khắp mọi nơi hội tụ về, đưa đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động kinh tế mới - kinh tế du lịch - làm chuyển biến cơ cấu kinh tế của một vùng đất vốn trước kia thuần nông nghiệp, tự cấp, tự túc
Nằm giữa trung tâm xã Tả Phìn là thôn Sả Séng Người dân nơi đây gọi làng
Sả Séng bởi lẽ, “Séng” có nghĩa là bãi thả trâu, hay nơi tập trung nhiều gia súc, còn
“Sả” có nghĩa rắn, trăn Như vậy, “Sả Séng” có nghĩa là nơi tập trung của rắn, trăn, gợi ra một ý tưởng về vùng đất hoang sơ thủa mới khai phá, mới có dấu vết của con người Với tổng diện tích tự nhiên là 734,6ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 142,5ha, diện tích lúa ruộng là 28,5ha Vị trí của thôn nằm ở trung tâm xã Tả Phìn,
từ đầu cửa ngõ đến cuối trung tâm xã Trung tâm xã là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng dân tộc, vì vậy các công trình, các sản phẩm quy hoạch ngoài việc phục vụ nhu cầu của xã thì cũng đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của thôn Bên cạnh đó, Sả Séng, Tả Phìn lại nằm trong khu vực du lịch của huyện Sapa nên rất thuận lợi thu hút khách du lịch và thu hút sự đầu tư; thuận lợi cho phát triển du lịch trong bối cảnh mở rộng, hoà nhập và giao lưu với các khu vực khác, nhất là liên kết các tuyến, điểm trong chương trình du lịch của huyện, đó là cơ sở để tạo ra sự phong phú và đa dạng các loại hình du lịch Thuận lợi trong việc kết hợp phát triển du lịch của thôn với chính sách phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của huyện và tranh thủ các cơ hội để phát triển du lịch Động Tả Phìn được mệnh danh là hang động bí hiểm nhất Sa Pa, bắt đầu phát hiện để phát triển du lịch vào năm 2000 Động Tả Phìn nằm trong dãy núi Chi San Từ trên đỉnh núi nhìn thấy Phìn Ngan - Bát Xát và thôn Sín Chải - xã Bản Khoang Cửa động cao khoảng 5m rộng khoảng 3m, một lối đi qua một hàng bậc,
Trang 23thấp dần xuống lòng hang Trong động có nhiều phong cảnh đẹp muôn hình vạn dạng được tạo bởi các nhũ đá vôi, có nhiều nhánh và những luồng khí lạnh Đặc biệt
là suối ở Động này thì nhiều vô kể, kể đến 2000 con, đường đi trong động rất nguy hiểm, chưa ai đi được hết động, mới chỉ khám phá 4-5 tiếng đồng hồ là thấy khó thở Điều đặc biệt thứ hai là trong động có rất nhiều Dơi, được hiệp hội Dơi thế giới thống kê gồm 7 loài khác nhau sinh sống, trong đó một số loài quý hiếm
Động thứ hai (có Đền Linh Thiêng) gồm 4 cửa: Một cửa ở bên trên và 2 cửa ở sát mặt đất và cửa thứ tư thông lên trên rừng Động khô, không có suối ngầm, hơi nông, chia làm 3 nhánh, mùa mưa nước chảy từ trên thấm xuống như tiếng đàn đá thánh thót trong màn đen Hiện tại, động thứ hai này vẫn ở dạng tiềm năng chưa được khai thác để phát triển du lịch
Cũng giống như Tả Phìn, Sapa, khí hậu ở Sả Séng là khí hậu ôn đới được chia thành hai mùa rõ rệt Ở vị trí cao và có núi bao phủ xung quanh nên về mùa đông có nhiều sương mù, ẩm ướt Mùa hè nhiệt độ trung bình khoảng 180C, khí hậu mát mẻ, vào tháng 5 hoặc tháng 6, ngày nóng nhất lên tới 28 - 300C, nhưng nền nhiệt nhìn chung là mát mẻ Mức độ giao động giữa ngày nóng nhất và lạnh nhất không quá lớn Mùa đông khí hậu lạnh nhiệt độ trung bình khoảng 100C, nhiều ngày xuống tới 4 - 5oC, đặc biệt có ngày xuống tới 0oC, nhiều sương mù và ẩm ướt Nguồn nước trên mặt ở làng Sả Séng khá phong phú Khu vực đội I có 3 con suối nhỏ - còn gọi là Khe suối con, tất cả đều chảy theo hướng bắc, với độ dài khác
nhau Thực vật có rừng Thảo quả và rừng trúc (cho 2 loại măng: măng ngọt và
măng đắng, vỏ làm cơm lam) ở hai bên đường vào thác, tạo không gian cảnh quan
xung quanh thác và tôn thêm vẻ đẹp cho con thác Đội IV có hai con suối nhỏ cũng gọi là Khe suối nhỏ, một con chảy về hướng Đông, một con chảy về hướng Nam
Sự phong phú về các con suối trong làng bồi đắp cho đồng ruộng màu mỡ, phì nhiêu, tôn thêm vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên càng thêm thơ mộng, hấp dẫn Chính điều kiện khí hậu, thuỷ văn đó đã tạo nên hệ động thực vật ở Sả Séng rất
đa dạng, phong phú Thực vật nổi bật trong các khu rừng của thôn là cây gỗ Zổi, Xoan Trà, Trâm, to và đều, đường kính của cây tối đa là 50 cm, cao 10 - 11m Rừng
ở đây đa số là rừng tái sinh có độ tuổi 60 - 70 năm tuổi Đặc biệt trong rừng này có rất nhiều thảo quả, là loại quả có giá trị lớn trong việc chữa một số bệnh (chữa cảm
Trang 24cúm, cảm lạnh, cảm đột ngột, làm sạch các lỗ chân lông…) và tăng thu nhập cho người dân Động vật trong khu rừng ở Đội I chủ yếu là rắn (rắn Hổ mang), ếch đá, cua đá, gà cỏ, sóc Đẹp nhất, số lượng nhiều nhất là gà cỏ, có thể gặp được khi tham quan rừng
Phát triển trên địa hình núi đá có độ dốc lớn là khu rừng tái sinh khoảng 6 năm tuổi Thực vật ở đây chủ yếu là cây gỗ zổi Động vật trong các khu rừng ở đây gồm có Báo, Rắn, Gà Lôi, Nhím, Hoãng, Sóc, Cầy Bay, Chồn Số lượng nhiều nhất
là Sóc, tiếp đến là Gà Lôi Động vật đặc sắc, hấp dẫn là Rắn Hổ Mang Chúa, có con
to nhất nặng tới 10kg và dài tới gần 3m, đường kính thân lớn nhất chừng 10 cm Hai khu rừng này còn được người dân gọi là "Rừng Thiêng" do họ thường nghe thấy những âm thanh lạ như tiếng kêu la, cây đổ, tiếng bước chân…và đó là lý do người ta cho đó là Ma Rừng
Ngoài ra trong các khu rừng này có nhiều cây thuốc tắm chữa bệnh, thuốc chữa các loại bệnh khác Người dân địa phương vẫn thường tự lên rừng khai thác các loại cây thuốc này phục vụ nhu cầu chữa bệnh hàng ngày của gia đình mình Và nay, khi du lịch phát triển, các loại cây thuốc đó còn được khai thác để phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch
Tổng hợp các điều kiện vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật đều cho thấy du lịch bản Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, Lào Cai có sức hấp dẫn kỳ lạ Ở đây hội tụ đủ điều kiện để phát huy đa dạng các loại hình như: du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và đặc biệt là du lịch cộng đồng
Đặc điểm tài nguyên sinh thái xã Chiềng Châu (Mai Châu)
Bản Lác thuộc xã Chiềng Châu, nằm cách trung tâm huyện lỵ 2km về phía nam, cách trung tâm xã khoảng 1,5km về phía bắc Bản Lác chỉ là một thôn nhỏ có tổng diện tích tự nhiên là 429 ha, đất canh tác có 33,9 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 24,1 ha, còn lại là đất mầu và đất chuyên dùng khác Bản Lác thực tế hiện nay bao gồm gồm hai thôn nhỏ, gọi là Lác 1 và Lác 2 nối với nhau bởi cây cầu Lác Cả hai bản Lác 1 và Lác 2 có khoảng 100 nếp nhà sàn, các hộ gia đình đều có khuynh hướng xây dựng nhà bám lấy mặt đường trong bản Diện tích nhà ở được xã phân chia đều cho mỗi hộ là 360m2 đất thổ cư Quy hoạch làng bản rất gọn gàng, khoa học Mỗi
Trang 25ngôi nhà bám lấy mặt đường nhưng đều cách mặt đường khoảng 3m, giữa các gia đình không có tường bao, tạo nên sự thông thoáng, cởi mở Hệ thống đường xá đều
đã được đầu tư bê tông hoá với 3 trục đường chính và các nhánh đường xương cá song song với nhau Bao bọc lấy bản là 2 con suối: Suối Mùn và xuối Xia Bản Lác nhỏ xinh như một hòn đảo nằm giữa thung lũng
Theo lời kể lại của người dân, thời bao cấp, người dân ở bản rất nghèo, điều kiện canh tác khó khăn, nguồn nước tưới tiêu vào mùa hạn rất khan hiếm Người dân thường phải đắp đập dẫn nước về bản Đến mùa lũ, đập lại bị cuốn trôi Theo nhiều thầy địa lý phán thì mảnh đất này rất khó khăn, không tốt cho việc định cư nên người dân không thích ở lại đây Sau khi Nhà nước thực hiện một số chương trình hỗ trợ như: Chương trình 134, Chương trình 135 đời sống của người dân cũng đỡ khó khăn phần nào
Thiên nhiên phú cho vùng đất này khí hậu mát mẻ, trong lành, nhờ vậy, nước
da của người dân ở đây rất trắng trẻo, hồng hào Hình ảnh người con gái Thái ngồi dệt bên khung cửi đã làm say lòng bao du khách, mỗi khi về bản, khiến họ không thể không trở lại vùng đất này lần thứ hai, thứ ba và nhiều hơn nữa
Cũng giống như ở Sả Séng, Bản Lác sở hữu những con suối thơ mộng, và cả những cái hang tự nhiên dưới lòng núi đá được người dân địa phương gán cho nhiều huyền tích, làm cho du khách bị hấp dẫn bởi những câu chuyện gợi nhớ về thuở khai thiên lập địa của loài người Đạp xe trên những con đường nhỏ gập ghềnh quanh co và nhìn ngắm phong cảnh hữu tình của những bản làng Thái định cư với những nếp nhà sàn khói lên nghi ngút trên không gian xanh thẳm của núi rừng mỗi khi chiều về chính
là một thú vui khôn tả của du khách nước ngoài mỗi khi đến với bản Lác
Hệ sinh thái rừng ở bản Lác đã hầu như cạn kiệt Những cánh rừng trồng và những vạt nương định canh đã trở nên thuần thục cho du khách thấy một nét đẹp khác của tự nhiên đã bị chinh phục và phá vỡ ở nơi đây Chính từ những vạt nương định canh này, người Thái địa phương đã trồng được nhiều loại rau quả và đặc biệt là lập nên các trang trại chăn nuôi bò, dê, gà, lợn và trở thành một nguồn cung ứng thực phẩm dồi dào cho du khách lưu lại nơi này trong khi cá suối là một sản vật địa phương không thể thiếu trong mỗi bữa ăn đãi khách Nếu như ở Tả Phìn, phong cảnh nổi bật là các mảnh ruộng bậc thang với các cung bậc khác nhau quanh co uốn lượn thì ở bản Lác,
Trang 26những cánh đồng lúa nước hai vụ cho năng suất cao nhờ kỹ thuật điều khiển nguồn nước suối nơi chân núi làm nên một phong cảnh hữu tình của non nước và sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của con người
Xét về điều kiện tự nhiên, bản Lác, Chiềng Châu, Mai Châu, Hoà Bình dường như không thật phong phú, hấp dẫn như ở Sả Séng, Tả Phìn, Sapa, nhưng trên thực tế,
du lịch ở bản Lác lại phát triển không thua kém gì Sả Séng, phải chăng, sức hút du lịch của bản Lác lại chính là nguồn tài nguyên văn hoá nhân văn rất phong phú và đa dạng
mà người Thái vẫn lưu giữ được gần như nguyên vẹn
Tổ tiên người Thái bắt nguồn từ nhóm Bách Việt, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh tụ ở Quảng Tây, Quảng Đông (Đông Nam Trung Quốc) Trong thiên niên
kỷ thứ nhất trước Công nguyên, do sức ép bành trướng thế lực của người Hán, một bộ phận tổ tiên người Thái cổ đã di cư nhiều đợt theo hướng tây nam, hướng nam vào tỉnh Vân Nam và miền tây Đông Dương - dọc theo các con sông lớn và các chi nhánh của chúng ở vùng Đông Nam Á Cùng thời điểm đó, một số cuộc thiên di của nhiều nhóm tổ tiên cư dân thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến từ Trung Á, tây Trung Quốc cũng tràn xuống khu vực này Vào những thế kỷ đầu của thiên nhiên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, người Thái đã lập được một loạt tiểu vương quốc, dọc thượng lưu sông Mê Công, miền thượng Lào, tây bắc Việt Nam Cũng từ đây, trong nền văn hoá tộc Thái ở Việt Nam mới ghi được nhiều thông tin về lịch sử hình thành, tồn tại
Trang 27và phát triển của một số bản, mường của người Thái ở nước ta Đến các thế kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ nhất và các thế kỷ của thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên, các nhóm tộc Thái ở Vân Nam lớn mạnh bắt đầu tràn xuống phía nam Ngành Thái trắng di cư và xuất hiện xuống phía nam sớm hơn ngành Thái đen Sau khi đánh chiếm, bình ổn vùng thượng lưu sông Đà (Lai Châu), người Thái trắng đã tràn xuống vùng Quỳnh Nhai (Sơn La), Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu), Phù Yên (Sơn La), một số bộ phận di cư xuống Đà Bắc, Mai Châu (Hoà Bình), Mường Khoòng (Thanh Hoá)
Ngành Thái đen vào Việt Nam đông đảo nhất vào khoảng thế kỷ XI - XII Đến thế kỷ XI, hai anh em Tạo Xuông - Tạo Ngần đã đưa ngành Thái đen (Tay đăm) xuất phát từ Vân Nam (Trung Quốc) dọc theo sông Hồng xuống Mường Lò (Lai Châu) Đây chính là tổ tiên của người Thái đen ở Sơn La, một phần ở tỉnh Yên Bái, Điện Biên và tây nam tỉnh Lào Cai Qua nhiều thế kỷ phát triển, các nhóm tộc Thái dần dần có một số sắc thái địa phương khác nhau, đó là kết quả chủ yếu của quá trình hỗn huyết và tiếp thu văn hoá của các cư dân xung quanh Một bộ phận chung sống với người Mường - chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá Mường, sống với người Tày - chịu ảnh hưởng của văn hoá Tày; một số nhóm gốc tộc Thái hỗn huyết với nhau, hỗn huyết với các tộc khác Từ những cứ liệu lịch sử cho thấy, người Thái có lịch sử định cư ở nước ta sớm hơn hẳn so với người Dao, họ là một trong những cư dân cổ của nền văn minh Âu Lạc, là một trong những chủ nhân khai phá nền văn minh, văn hiến Đại Việt
Qua nguồn tư liệu điều tra dân số học, người Thái ở Việt Nam hiện có khoảng 1,3 triệu người, họ sinh tụ tập trung ở các tỉnh tỉnh vùng Tây Bắc, Nghệ An, Thanh Hoá, một bộ phận nhỏ sống ở Lào Cai, Yên Bái Ngoài ra còn một số rất ít người Thái đã di cư tự do vào một số tỉnh ở Tây Nguyên Tộc Thái có hai ngành khởi đầu:
- Ngành Thái đen (Tay đăm): cư trú chủ yếu ở các huyện của tỉnh Sơn La, một phần ở Yên Bái (Văn Chấn), Điện Biên (Điện Biên, Tuần Giáo), tây nam Lào Cai Trong ngành Thái đen có một nhóm gần gũi với văn hoá Lào, đó là người Thái
ở Nghệ An, Thanh Hoá
Trang 28- Ngành Thái trắng (Tay Khao) tập trung ở Mường Lay, Mường Xo (Lai Châu), Quỳnh Nhai (Sơn La) Một số khác tự xưng là Thái trắng nhưng có rất nhiều nét giống với Thái đen, cư trú tại Phú Yên, Mộc Châu (Sơn La)
Thực ra sự phân chia giữa các ngành của tộc Thái chủ yếu chỉ ở trang phục
và một số điểm nhỏ trong ngôn ngữ, tập quán Các tộc Thái giống nhau cơ bản về ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán Người Thái đều ăn cơm nếp, ở nhà sàn, đều có tục ở rể, tính tình chân thực, hào hiệp và mến khách Hình thái kinh tế của các tộc Thái cũng giống nhau, là nền kinh tế sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên
Người Dao ở Việt Nam có số lượng ít hơn, đứng thứ 6 so với các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc nước ta Họ sống xen kẽ với các dân tộc: H’mông, Mường, Tày, Nùng, Kinh.,tập trung chủ yếu ở một số tỉnh vùng cao: như Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai Người Dao cư trên trên các vùng địa lý khác nhau: Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp Trong đó vùng cao là nơi người Dao
đỏ tụ cư nhiều nhất, có độ cao trung bình từ 800 - 1000m (có nơi cao đến 2000m) Người Dao ở Việt Nam được phân làm 7 nhóm chính: Dao đỏ hay Dao cóc ngáng, Dao sừng, Dao đại bản, Dao dụ lạy; Dao quần chẹt hay Dao sơn dầu; Dao tiền hay Dao đeo tiền; Dao lô gang hay Dao thanh phán; Dao quần trắng; Dao thanh
y và Dao tuyển Trong đó, người Dao ở Lào Cai thuộc vào 4 nhóm: Dao đỏ; Dao tuyển; Dao họ và Dao thanh y Các nhóm này có mặt ở các huyện: Bát Xát, Bảo Yên, Sapa, Bảo Thắng, thành phố Lào Cai sinh sống đan cài, xen kẽ với 24 dân tộc trên địa bàn tỉnh như: H’Mông, Kinh, Tày, Giáy, Nùng, Phù Lá tạo nên một nền văn hoá đa dạng giàu bản sắc Trong bức tranh đa dạng sắc màu đó, người Dao
đỏ cũng chiếm một sắc màu chủ đạo Người Dao đỏ ở Lào Cai thường từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam sang, họ tìm nơi định cư tại các sườn núi cao, nơi thuận
tiện về nguồn nước và ruộng nương Trong “Lĩnh Nam ngoại đáp” của Chu Khứ Phi
có nhận xét: nơi cư trú của họ (người Dao) thường ở vùng “đất thường là núi cao”,
“nơi hang càng xa, người Dao càng nhiều” (Đặng Nghiêm Vạn, 2006, tr 304) Do đó, người Dao sang Việt Nam, tìm đến các vùng núi cao Tây Bắc định cư (trong đó có Lào Cai) là điều dễ hiểu
Trang 29* Về người Dao đỏ ở bản Sả Séng
Bản Sả Séng có 99 hộ với 565 nhân khẩu (2009), có hai dân tộc chính là Dao
và Kinh, trong đó người Dao là tộc người sinh sống lâu đời ở đây, còn bộ phận người Kinh mới lên đây lập nghiệp trong thời gian từ năm 1995 trở lại đây Họ tụ
cư chủ yếu tại khu trung tâm của xã Người Dao ở Sả Séng thuộc ngành Dao đỏ Theo các cụ già trong thôn cho biết tên gọi Dao đỏ có nguồn gốc từ thực tế là người phụ nữ Dao luôn đội trên đầu chiếc khăn lớn màu đỏ Giáo sư Bế Viết Đẳng khi viết
về người Dao ở Việt Nam cũng cho rằng: Người Dao đỏ còn có tên là Dao Cóc ngáng (theo cách gọi của người Tày), Dao Đại bản (theo cách gọi của người Hoa) hay Dao sừng, Dao Dụ lạy Trang phục của phụ nữ Dao đỏ có nhiều màu đỏ, nhiều tua, núm bông đỏ (Bế Viết Đẳng, 2006: 167 - 168) Như vậy, trang phục truyền thống của người Dao đỏ chính là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt họ với các ngành Dao khác Người Dao thường chọn nơi định cư trên các sườn núi, ở phân tán Đến với Sả Séng, Tả Phìn nhiều người cứ ngỡ người Mông ở cao hơn người Dao nhưng từ xa xưa người Dao thường chọn nơi định cư ở các sườn núi có độ cao cao hơn nơi định cư của người Mông Trong quá trình định cư, người Dao “hạ sơn” gắn với nền văn minh nương rẫy, khai khẩn ruộng bậc thang, trồng lúa, ngô, khoai, sắn
và cây ăn quả Đơn vị đo diện tích của người Dao đỏ rất đặc biệt, đo bằng số lượng cân giống Ở Sả Séng hiện nay có 1.521 cân giống ruộng và 579 cân giống nương Đây là nguồn sữa nuôi sống gần trăm hộ gia đình do người dân ở đây chủ yếu làm kinh tế nông nghiệp, tự cấp, tự túc
Về người Thái ở bản Lác
Theo những ghi chép trong một cuốn biên niên sử do Sở Văn hoá Thông tin (nay là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hoà Bình) sưu tầm được thì tổ tiên của người Thái ở Mai Châu Hoà Bình khởi thủy từ miền đầu sông Hồng, ở một vùng đất thuộc huyện Bắc Hà (Lai Châu) ngày nay đã di cư dọc sông Hồng, rẽ sang sông Đà, rồi lập nghiệp ở vùng Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hoà Bình), Mường Khoòng (Thanh Hoá) khoảng 700 năm trước đây, tức vào khoảng đầu thế kỷ XIV Lãnh tụ của người Thái Mai Châu - Hoà Bình lập nghiệp tại Mường Mùn là Lang Bôn, con cả của Tạo Kha, Vì ông là con vợ hai nên khi lấy vợ được chia rất ít đất
Vì lẽ đó, ông đã đưa gia quyến từ vùng Bắc Hà (Lai Châu) bỏ xuống vùng Bạch
Trang 30Hạc Ở Bạch Hạc ít lâu, không thấy thuận tiện, ông dẫn dắt gia đình thân quyến xuôi dòng sông Đà và đến lập cư tại Mai Châu - Hoà Bình
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu người Thái Cầm Trọng (1999), người Thái trắng có lịch sử định cư ở Mai Châu hơn 400 năm với tên là Mường Mùn, di cư từ vùng Sông Hồng lên vùng núi phía Bắc Việt Nam và sau đó chuyển đến vùng thung lũng sông Đà trước khi đến Mai Châu Theo các cứ liệu được ghi bằng chữ Thái cổ của người Thái cho thấy, người Thái trắng ở Mai Châu di cư từ Mường Khà vào thế
kỷ thứ XIII, cách đây 800 năm, khi đó thuộc vùng đất của huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai hiện nay, cách Mai Châu khoảng 300 km (Achariya Nate-Chei, 2010)
Nguồn gốc của người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình có liên quan đến nhóm Thái ở Mộc Châu (Sơn La) và nhóm người Thái ở Mường Lầu, Mường Khoòng (Thanh Hoá)
Sự liên quan đó đã được ghi lại thành truyền thuyết Truyền thuyết nói về ba anh em nhà tạo (tạo thường chỉ con trai dòng dõi quý tộc người Thái) ở vùng Bắc Hà (Lai Châu) vì thiếu đất và đất nhiều cỏ gianh nên đã rủ nhau xuôi sông Hồng tìm đất lập Mường mới Theo truyền thuyết, người con thứ hai đã lập nghiệp ở Mai Châu - Hoà Bình, người con
út ở vùng Thanh Hoá, người anh cả ở vùng Mộc Châu (Sơn La) Chính vì vậy, người Thái vùng Thanh Hoá gọi người Thái ở Mai Châu là bác, người Thái ở Mai Châu gọi họ
Trang 31(anh cả) ở vùng đất Mường Hạ, tạo Khằm Piềng ở vùng Mường Thượng, tạo Khằm Pành (con út) ở vùng Mường Khoòng
Như vậy, lịch sử người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình đã trải qua khoảng 6 thế
kỷ, trong đó kể từ thời Lang Bôn đến thời 3 anh em con tạo Kha Bằng đã trải qua 9 đời chúa đất, với thời gian khoảng 200 năm mới cơ bản khai phá xong ruộng đồng của tổ tiên để tồn tại, sinh sống, phát triển đến ngày nay
Người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình mang nhiều họ khác nhau, nhưng phổ biến nhất là họ Hà, sau đó là họ Lò, họ Hoàng, họ Ngần Cũng như người Thái ở các vùng khác, người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình quần cư thành các bản, với số nóc nhà khoảng 30 - 100 gia đình Bản thường ở thung lũng nhỏ, trung bình, phẳng hoặc hình lòng chảo, có sông, có suối chảy qua, đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và một phần cho tưới tiêu trong nông nghiệp Vị trí của các bản thường được lựa chọn, tính toán tương đối kỹ, sao cho thuận tiện về nguồn nước, nhưng đảm bảo không bị ngập lụt khi mưa to hay có lũ quét Nền văn hoá của người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình cũng như nền văn hoá của tộc người Thái trên toàn quốc là mô hình văn hoá thung lũng, lấy cây lúa nước làm trụ cột, do đó, cũng có thể gọi là văn hoá lúa nước Văn hoá thung lũng chính là sự hội nhập giữa văn hoá củ, bầu bí - cạn và văn hoá lúa - nước, có hai nguồn gốc đến với người nguyên thuỷ hoàn toàn khác nhau
Bản Lác là địa bàn định cư lâu đời của người Thái trắng chiếm gần 100% dân số Toàn bản chỉ có 5 hộ gia đình người Kinh, họ chủ yếu là dân ngụ cư, không được quyền mua bán đất của người Thái mà chỉ được quyền thuê và sử dụng, một
số khác thì hợp thức hoá qua con đường hôn nhân, kết hôn với người Thái và làm nhà định cư tại bản Lác Đây là chính sách mà người Thái đã đặt ra nhằm duy trì tính cố kết cộng đồng, chống lại những tác động ngoại cảnh do các yếu tố bên ngoài tác động đến cộng đồng
Theo truyền thuyết kể lại, xưa bản Lác ruộng không có nước, có hai anh em người Thái và người Mường về khai phá Nhưng vì ruộng không có nước phải lên rừng trồng nương rẫy Hai anh hai tiếng khác nhau Anh Thái nói Chang co lác, anh Mường nói Chang co lạc Người Thái gọi là Tày Lạc (tức là người lạ), người Mường gọi là Tày Lác (tức không có nước) Sau này, anh người Thái ở lại nên gọi
là Bản Lác (hay bản Lạ)
Trang 32Người Thái ở bản Lác trước kia cũng như người Thái ở các vùng khác thường gắn liền với trồng trọt, săn bắn và hái lượm, việc dệt vải, may vá đều tự cung, tự chế Kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp Trước kia người Thái ở bản Lác nói riêng và Mai Châu nói chung chỉ trồng lúa nếp, cấy một vụ trong năm, ngoài ra còn trồng một ít lúa tẻ trên nương rẫy Ngày nay, do sức ép dân số, do thay đỏi trong thói quen ẩm thực
và cũng do học được cách trồng lúa tẻ của người Kinh, người Thái đã chuyển sang trồng
2 vụ lúa/năm, trồng lúa tẻ là chính Với sự tăng vụ, trồng lúa tẻ năng suất lại cao hơn rất nhiều so với lúa nếp nên nhiều bản người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình, trong đó có Bản Lác cơ bản đã đảm bảo được an toàn lương thực
* Nhà ở với tư cách là một di sản văn hoá vật chất của tộc người
Nhà ở của người Dao là kiểu nhà có tường đất Nguyên liệu làm nhà thường bằng gỗ Pơmu Ngôi nhà truyền thống có ít nhất 3 gian, hai mái chính: trước và sau nhưng mái trước lại có phần mái hiên Trong ngôi nhà có 3 cửa: 2 cửa ở hai bên chái nhà (một cửa chính, đối diện là cửa từ bếp đi ra phần phụ của ngôi nhà), 1 cửa
ở phần hiên nhà Trong nhà 2 bếp: một bếp dùng để nấu nướng, đặt ở gian bếp và một bếp dùng để sưởi, lấy lửa thắp hương, đặt ở gian ngoài nhà (gần cửa ra vào) Số lượng buồng phụ thuộc vào số thành viên trong gia đình Vị trí các buồng được quy định khắt khe thể hiện thứ bậc trong nhà: buồng của bố mẹ gần cửa ra vào, tiếp đến
là buồng của con trưởng, buồng của con thứ Nét đặc biệt trong nhà người Dao vị trí của 1 gian đặc biệt và bàn thờ của người Dao
Gian đặc biệt thường có vách chắn theo chiều dọc của nhà và có một đoạn vách ngăn nó với gian bên Sau đoạn vách ngăn dọc là 1 buồng nhỏ thường để rượu hay thịt Vị trí của bàn thờ đặt ở gian giữa, sát cột trụ thứ 2 của nhà Bàn thờ là nơi rất linh thiêng của người Dao phải chọn ngày để lập bàn thờ Trong 1 năm chỉ chọn được 12 ngày, có khi chỉ chọn được 4 ngày Bàn thờ chỉ có người Nam giới mới được thắp hương còn nữ giới đặc biệt là phụ nữ sinh con xong không được quét dọn hay chạm vào bàn thờ Bất kỳ gia đình nào cũng có một quyển sổ gia phả ghi tên tổ tiên và các nghi thức làm lễ, được đặt trên bàn thờ Bàn thờ có 2 loại:
+ Loại bàn thờ Thượng Tầng có thần tượng, có tranh ảnh, có kiếm thần tượng, có bát hương, bát nước thánh, có ấm nước và 6 cái chén, 1 túi gạo nhỏ Đây
là bàn thờ của dòng họ
Trang 33+ Loại bàn thờ Hạ Tầng có một bát hương, 1 bát nước, 5 cái chén, 1 túi gạo Riêng 5 cái chén và 1 túi gạo thường xuyên để trên bàn thờ thể hiện gia đình đó đã làm lễ cấp sắc
+ Ngoài ra trong nhà của thầy cúng hay thầy thuốc có bàn thờ riêng
Khác với nhà ở của người Dao, nhà của người Thái Mai Châu là nhà sàn, thường được dựng ven thung lũng, nhìn ra cánh đồng hoặc sông suối Ngôi nhà lý tưởng của họ là “Vườn rau chân cầu thang, ao cá trước nhà, máng nước dội giữa sàn” Nhà sàn của người Thái bản Lác có dáng dấp nhà sàn vùng Hoàng Liên Sơn, Lai Châu hơn là nhà sàn người Thái vùng Sơn La, nó vẫn giữ được nét truyền thống, thoáng mát, hợp với cảnh thung lũng của vùng nhiệt đới Đó là kiểu nhà sàn bốn mái gồm 2 mái chính và 2 mái phụ ở hai đầu hồi vuông góc Mái nhà hiện nay
đã được nâng cao, không hạ thấp che quá nửa tường vách như xưa Hai đầu hồi là hai thang gỗ để lên nhà, các thang gỗ có số bậc thang lẻ Cột thường là cột tròn, gỗ tốt, không mọt, được chọn rất kỹ, qua nhiều năm mới đủ cột làm nhà Mái thường lợp bằng cỏ tranh, sàn là cây tre mai được lột phẳng cả cây, ghép cây nọ nối với cây kia, dàn trải trên cùng một mặt phẳng Một điều đặc biệt của nhà sàn người Thái bản Lác - Mai Châu cũng như của người Thái ở các vùng khác là dựng nhà họ chỉ dùng rìu để đẽo, chặt các mộng - không dùng các loại chàng, đục của thợ mộc, sử dụng các móc gỗ - không hề sử dụng đinh, vít Tuy chỉ có vậy nhưng nhà dựng lên rất chắc chắn-gió, lốc lớn cũng không bị sập nhà bao giờ
Bước lên nhà của người Thái ở bản Lác sẽ thấy một không gian thoáng mát, sáng sủa và rộng rãi Tầm nhìn không bị chắn bởi các vách ngăn nhà hoặc các hàng cột giữa bởi vì người Thái rất ít dùng vách ngăn trên sàn, không dùng cột giữa vì các xà ngang là cột gỗ to, tốt đủ sức đỡ mái nhà đồ sộ
Bố cục trong nhà của người Thái phản ánh một trật tự xã hội phụ quyền thời
xa xưa, đề cao người chủ gia đình cũng như người đàn ông trong nhà, đồng thời cũng thể hiện tính hợp lý cao độ của một nền nông nghiệp trồng lúa Bố cục trong nhà không phụ thuộc vào số gian của nhà mà phụ thuộc vào quy định chặt chẽ của luật lệ Trong nhà thường chia thành hai phía: phía trên và phía dưới Phía trên là nơi để bàn thờ, nơi ở của các bậc cao niên, thường là ở phía cửa vào nhà, phụ nữ ít
Trang 34được qua lại Phía dưới là nơi để các thứ vật hàng ngày, nơi con cháu ở, nơi phụ nữ
có thể qua lại
- Trang phục và trang sức truyền thống như một tín hiệu của văn hóa tộc người
Trang phục của người Dao có gam màu nóng nổi trội (do khí hậu á nhiệt đới, mùa đông lạnh kéo dài) màu đỏ kết hợp màu vàng, màu trắng nổi bật lên màu chàm tạo thành vẻ rực rỡ Người phụ nữ Dao đỏ Sa Pa luôn đội khăn màu đỏ có đính các hạt bằng bạc, quần lửng, áo ngắn có 2 vạt dài, đường thêu dài mũi, các đồ bằng bạc rất phong phú Người đàn ông Dao đỏ thường mặc áo ngắn, còn áo dài như áo của phụ nữ chỉ mặc trong 2 dịp đó là trong lễ cưới và lễ cấp sắc Đặc biệt người đàn ông Dao đỏ cổ nhất đội khăn được quấn thành 3 góc (như 3 cái sừng) nhưng nay quấn tròn nhiều vòng bằng một cái khăn dài khoảng 3m Trẻ con đội mũ có nhiều múi với các mầu khác nhau đính thêm các hạt bằng bạc
Người Dao đỏ Sa Pa kết hợp hai biện pháp kỹ thuật chủ yếu tạo hoa văn là
kỹ thuật thêu và ghép vải màu Người Dao đỏ Sa Pa thêu hoa văn không cần công đoạn vẽ màu trước Đồng bào có cái nhìn khái quát, hoàn toàn dựa vào trí nhớ và sự chỉ dẫn của thầy cúng để thêu hoa văn Hoa văn trên trang phục của thầy cúng người Dao đỏ Sa Pa có tiết diện dày, khổ to Vì vậy, kỹ thuật thêu gần với kỹ thuật ghép sợi, thiên về kỹ thuật tô đậm hoạ tiết Tuy nhiên bên cạnh các hoạ tiết chính có tiết diện dày, nhiều đường viền, hoạ tiết phụ thêu khá tinh tế, kết hợp nhiều kỹ thuật thêu luồn, thêu móc, thêu đột, thêu chéo mũi, thêu lót tạo ra đồ án trang trí là điểm nổi bật trong kỹ thuật thêu Bên cạnh kỹ thuật thêu, người Dao đỏ Sa Pa còn sử dụng kỹ thuật ghép vải, ghép các mảnh vải có tiết diện nhỏ tạo thành đường viền, tạo nên nét đậm trong hoạ tiết hoa văn Thậm chí, cá biệt một vài hoạ tiết ở gấu áo còn có kỹ thuật đính ghép vải thành nhiều lớp với nhiều màu sắc khác nhau Các biện pháp kỹ thuật thêu, ghép vải được khéo léo kết hợp với nhau, tạo ra sự phong phú về mô típ hoa văn, sự đậm nhạt về màu sắc Nhờ vậy mà màu sắc, đường nét hoa văn có sự chuyển động, biến đổi liên tục, vui mắt
Ở Sả Séng hiện nay, hầu như ai cũng có bộ trang phục truyền thống để mặc vào các ngày lễ, tết, cưới truyền thống Nhất là nữ giới còn thường xuyên mặc bộ trang phục của dân tộc mình ngay cả khi đi làm, ở nhà hay trong các ngày lễ tết Trang phục, cũng như trang sức truyền thống của người dân ở Sả Séng hiện nay vẫn
Trang 35còn tương đối nguyên bản Riêng ở xã Tả Phìn đã thành lập CLB thổ cẩm, tuy thuộc
sự quản lý của xã nhưng cũng giúp cho trang phục, trang sức truyền thống của người Dao đỏ làng Sả Séng được bảo tồn và phát triển, thuận lợi cho tìm hiểu, bảo lưu, giữ gìn, phát triển và quảng bá du lịch
Cũng giống như người Dao Sapa, người Thái Mai Châu vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đặc trưng trong trang phục Trang phục của người Thái bản Lác - Mai Châu được phân biệt theo lứa tuổi, giới tính, trước kia còn phân biệt theo địa vị xã hội nhưng ngày nay không còn nữa Trang phục còn được chia ra trang phục ngày thường
và trang phục ngày lễ Bộ trang phục của nữ gồm áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chái
và xửa luống), váy (xỉn), khăn (khăn), nón (cúp), xà cạp (pe păn kha), xà tích (xai xói), hoa tai (tòng liu), vòng tay (poọc khen) bằng bạc hoặc đồng Khăn (piêu) của phụ nữ Thái - Mai Châu trước kia là không thể thiếu được, nó như là chiếc nón của người Kinh Tuy vậy, người Thái Mai Châu đã không sử dụng khăn piêu rừ rất lâu
do ảnh hưởng của văn hoá người Mường Khăn piêu đã được thay thế bằng khăn quấn quanh đầu màu trắng như của người Mường cách đây vài thế kỷ Người phụ
nữ Thái rất chú ý đến mái tóc Mái tóc phụ nữ Thái dày, dài và óng mượt, được cài trâm bạc để thõng tạo nên sự mềm mại Mái tóc, váy ngang đầu gối, áo ngắn bó sát người, tính tình nhẹ nhàng, ít nói, đi đứng khoan thai đã tạo cho người phụ nữ Thái luôn luôn có một sự dịu dàng, duyên dáng riêng biệt, nổi bật trong khung cảnh núi rừng, làng bản hùng vĩ và lên thơ, kể cả lúc họ đi làm hay trong ngày lễ hội Trang phục của nam giới đơn giản, ít màu sắc, bớt diêm dúa, càu kỳ hơn Trang phục của nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng, khăn Với các em trai nhỏ, trang phục thường là vải dệt caro, hoặc sọc đứng nét nhỏ, màu nâu đen, đen trắng Mùa đông đội mũ trùm đầu, mũ gồm nhiều mảnh vải, màu sắc khác nhau, ghép lại thành mũ Đàn ông cao niên thường mặc áo dài, thắt lưng chàm hoặc tơ vàng, răng nhuộm đen
Kỹ thuật chế tác trong việc chế tạo màu để nhuộm, dệt, pha màu cho vải, sợi Các kỹ thuật đó gắn liền với các sản phẩm của thiên nhiên như màu đỏ từ cây tô mộc (mạy cô pha), màu vàng từ củ nghệ, màu đen từ cây chàm (mạy hoán), phối hợp màu cây tô mộc và màu chàm tạo màu xanh Họ còn giỏi cả về nghề cơ khí, kim hoàn, giỏi về nghệ thuật trang trí Tất cả các đồ trang sức đeo trên người từ vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài đầu, xà tích, cúc áo đều do họ tự chế tác
Trang 36Khác với người Dao Sapa, người Thái Mai Châu giờ ít vận trang phục truyền thống hơn, người Thái Mai Châu giờ thích mặc quần Jean, áo phông hơn mặc áo sửa cỏm, khăn piêu không còn xuất hiện thường xuyên Chỉ còn rơi rớt lại những người phụ nữ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch vận trang phục, trang sức truyền thống
- Văn hoá ẩm thực và hồn cốt dân tộc
Người Dao Sapa sử dụng gạo tẻ là chính Đặc điểm nổi bật trong văn hoá ẩm thực của người Dao đỏ là các món xào Ẩm thực có sự khác nhau trong ngày thường và ngày lễ Một số món tiêu biểu như: Đậu phụ (Tậu pậu) được người dân tự làm; Bánh Tro (Dua pêu - bánh gói); Bánh dầy (Dua chông - bánh giã) Đồ uống như rượu nếp (rượu ngọt) được làm từ gạo nếp; một loại trà đặc biệt gọi là Sơn Trà (Sên Trà) Gia vị có Tàu Sì - gọi theo tiếng Trung Quốc hay Tau chay (đậu giã) - tiếng Dao và không thể thiếu ớt trong các đồ ăn thường ngày của họ
Các món ăn phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân nhiều khi còn rất đơn giản và sơ sài, chủ yếu là hái được hoặc tìm thấy trên rừng, chưa biết tự chế biến nguyên liệu có sẵn đó thành nhiều món ăn hơn, nhất là không để ý đến chất lượng bữa ăn (ăn ngon, ăn tốt cho sức khỏe) và đảm bảo sự sạch sẽ trong món ăn,
đồ nấu ăn, bát đũa, bàn, vị trí ăn, vệ sinh môi trường
Thức uống được người Dao sử dụng trong các bữa ăn thường là rượu ngô hoặc rượu thóc Đặc biệt, mòng rượu nếp là một món ăn ưa thích với cả phụ nữ, người già, trẻ em người Dao sau mỗi ngày đi làm về Do khí hậu vùng cao thường lạnh giá, mòng rượu sẽ giúp sưởi ấm lòng người sau mỗi buổi làm mệt nhọc Với việc kinh doanh du lịch thì vốn văn hóa ẩm thực chưa được khai thác phục vụ du lịch, chưa có cơ sở ăn uống, nhà hàng nấu các món của dân tộc, chưa có đầu bếp là người dân tộc Dao Hơn nữa người dân trong làng là nhân tố chính tạo thu hút khách đến du lịch ở làng chưa ý thức được tầm quan trọng của văn hóa ẩm thực và kinh doanh thu lợi nhuận từ tài nguyên này Tuy vậy, văn hóa ẩm thực thể hiện tính đặc trưng dân tộc giúp du khách tham quan hiểu hơn về văn hoá bản địa
Trái lại, người Thái Mai Châu lại dùng gạo nếp là chính Từ gạo nếp, người Thái có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như xôi, bánh tét, bánh gio, khẩu hang và đặc biệt là cơm lam (khẩu lam) Cơm lam là món ăn được nhiều người ưa
Trang 37thích, được nấu bằng thứ gạo nếp ngon nhất, gạo được cho vào ống tre, tre gai, ống vừa phải, không già và cũng không non, đốt tren không dài quá và cũng không ngắn quá), sau đó đốt bằng lửa Đây là món ăn không thể thiếu được trong các ngày lễ, tết, đón khách quý
Bên cạnh nguồn lương thực chính là gạo, hệ thống các loại thực phẩm được dùng trong bữa ăn hàng ngày của người Thái bao gồm: các loại rau, cách chế biến chính là đồ bằng hày Măng - một loại rau rừng quan trọng của người Thái, đặc biệt là măng bương được ngâm chua, có thể sử dụng trong cả năm Cá và các loại thuỷ sản khác là nguồn thực phẩm quan trọng của người Thái Mai Châu, vì trước kia, trong thiên nhiên, nguồn thức ăn này khá dồi dào Các món thuỷ sản được chế biến thành nhiều món, đa dạng, phong phú nhưng gần gũi nhất với họ là món cá (pa) nướng Cá nướng có nhiều loại, được chế biến khác nhau như: pa pỉnh tộp, pa chí, pa óm, pa xổm, pa gỏi hoặc lên men cá tạo thành cá mắm (gọi là mẳm) Có hai loại mẳm: mẳm dí, làm từ cá nhỏ và mẳm pa, làm từ cá to Mẳm có thể để ăn hàng năm, dùng ăn sống hoặc chế biến các món ăn khác Trong các món ăn đó, pa xổm (cá chua) là món
ăn được người Thái Mai Châu khá ưa chuộng, thường được làm từ cá to, cách thức làm giống mẳm cá nhưng không cho nhiều ớt mà cho nhiều thính, một ít rượu để gây men cá Cá chua dùng được lâu ngày, có thể ăn sống hoặc qua chế biến
Các món ăn từ thịt cũng được chế biến tương đối giống các món từ cá Ngoài thịt nướng, hong khói, còn chế biến thành lạp xúc, nậm pịa, nhựa mịn, năng xốm Nậm pịa (nước hỗn hợp phèo) là món ăn độc đáo, chế biến từ phần ruột non tiếp giáp ruột già các động vật nhai lại (trâu, bò, dê, hoẵng, nhím ) Nậm pịa là món ăn không thể thiếu được trong các ngày lễ hội lớn, đón khách quý Nhựa mịn (thịt mủn): thịt để một thời gian cho thớ thịt có mùi nặng, sau đó cắt nhỏ cho vào ống, bỏ gia vị, đốt cho thịt chín, dùng đũa chọc thành món canh nhuyễn, dùng ăn với xôi Người Thái ưa sử dụng nhiều hoa quả thay cho gia vị hàng ngày : me, muỗm, sung, chuối xanh Họ ưa thích vị chua, cay, ngọt, đăng Gia vị chua được sử dụng phổ biến hàng ngày, đặc biệt được dùng trong chế biến một số thực phẩm để lâu ngày như dưa, măng, cá, thịt Đặc biệt người Thái ưa sử dụng bột gạo để nấu canh tạo độ sền sệt Bột gạo vừa tạo độ ngọt và làm thức ăn sánh, tạo món ăn thích hợp với sử dụng đồ nếp
Trang 38Người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình cũng giống như các dân tộc khác ít dùng
đồ uống kết hợp với bữa ăn hàng ngày, đồ uống thường chỉ dùng vào các ngày lễ tết
và tiếp khách Rượu có hai loại: rượu cần và rưọu cất Rượu cần (lẩu xá) là loại rượu đặc biệt, chỉ làm bằng gạo, ngô và men lá rừng, được lên men kín trong các vại, chôn kín ít nhất 30 ngày Rượu cần thường được uống vào các ngày lễ, tết và đón khách quý, mọi người đều uống như nhau và uống bằng cần trúc Rượu cất của người Thái chủ yếu được làm từ gạo, sắn và men lá rừng
Như vậy, so sánh về món ăn và kỹ thuật chế biến món ăn, người Thái thường tỉ
mỉ và có kỹ thuật chế biến phức tạp hơn người Dao Cách trình bày, trang trí bữa ăn được người Thái quan tâm hơn, việc đảm bảo vệ sinh trong quá trình chế biến món ăn cũng được người Thái quan tâm hơn Văn hoá ẩm thực luôn là một nguồn tài nguyên nhân văn hấp dẫn đối với hoạt động du lịch, đặc biệt với loại hình du lịch cộng đồng
- Văn hoá hành vi và sự đa dạng trong lối sống của tộc người
Xã hội người Dao, Thái đều được đặc trưng bởi lối sống đề cao vai trò người đàn ông trong gia đình và xã hội Người đàn ông là chủ gia đình, họ mặc nhiên được cho là có quyền quyết định các công việc hệ trọng của gia đình và ngoài xã hội Theo truyền thống, gia đình người Dao, Thái thường có nhiều thế hệ với nhiều thành viên, sống hoà thuận với nhau trong cùng một mái nhà Đặc biệt, trong gia đình người Thái,
bố mẹ coi con dâu, con rể giống như con ruột trong nhà Nhà không có con trai, bố mẹ cưới con rể về nhà Chàng rể có bổn phậm chăm sóc bố mẹ vợ như bố mẹ mình Con dâu khi về nhà mình vẫn có quyền đi lại gia đình mình và ở lại đó một thời gian dài Họ cũng không phân biệt con đẻ, con nuôi và con vợ lẽ, con trưởng và con thứ Khi chia của cải, người con trưởng thường được hơn Con gái tuy không được chia phần nhưng luôn được bố mẹ gây vốn khi cưới chàng rể về nhà Hôn nhân của con cái thường được cha mẹ tôn trọng Trong xã hội người Thái, trai gái có quyền đi lại thăm hỏi nhau, sau
đó mới báo cho bố mẹ cũng được Trong quan hệ vợ chồng, người Thái có tục ở rể từ một đến ba năm Quy định này phần nào đã hạn chế quyền lực của chế độ phụ quyền, tạo cho cuộc sống vợ chồng bình đẳng hơn và có trách nhiệm hơn Ngược lại, với xã hội người Dao, hôn nhân được áp đặt từ bố mẹ Bố mẹ chủ động tìm vợ cho con trai, sau đó đến nhờ thầy xem số, nếu hợp số thì làm lễ dạm ngõ, nếu không hợp thì thôi Trong gia đình sự lấn át của người chồng có thể hiện nhưng không mạnh, khi làm gì,
Trang 39vợ - chồng thường bàn bạc với nhau Khách đến nhà, chồng tiếp chuyện, vợ lo phục vụ Người chồng thường lo việc nặng hơn như cày bừa, chài lưới, kiếm gỗ, dựng nhà Người vợ lo nội trợ, chăm sóc con, nương rẫy, cấy hái, dệt vải, chăn nuôi
Trong quan hệ gia đình và khách, cả người Dao, người Thái đều rất mến khách, khách đến chơi thăm hoặc nhờ vả đều được đón tiếp trọng thị Người Thái có câu: Khi
có người đến nhà mình, tức là họ có việc cần mình giúp, phải tiếp đón nhiệt tình Khách đến nhà, bà chủ nhà thường vận quần áo đẹp ra đón khách, trải chiếu đẹp cho khách và chồng ngồi trò chuyện Khi có khách quý đến nhà, gia đình bắt gà chíp làm thịt xáo măng đãi khách, khách đại quý, thịt gà đang ấp đãi khách Họ quan niệm, gà con đang lớn, gà mái đang ấp mà thịt đãi khách thì có nghĩa là không còn tiếc khách điều gì nữa Trước lúc ăn cơm, bao giờ cũng có chậu nước sạch, khăn mặt sạch để dành cho khách sử dụng
Trong quan hệ làng bản, ngay từ thời xa xưa, người Dao, người Thái phải chống chọi với thú dữ, giặc cướp, chính vì vậy mối quan hệ làng bản là mối quan hệ cộng đồng được hình thành và phát triển từ rất xa xưa Bản làng người Thái dựng nhà nọ nằm gần nhà kia, nhà nọ gọi nhà kia nghe rõ, giữa các nhà không có tường bao, cổng chắn Trên thực tế, rất ít khi xảy ra xung đột lớn trong bản, sự xung đột này thường chỉ xảy ra giữa các bản với nhau Trong một bản tính cộng đồng rất cao, có việc vui, buồn
cả bản đều giúp đỡ hoặc chia sẻ, kể cả không cùng dòng họ Điều này thể hiện rõ nhất khi một gia đình làm nhà, rất nhiều người trong bản đến giúp, mặc dù làm nhà kéo dài hàng mấy tháng liền Trong việc tang lễ, ma chay lại càng thể hiện rõ tính cộng đồng Khi trong bản có người già mất, không ai bảo ai, cả bản đều kéo đến, mỗi người một tay, cắt cử lo toan công việc Đặc biệt dù không phải là họ hàng nhưng người trong bản đến lễ tang đều tự giác quấn khăn tang lên đầu Trái lại, do điều kiện địa hình không bằng phẳng, bị phân tán bởi các dãy núi, nên nhà ở của người Dao Sả Séng thường phân tán, các gia đình nằm rải rác, cách xa nhau Mật độ dân cư Sả Séng đông nhất là ở đội IV, khu vực trung tâm xã, do nơi đây, địa hình bằng phẳng, thuận tiện trong việc dựng nhà cửa Mặc dù, nhà ở bị phân tán do địa hình phức tạp, song tính cộng đồng trong xã hội truyền thống của người Dao đỏ không vì thế bị hạn chế Mọi công việc vui, buồn của bản luôn có sự tham gia giúp đỡ của các gia đình trong bản
Trang 40Người Dao, người Thái lên án gay gắt những người lười biếng, trộm cắp Đặc biệt đối với việc trộm cắp có hình phạt rất nghiêm khắc Họ sống với nhau bằng lòng trung thực, căm ghét sự dối trá Trong quan hệ trai gái, người Thái ở bản Lác khá mở trong chuyện yêu đương nhưng họ không chấp nhận việc loạn luân hay ngoại tình Đây
là điều xã hội lên án gay gắt nhất và bị xử phạt nặng nhất Trong xã hội cổ truyền của người Dao, người Thái, mẫu người lý tưởng không phải là người trọng đạo Khổng - không phải là người lắm tiền, nhiều của, mà là người biết lo việc chung của bản, mường, sẵn sàng xả thân vì người khác
- Sản phẩm thủ công và bản sắc văn hóa tộc người
Nghề thủ công truyền thống có sức hấp dẫn lớn đối với du khách, vì chúng không chỉ thể hiện tài khéo léo của dân mà còn thể hiện tư duy sáng tạo, những tình cảm của người làm ra sản phẩm thủ công
Người Dao đỏ ở Sả Séng có các nghề thủ công truyền thống như: nghề mộc, nghề làm giấy, rèn đúc và chạm khắc bạc, nghề thêu trang phục Người Dao nói chung và người Dao đỏ nói riêng được biết đến chủ yếu qua nghề thêu truyền thống Đây là công việc thường xuyên của người phụ nữ Dao đỏ Các em gái từ khi 5 - 6 tuổi đã biết thêu thổ cẩm do mẹ, bà mình dạy Hiện nay, nghề thêu thổ cẩm vẫn được người Dao duy trì thường xuyên và phát triển dưới nhiều dạng thức khác nhau, trở thành một trong những nghề phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch
Người Thái Mai Châu còn duy trì nhiều nghề thủ công truyền thống như: nghề dệt thổ cẩm, nghề chế tạo công cụ lao động trong đó, nghề dệt thổ cẩm là một trong những nghề tạo nên sự hấp dẫn của bản Lác xưa Song ngày nay, khi về với bản Lác, hình ảnh những chiếc khung cửi đã mất đi nhiều, nó trở thành vật để trưng bày phục
vụ khách quan tham, lác đác đây đó ta mới hiếm hoi nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ Thái ngồi dệt vải bên khung cửi
Qua những sản phẩm thủ công của người dân, chúng ta có thể hiểu được văn hóa, tài hoa và sự sáng tạo của cả một dân tộc, tính cộng đồng trong dân cư, tình cảm của người dân gắn từng đường nét trong tác phẩm, từ đó hình thành thái độ trân trọng tinh hoa của dân tộc đó, góp phần truyền bá nhân rộng nét đặc sắc của du lịch Sả
Séng theo nguyên tắc "tâm lý lây lan" trong du lịch