PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Phát triển nguồn lực nữ đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý trên thế giới. Tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò quan trọng của phụ nữ trong quá trình sản xuất vật chất, tinh thần cũng như tái sản xuất con người. Tuy nhiên, việc đánh giá đúng vai trò, vị thế và tiềm năng của phụ nữ ở mỗi quốc gia ở từng giai đoạn lịch sử lại có những sự khác biệt. Hàng ngàn năm nay, ở nhiều nơi trên thế giới, so với nam giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi về vai trò , vị thế cả trong gia đình và ngoài xã hội. Những năm vừa qua trên quy mô toàn cầu, loài người đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ về phát triển phụ nữ. Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng được thu hút vào các hoạt động của xã hội, trong phạm vi gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử, tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp lực công việc gia đình, những định kiến có tính bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ở những mức độ khác nhau trong các vùng miền của quốc gia. Đặc biệt đối với các vùng chưa phát triển thì khoảng cách phát triển giữa phụ nữ và nam giới đang còn khá lớn. Chính vấn đề này đã làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững, hạn chế khả năng đóng góp của phụ nữ vào quá trình tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nói chung. Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước và ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mì nh trong phát triển kinh tế xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển nguồn lực nữ, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm đảm bảo phát triển nguồn nhân lực nữ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Thực tế cho thấy, phụ nữ ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống. Ngoài xã hội, phụ nữ từng bước khẳng định được vị thế của mình. Tỷ lệ Đại biểu Quốc hội là nữ khoá XI chiếm tới 27,3% và có rất nhiều phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành; tỷ lệ nữ trí thức tăng đều qua các năm; tỷ lệ trẻ em gái bỏ học giảm xuống qua các năm. Bình đẳng giới trong gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục được cải thiện đáng kể. Những tư tưởng định kiến về phụ nữ đang từng bước được khắc phục. Tuy nhiên bất bình đẳng trong gia đình ở mỗi vùng miền, mỗi nhóm xã hội diễn ra khá khác nhau. Đặc biệt đối với những vùng điều kiện kinh tế khó khăn như vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; các dịch vụ xã hội chưa phát triển thì địa vị của người phụ nữ chưa được cải thiện thậm chí ở một số nơi có nguy cơ suy giảm. Miền núi phía Bắc là vùng còn nghèo so với cả nước, đây là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, với 50,79% dân số là phụ nữ [45]. Lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn vùng. Tuy nhiên, sự đóng góp của nhân lực nữ lại chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế. Một trong những nguyên nhân hạn chế sự tăng trưởng kinh tế khu vực này là chưa khai thác hết tiềm năng nguồn nhân lực nữ, chưa thực hiện công bằng cả về giới lẫn thu nhập trong xã hội. Trong bối cảnh đó, việc đánh gía thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc chỉ ra những nguyên nhân tác động, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này, tạo điều kiện và cơ hội cho họ góp phần tích cực vào sự phát triển chung của vùng và đất nước là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “ Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam” được lựa chọn làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển. 2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước Thực tiễn cho thấy, vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực nữ luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế học cũng như các nhà quản lý và hoạch định chính sách. Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu sắc về phát triển nguồn nhân lực nữ trong tăng trưởng kinh tế nói chung, gắn với công bằng xã hội nói riêng, đặc biệt ở khu vực miền núi phía Bắc còn thiếu vắng. 1. “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của PGS.TS Trần Thọ Đạt chủ biên (2005), đề cập tới các mô hình khác nhau tác động tới tăng trưởng kinh tế các quốc gia và quyết định phúc lợi kinh tế người dân, từ mô hình Cổ điển với việc đề cao vai trò của vốn tới mô hình tăng trưởng nội sinh mà người đi đầu là Arrow với khái niệm “Learning by doing” – Học thông qua làm hay kinh nghiệm trong sản xuất , Romer với mô hình R&D… đã đưa ra kết luận rằng chính hiệu ứng lan tỏa công nghệ sẽ đảm bảo một quá trình tăng trưởng tự thân trong nền kinh tế. Kế tiếp Lucas, Mankiw, Romer và Weil …đã đưa vốn con người trở thành một đầu vào trong sản xuất, một yếu tố quan trọng quyết định tăng trưởng kinh tế. Nó cũng cho rằng chính phủ có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bởi vì lợi tức xã hội từ việc chi tiêu vào giáo dục đào tạo và R&D có thể lớn hơn lợi tức tư nhân, nên chính phủ cần can thiệp để thúc đẩy hoạt động này. Tuy nhiên đề tài này quan tâm tới các nguồn lực, nguồn vốn con người nói chung chứ chưa đề cập đến vai trò nguồn nhân lực nữ đến tăng trưởng kinh tế, nhất là nguồn nhân lực nữ Việt Nam nói chung và Miền núi phía Bắc nói riêng. 2. “Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” của tác giả Cù Chí Lợi chủ biên (2009). Trình bày các nguồn lực tăng trưởng (bao
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ
CỦA NGUỒN NHÂN LỰC NỮ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH
1.1/ Nguồn nhân lực nữ và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
1.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 17
1.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và nội dung phát triển nguồn nhân
1.1.2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ 23
1.1.2.2 Nội dung cơ bản phát triển nguồn nhân lực nữ 26
1.1.3 Đặc điểm nguồn nhân lực nữ miền núi và những nhân tố ảnh hưởng
1.1.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi 32
1.2./ Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ đối với tăng
1.2.1 Tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng
1.2.1.1 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 38
1.2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
1.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố nâng cao năng suất lao động và tăng thu
1.2.1.4 Phát triển nguồn nhân lực tạo cơ hội công bằng 42
1.2.1.5 Phát triển nguồn nhân lực góp phần tạo nên sự bền vững xã hội 42
1.2.2 Tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nữ đối với tăng
1.2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực nữ là yếu tố cơ bản đảm bảo CBXH và TTKT bền
Trang 21.2.2.2 Phát triển nhân lực nữ sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và công bằng
1.2.2.3 Không phát triển nguồn nhân lực nữ gây thiệt hại phúc lợi và làm chậm tiến
1.2.2.4 Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam 55
1.3 Kinh nghiệm của môt số quốc gia trên thế giới về vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề phát triển
nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 59
1.3.2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nữ gắn với
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cho Việt Nam 66
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NỮ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 71
2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc 71
2.1.1 Thuận lợi và khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực nữ ở MNPB 71
2.1.2.1 Qui mô và sự phân bố nguồn nhân lực nữ ở MNPB 80
2.2 Ảnh hưởng phát triển nguồn nhân lực nữ đến tăng trưởng kinh tế và
2.2.1 Ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ ở MNPB tới tăng
2.2.1.1 Phát triển nguồn nhân lực nữ trong giáo dục ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế 97
2.2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực nữ trong giáo dục ảnh hưởng tích cực tới nguồn
2.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực nữ trong giáo dục ảnh hưởng gián tiếp tới tăng
2.2.1.4 Phát triển nguồn nhân lực nữ trong giáo dục ảnh hưởng tới vị thế của họ
Trang 32.2.2.2 Phát triển nguồn nhân lực nữ với cơ hội tiếp cận việc làm 107
2.2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực nữ trong giáo dục làm tăng quyền quyết định
2.2.2.4 Nguồn nhân lực nữ trong việc tạo thu nhập 115
2.2.2.5 Nguồn nhân lực nữ trong việc tham gia vào các hoạt động cộng đồng, tham
2.2.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ ở MNPB đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội thời gian qua 117
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ
ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM ĐẾN
3.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với
3.1.1 Cơ hội đối với phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 141
3.1.2 Thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 143
3.2 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 146
3.3 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 151
3.4 Giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía bắc Việt Nam 154
3.4.1 Những giải pháp vĩ mô từ phía Chính phủ 155
3.4.1.1.Đổi mới nhận thức lãnh đạo về phát triển và sử dụng nhân lực nữ 155
3.4.1.2 Tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm 156
3.4.1.3 Phát triển trí lực nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 157
3.4.1.4 Nâng cao thể lực nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc 158
3.4.1.5 Phát triển các giá trị văn hóa dân tộc của phụ nữ miền núi phía Bắc 160
3.4.1.6 Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhân lực nữ 160
3.4.2 Những giải pháp từ phía địa phương để phát triển nguồn nhân lực
nữ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội 161
Trang 43.4.2.1 Cùng Chính phủ rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp
3.4.2.2 Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nguồn nhân lực nữ, nâng cao năng lực,
3.4.2.3 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật về y tế; và công tác dinh
dưỡng và chăm sóc sức khoẻ sinh sản – kế hoạch hoá gia đình 163
3.4.2.4 Tăng cường giáo dục - đào tạo và nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ ở
3.4.2.5 Hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập 168
3.4.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phát triển
3.4.2.7 Nâng cao vị thế xã hội trong việc ra quyết định, tạo điều kiện và cơ hội cho
3.4.2.8 Hỗ trợ phụ nữ xây dựng, tổ chức cuộc sống gia đình, đẩy mạnh và phát huy
3.4.2.9 Đánh giá đủ, đúng, trung thực, khách quan, thực chất những đóng góp về
tinh thần và vật chất của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội 173
3.4.3 Những giải pháp từ phía các tổ chức Hội, đoàn thể 173
3.4.4 Các giải pháp đối với bản thân người phụ nữ miền núi phía Bắc 177
3.4.4.1 Phụ nữ miền núi phía Bắc cần có sự nỗ lực, phấn đấu vươn lên 177
3.4.4.2 Phụ nữ miền núi phía Bắc phải có bản lĩnh và khả năng tổ chức 180
3.4.4.3 Nguồn nhân lực nữ cần nâng cao tính tích cực xã hội của mình 180
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Viết tắt tiếng Việt
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nam
Trang 62 Viết tắt tiếng Anh
Từ viết tắt Nguyên văn tiếng Anh Dịch sang tiếng Việt
GDI Gender relation
Development Index
Chỉ số đánh giá sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa phụ nữ và nam giới GDP Genneral Domestics Product Giá trị tổng sản phẩm xã hội
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
ILO International Labour
Organization
Tổ chức lao động quốc tế
MDG Millenium Development
Goals
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
UNDP United Nations
Development Programme
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Văn hóa-Khoa học-Giáo dục Liên hợp quốc
VHLSS Vietnam Household Living
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo ở MNPB trong tương quan với cả nước từ 1998-
2011
75
Bảng 2.2: Chi tiêu cho đời sống BQĐN/tháng ở Miền núi phía Bắc 75
Bảng 2.3: Một số ỉnh có ỷ ệ kết hôn dưới 20 uổi và dưới 18 uổi c o
nhấtcả nước năm 2 09
79
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn nhân lực nữ theo độ tuổi ở MNPB năm 2010 84
Bảng 2.6: Tổng số con đã sinh, số con hiện còn sống, số con đã chết của
phụ nữ từ 15-49 tuổi
81
Bảng 2.7: Tỷ số nữ/nam đang học tiểu học, THCS, THPT và tỷ số nữ/nam
15-24 tuổi biết đọc biết viết MNPB so với cả nước, 2009
90
Bảng 2.9: Tỷ lệ dân số nữ MNPB từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết so
sánh với nam và các vùng kinh tế - xã hội, 2009
Bảng 2.13: Mối quan hệ giữa giáo dục với tăng trưởng kinh tế ở MNPB 97
Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu phát triển nguồn nhân lực nữ MNPB năm 2008 98
Bảng 2.15: Tỷ lệ tham gia tập huấn kỹ thuật của nhân lực nữ MNPB 103
Bảng 2.16: Thu nhập của phụ nữ theo trình độ văn hóa ở hai huyện điều tra, 107
Trang 8tháng 5/2011
Bảng 2.18: Tỷ lệ tham gia các công việc trong gia đình ở hai huyện điều tra,
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ kết hôn của nữ từ 15-19 tuổi, ở MNPB so với các vùng
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới năm tuổi của MNPB 1999-2009 88
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ người lớn nữ biết chữ so với nam ở MNPB 1999 – 2008 89
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ người lớn nữ biết chữ ở MNPB so với cả nước 1999-2008 90 Biểu đồ 2.6: Thay đổi chỉ số GDI ở các tỉnh thuộc vùng MNPB từ 1999- 2008 99
Biểu đồ 2.7: GDI ở các tỉnh MNPB so với các vùng khác 1999 100
Biểu đồ 2.8: Mối quan hệ giữa học vấn của mẹ và tỷ lệ chết của con năm
2009 ở MNPB
101
Biểu đồ 2.9: Mối quan hệ giữa học vấn của NNL nữ MNPB với việc có tên
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011
104
Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ đứng tên trên giấy sở hữu nhà, đất năm 2011 ở hai huyện
điều tra
105
Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ tham gia dạy dỗ con cái qua điều tra hai huyện năm 2011 114 Hình vẽ 1.1: Phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi : Đặc điểm, mối quan hệ
và các nhân tố tác động
58
Hình vẽ 2.1: Mốil ên hệ giữa uổi kết h n ru g bình ần đầu của nữ với tỷ ệ
dân số ừ 1 uổitrở ên có rìn độ ừ c o đẳn rở ên
Phụ lụcc
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phát triển nguồn lực nữ đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý trên thế giới Tiến trình phát triển của lịch
sử nhân loại đã chứng minh vai trò quan trọng của phụ nữ trong quá trình sản xuất vật chất, tinh thần cũng như tái sản xuất con người Tuy nhiên, việc đánh giá đúng vai trò, vị thế và tiềm năng của phụ nữ ở mỗi quốc gia ở từng giai đoạn lịch sử lại có những sự khác biệt Hàng ngàn năm nay, ở nhiều nơi trên thế giới, so với nam giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi về vai trò, vị thế cả trong gia đình và ngoài xã hội
Những năm vừa qua trên quy mô toàn cầu, loài người đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ về phát triển phụ nữ Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng được thu hút vào các hoạt động của xã hội, trong phạm vi gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử, tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp lực công việc gia đình, những định kiến có tính bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ở những mức độ khác nhau trong các vùng miền của quốc gia Đặc biệt đối với các vùng chưa phát triển thì khoảng cách phát triển giữa phụ nữ và nam giới đang còn khá lớn Chính vấn đề này đã làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững, hạn chế khả năng đóng góp của phụ nữ vào quá trình tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nói chung
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước và ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong phát triển kinh tế xã hội Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển nguồn lực nữ, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách nhằm đảm bảo phát triển nguồn nhân lực nữ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
Trang 12bằng xã hội Thực tế cho thấy, phụ nữ ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống Ngoài xã hội, phụ nữ từng bước khẳng định được vị thế của mình Tỷ lệ Đại biểu Quốc hội là nữ khoá XI chiếm tới 27,3%
và có rất nhiều phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành; tỷ
lệ nữ trí thức tăng đều qua các năm; tỷ lệ trẻ em gái bỏ học giảm xuống qua các năm Bình đẳng giới trong gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục được cải thiện đáng kể Những tư tưởng định kiến về phụ nữ đang từng bước được khắc phục Tuy nhiên bất bình đẳng trong gia đình ở mỗi vùng miền, mỗi nhóm xã hội diễn ra khá khác nhau Đặc biệt đối với những vùng điều kiện kinh tế khó khăn như vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa do điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; các dịch vụ xã hội chưa phát triển thì địa vị của người phụ nữ chưa được cải thiện thậm chí ở một số nơi có nguy cơ suy giảm
Miền núi phía Bắc là vùng còn nghèo so với cả nước, đây là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, với 50,79% dân số là phụ nữ [45] Lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn vùng Tuy nhiên, sự đóng góp của nhân lực nữ lại chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế Một trong những nguyên nhân hạn chế sự tăng trưởng kinh tế khu vực này là chưa khai thác hết tiềm năng nguồn nhân lực nữ, chưa thực hiện công bằng cả về giới lẫn thu nhập trong xã hội Trong bối cảnh đó, việc đánh gía thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi phía Bắc chỉ ra những nguyên nhân tác động, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực này, tạo điều kiện
và cơ hội cho họ góp phần tích cực vào sự phát triển chung của vùng và đất nước là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “ Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía
Trang 13Bắc Việt Nam” được lựa chọn làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế
phát triển
2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Thực tiễn cho thấy, vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực nữ luôn thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế học cũng như các nhà quản lý và hoạch định chính sách Tuy nhiên, những nghiên cứu sâu sắc về phát triển nguồn nhân lực nữ trong tăng trưởng kinh tế nói chung, gắn với công bằng xã hội nói riêng, đặc biệt ở khu vực miền núi phía Bắc còn thiếu vắng
1 “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của PGS.TS Trần Thọ Đạt chủ
biên (2005), đề cập tới các mô hình khác nhau tác động tới tăng trưởng kinh
tế các quốc gia và quyết định phúc lợi kinh tế người dân, từ mô hình Cổ điển với việc đề cao vai trò của vốn tới mô hình tăng trưởng nội sinh mà người đi đầu là Arrow với khái niệm “Learning by doing” – Học thông qua làm hay kinh nghiệm trong sản xuất , Romer với mô hình R&D… đã đưa ra kết luận rằng chính hiệu ứng lan tỏa công nghệ sẽ đảm bảo một quá trình tăng trưởng
tự thân trong nền kinh tế Kế tiếp Lucas, Mankiw, Romer và Weil …đã đưa vốn con người trở thành một đầu vào trong sản xuất, một yếu tố quan trọng quyết định tăng trưởng kinh tế Nó cũng cho rằng chính phủ có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bởi vì lợi tức xã hội từ việc chi tiêu vào giáo dục đào tạo và R&D có thể lớn hơn lợi tức tư nhân, nên chính phủ cần can thiệp
để thúc đẩy hoạt động này Tuy nhiên đề tài này quan tâm tới các nguồn lực, nguồn vốn con người nói chung chứ chưa đề cập đến vai trò nguồn nhân lực
nữ đến tăng trưởng kinh tế, nhất là nguồn nhân lực nữ Việt Nam nói chung và Miền núi phía Bắc nói riêng
2 “Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” của tác
giả Cù Chí Lợi chủ biên (2009) Trình bày các nguồn lực tăng trưởng (bao
Trang 14gồm các nguồn vốn đầu tư, nhân lực và các nguồn lực khác); Thực trạng tăng trưởng kinh tế; Đánh giá và luận giải tăng trưởng ở Việt Nam (bao gồm các đánh giá chung và trình bày một số nguyên nhân về tình trạng hiệu quả thấp của nền kinh tế; Tăng trưởng kinh tế và vấn đề chất lượng sống (việc làm, thu nhập, đói nghèo, giáo dục, y tế, chỉ số phát triển con người và một số vấn đề cần được cải thiện) Nghiên cứu cũng trình bày các nhân tố tác động tới tăng trưởng ở Việt Nam, dự báo tăng trưởng trong thời gian tới…Theo các tác giả, Việt Nam trong những năm qua đã không tận dụng được lợi thế của thời đại trong việc đẩy cao năng suất thông qua tác động vào nguồn vốn con người,
mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu là tăng trưởng qua số lượng của các yếu tố đầu vào Nếu chúng ta không có sự điều chỉnh về mô hình tăng và chất lượng tăng trưởng thì nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn có khả năng đối diện với nguy cơ giảm tăng trưởng Tuy nhiên đề tài còn mờ nhạt vai trò nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
3.‘Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành phố Việt Nam”, do PGS.TS Trần Thọ Đạt- Th.S Đỗ Tuyết Nhung
nghiên cứu (2008) Tác phẩm đã phân tích các tác động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam Mặc dù vốn con người bao gồm cả giáo dục sức khỏe cũng như nhiều khía cạnh khác của vốn xã hội nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào giáo dục coi nó như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người Tác phẩm cũng cho thấy vốn con người là nhân tố quan trọng khi giải thích sự tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng như giải thích khoảng cách chênh lệch giữa các vùng kinh tế ở Việt Nam Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong đó nhấn mạnh sự gia tăng đầu tư vào giáo dục đồng thời chú ý
Trang 15tới tác động khác nhau của vốn con người ở những vùng kinh tế khác nhau Trong tài liệu này ảnh hưởng của nguồn nhân lực nữ chưa được đề cập nhiều, đặc biệt chưa đề cập đến một vùng như Miền núi phía Bắc
4 “Phát triển con người Việt Nam 1999- 2004 những thay đổi và xu hướng chủ yếu” do GS TS Đỗ Hoài Nam, TS Võ Trí Thành chủ biên (2006)
là môt báo cáo cấp nhà nước với sự tham gia của nhiều học giả Đề tài đề cập tới việc xây dựng các chỉ số HDI, PDI, GDI ở cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh, đề tài cũng đề cập tới những vấn đề và thách thức đối với phát triển con người ở Việt Nam Tuy nhiên phát triển nguồn nhân lực nữ đặc biệt là ở Miền núi phía Bắc chưa được đề cập nhiều trong tài liệu này
5 “Bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của TS Nguyễn
Thị Tuệ Anh (Chủ biên, 2004), đã đi sâu tìm hiểu và phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam góp phần trả lời câu hỏi bất bình đẳng có lợi hay có hại cho tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên trong nghiên cứu này, vai trò nguồn nhân lực nữ với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nói chung chưa được đề cập đến
6 "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Việt nam thời kỳ “đổi mới””, của tác giả Lê Văn Sang, Kim Ngọc
(Đồng chủ biên, 1999) đã làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Các tác giả cho rằng lý thuyết mới về tăng trưởng kinh tế chú ý nhiều đến phát triển nhân lực, tập trung nâng cao trình độ học vấn kỹ năng nghề nghiệp để có nhiều cơ hội việc làm mới và thu nhập cao hơn Khi giải quyết một loạt các khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội sẽ tạo được tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao hơn và ngược lại, khi đó tăng trưởng mới thực sự giải quyết được những mục tiêu công bằng xã hội Cụ thể là tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh và phân hóa giàu nghèo giảm bớt Nhật Bản là ví dụ điển hình, những nghiên cứu về kỷ nguyên tăng trưởng hay “giai đoạn thần
Trang 16kỳ” của Nhật Bản đã chứng minh điều đó Từ đó tác giả đưa ra hướng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên vai trò nguồn nhân lực nữ ở đề tài này chưa thực sự được nhấn mạnh trong tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, đề tài cũng chưa quan tâm tới một vùng cụ thể là Miền núi phía Bắc Việt Nam
7 “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS.VS Phạm Minh Hạc, (2001), đã làm rõ những khái
niệm về nguồn nhân lực và quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Trên cơ sở đánh giá tác động nguồn nhân lực nước ta trong quá trình CNH,HĐH tác giả
đã đưa ra giải pháp để phát triển nguồn nhân lực này thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH ở Việt Nam Tuy nhiên đề tài chưa đề cập đến phát triển nguồn nhân lực
nữ ở Việt Nam nói chung và Miền núi phía Bắc nói riêng
8 Nghiên cứu: "Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" do Trung
tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ tiến hành năm 1998 – 2000 đã chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ vợ chồng, cha
mẹ, con cái Những mối quan hệ này đã có sự thay đổi căn bản dưới sự tác động của biến đổi về kinh tế - xã hội Tuy nhiên nghiên cứu chỉ phân tích bình đẳng giới trong gia đình và khẳng định vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên so với trước đây
9 Luận án tiến sỹ Xã hội học của Hoàng Bá Thịnh (2001) về đề tài "Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hoá nông thôn" đã đề cập tới vai trò
của người phụ nữ nông thôn trong lịch sử và trong thời kỳ đổi mới, qua đó đề xuất một vài giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nông thôn phát huy được những tiềm năng để
họ có thể đảm nhận tốt vai trò trong quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn Trong đề tài này tác giả chưa đề cập đến phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm
Trang 17tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam nói chung và Miền núi phía Bắc nói riêng
10 “Những qui định về lao động và tiền lương ở Việt Nam trong chương trình giảm nghèo” (Brassard, 2004) Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của
những qui định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến việc giảm nghèo ở việt Nam thông qua việc sử dụng số liệu cấp xã về lương năm 1998 Nghiên cứu này cũng xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, và ảnh hưởng tiềm năng của các qui định về lương và lao động đến người nghèo Nghiên cứu này không đánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực nữ về thu nhập trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại Đặc biệt việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố phi kinh tế đến phát triển nguồn nhân lực nữ còn yếu Hơn nữa, các nghiên cứu chưa đưa
ra được đánh giá so sánh theo các vùng
11 “Bất bình đẳng giới trong thu nhập theo khu vực ở Việt Nam” Amy
Y.C.Liu (2004) nghiên cứu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam dựa trên phương pháp tiếp cận của Appleton (1999) và sử dụng số liệu VLSS năm 1992-1993 và 1997-1998 Nghiên cứu chỉ ra vai trò nhân lực nữ trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay Bên cạnh những tác động tích cực thì người phụ nữ cũng phải đối mặt với những áp lực công việc trong gia đình và xã hội, những bất bình đẳng có tính truyền thống đang tồn tại ở nhiều gia đình, nhiều vùng miền trên phạm vi cả nước
Trên cơ sở kế thừa một số kết quả các công trình nghiên cứu trên, vận dụng cơ sở lý luận và căn cứ điều kiện thực tiễn cho thấy luận án nghiên cứu
về phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc nhằm tăng trưởng kinh
tế và thực hiện công bằng xã hội là rất cần thiết Qua nghiên cứu này cũng có thể mở rộng phạm vi đến nhiều vùng khác trong cả nước
Trang 18Nội dung của các lĩnh vực nghiên cứu mà các tài liệu đề cập ở trên vẫn còn thiếu vắng những mảng nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nguồn lực nữ trong tăng trưởng kinh tế nói chung, gắn với công bằng xã hội nói riêng, đặc biệt ở khu vực miền núi phía Bắc Chẳng hạn, như về phân công lao động dựa trên số thời gian lao động trong gia đình của nguồn nhân lực nữ; ảnh hưởng của giáo dục nguồn nhân lực nữ với quá trình gia tăng thu nhập cho gia đình
và xã hội; sự tiếp cận và kiểm soát nguồn lực đất đai, tín dụng…
Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và
hệ thống về phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc, đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội vùng này Do đó luận án góp phần vận dụng những cơ sở lý luận để nghiên cứu giải quyết những vấn đề thực tiễn đối với phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
ở khu vực này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 19Đề tài luận án nhằm thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Hệ thống hóa và luận giải những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực nữ, phát triển nguồn nhân lực nữ Phân tích vai trò phát triển nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Bổ sung lý luận cho việc phân tích đánh giá tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nữ với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
- Mô tả và phân tích thực trạng vai trò nguồn nhân lực nữ với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở MNPB Việt Nam Đánh giá ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở MNPB từ năm 2000 – 2011
- Chỉ ra các yếu tố, điều kiện ảnh hưởng, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc Việt Nam
3.3 Câu hỏi nghiên cứu của luận án:
Trên cơ sở những nhiệm vụ của luận án, việc hoàn thành luận án sẽ trả lời các câu hỏi sau:
(1) Nội dung của phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc là gì?
(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng tới phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc?
(3) Tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc tới tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở vùng này?
(4) Phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc Việt Nam có lợi thế và bất lợi gì so với các vùng khác trong cả nước?
(5) Phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc Việt Nam đã đạt được những thành tựu gì, có hạn chế gì và nguyên nhân của chúng?
Trang 20(6) Giải pháp nào để phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc Việt Nam nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
i) Phát triển nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc là một đề tài rộng, đánh giá rất nhiều khía cạnh khác nhau khi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng phát triển thể lực và trí lực của nhân lực nữ thông qua giáo dục đào tạo và y tế đến tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội mà không đi sâu nghiên cứu tất cả các phương diện
ii) Đối tượng nghiên cứu của luận án là nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc Việt Nam Những người trực tiếp lao động trong ngành nông lâm nghiệp đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số Vì ở miền núi phía Bắc lao động trong nông lâm nghiệp chiếm 78% tổng số lực lượng lao động và nhóm người dân tộc thiểu số cũng chiếm 80% dân số cả vùng
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
i) Không gian: Đề tài chọn địa bàn nghiên cứu là 14 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc Gồm có: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình Luận án trực tiếp điều tra tại hai huyện miền núi tiêu biểu là huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) đại diện cho vùng cao và huyện Phú Lương (Thái Nguyên) đại diện cho vùng thấp
ii) Thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2011
iii) Nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội của Miền núi phía Bắc Việt Nam Riêng tác động của tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đối với phát triển nguồn nhân lực nữ, trong luận án chỉ đề cập đến mà không đi sâu phân tích
Trang 215 Giả thuyết nghiên cứu
i) Mặt bằng dân trí và trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, những
đặc trưng về văn hoá - xã hội đặc thù (vùng) cùng với các đặc điểm hộ gia đình và cá nhân là những nhân tố chính ảnh hưởng tới phát triển nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc nước ta
ii) Phát triển nguồn lực nữ ở miền núi phía Bắc nhìn chung có sự tiến
bộ đáng kể song vẫn ở mức thấp Lao động nữ còn bị hạn chế trong tiếp cận với đất đai, tín dụng, dịch vụ khuyến nông, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ- KHHGĐ, do đó cũng ảnh hưởng tới đóng góp của họ vào tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
iii) Trong các yếu tố góp phần phát triển nguồn lực nữ ở các tỉnh miền núi phía Bắc thì giáo dục đào tạo, y tế, phát triển hạ tầng sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng
6 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận án vận dụng các phương pháp: duy vật biện chứng, suy luận logic, điều tra xã hội học, khảo sát thực tế,
phương pháp diễn dịch, phương pháp qui nạp, phương pháp định lượng và
định tính, thống kê mô tả, điều tra tổng hợp… để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu
i) Phương pháp duy vật biện chứng: có tác dụng cung cấp thế giới quan khoa học, yêu cầu xem xét sự vật hiện tượng trên quan điểm toàn diện, phát triển, liên hệ phổ biến, lịch sử, cụ thể … nên có thể coi phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận khoa học cho các phương pháp cụ thể
mà tác giả ứng dụng trong nghiên cứu đề tài luận án Theo đó việc nghiên cứu nguồn nhân lực nữ MNPB được xem xét toàn diện cả về số và chất lượng trong cả giai đoạn từ 2000 đến 2011 Quá trình phát triển chất lượng nguồn
Trang 22nhân lực được xem xét trên cả ba mặt thể lực, trí lực, tâm lực thông qua kênh tác động chủ yếu là giáo dục đào tạo và y tế chăm sóc sức khỏe Luận án phân tích vai trò nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội của địa phương dựa trên cơ sở phủ định biện chứng Khi xem xét ảnh hưởng của nguồn lực này tới tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở MNPB luận
án cũng đã đặt trong điều kiện cụ thể của vùng và nghiên cứu nó trong các không gian, thời gian, điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau của MNPB
ii) Phương pháp diễn dịch trong suy luận: Luận án tiếp cận, nghiên cứu
từ những vấn đề khái quát đến những vấn đề cụ thể Trên cơ sở đó, Luận án nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nữ ở MNPB, phân tích những nguyên nhân chủ quan và khách quan của thực trạng trong điều kiện cụ thể của MNPB, có so sánh với các vùng khác trong cả nước
iii) Phương pháp qui nạp trong suy luận: Luận án tiếp cận nghiên cứu từ
vấn đề cụ thể đến vấn đề khái quát Theo đó, khi nghiên cứu nguồn nhân lực
nữ với tăng trưởng kinh tế, luận án sử dụng cách tiếp cận từ những vấn đề cụ thể thực tiễn về tình hình phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội ở MNPB để đưa ra những đánh giá khái quát thành những kết luận có tính qui luật và hệ thống
iv) Phương pháp định lượng và định tính: Luận án có sử dụng việc
lượng hóa các ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ tới tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở MNPB bằng các chỉ số từ đó đưa ra những nhận định và những kết luận có tính định tính cho các vấn đề liên quan
v) Phương pháp đồ thị và phương pháp bảng thống kê: Luận án sử dụng
hệ thống các đồ thị toán học và các bảng thống kê số liệu mô tả thực trạng nguồn nhân lực nữ và ảnh hưởng của nguồn nhân lực nữ tới tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội của MNPB theo thời gian từ 2000 – 2011, từ đó tổng
Trang 23hợp, đánh giá ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ tới tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
vi) Phương pháp logic: Dựa trên cơ sở lý luận về kinh nghiệm của các
nước được hệ thống hóa luận án phân tích thực trạng nguồn nhân lực nữ, ảnh hưởng của nguồn nhân lực nữ tới tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở MNPB từ đó rút ra những đánh giá cụ thể Luận án đưa ra những quan điểm
và đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở MNPB Việt Nam
vii) Phương pháp điều tra xã hội học: Miền núi phía Bắc gồm 14 tỉnh rất rộng lớn, do đó, đề tài không thể điều tra hết các tỉnh, huyện mà đề tài chỉ tập trung vào hai huyện trên địa bàn là Huyện Mù Cang Chải (Tỉnh Yên Bái) - huyện miền núi vùng cao và Huyện Phú Lương (Thái Nguyên) - huyện miền núi vùng thấp; Vì đây là hai huyện đại diện cho bức tranh phát triển nguồn nhân lực nữ ở miền núi phía Bắc : một huyện nguồn nhân lực nữ còn kém phát triển cả về thể lực và trí lực tỷ lệ nghèo đói cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, bất bình đẳng trong xã hội rõ nét, một huyện có sự phát triển nhân lực nữ khá hơn, thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tỷ lệ nghèo đói thấp, bất bình đẳng trong xã hội được cải thiện
Huyện Mù Cang Chải (Tỉnh Yên Bái) - huyện miền núi vùng cao Đây là huyện có 90% dân số là người Mông, tỷ lệ đói nghèo trên 60%, tỷ lệ mù chữ khoảng 20% và tỷ lệ trẻ bỏ học 1,95% cao nhất miền núi phía Bắc
Huyện Phú Lương (Thái Nguyên) là một huyện miền núi vùng thấp có 9 dân tộc anh em chung sống; trong đó người Tày chiếm 21,1%, người Nùng chiếm 4,5%, người Sán Chay chiếm 8,5%, người Dao 4,4%, người Sán Dìu 3,29% Ngoài ra còn có các dân tộc khác như Kinh, Thái, Hoa, H, Mông Đây là huyện có nhiều con em được đào tạo tại các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học Ở đây kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên sản
Trang 24xuất nông, lâm nghiệp như trồng chè và nghề mây tre đan, mành cọ, sản xuất gạch ngói, nuôi cá giống
Tại mỗi địa bàn nghiên cứu cụ thể, tác giả đã chọn một số mẫu nhất định đại diện để điều tra phục vụ cho nghiên cứu so sánh Việc lựa chọn hai huyện nhìn chung không đại diện cho cả vùng, nhưng có thể tham khảo
viii) Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập và phân tích các tài liệu bao gồm: Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê hàng năm của 14 tỉnh miền núi phía Bắc Niên giám thống kê Quốc gia, tỉnh, huyện ở địa bàn nghiên cứu; Các báo cáo hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Báo cáo hàng năm của tỉnh, huyện năm 2000-2011 về kinh tế, xã hội.…
Số liệu thứ cấp bao gồm những thông tin như: dân số; dân số trong độ tuổi lao động; lao động trong các ngành kinh tế; số lượng lao động nữ ở các địa phương, trình độ lao động nữ… được lấy từ số liệu nghiên cứu điều tra mức sống dân cư qui mô quốc gia VLSS kết hợp số liệu thống kê và các nguồn khác được sử dụng trong gian phù hợp với thời điểm nghiên cứu đề tài
Số liệu sơ cấp để phục vụ đề tài thực hiện trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011, được thu thập thông qua các mẫu điều tra thực tế bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp
7 Những đóng góp mới của luận án
Là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ ở Miền núi phía Bắc, luận án có những đóng góp sau:
Một là, hệ thống hóa và phân tích các vấn đề lý luận về nguồn nhân lực
và phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nữ và phát triển nguồn nhân lực
nữ, nội dung phát triển nguồn nhân lực nữ Luận án đã làm rõ hơn về đặc
Trang 25điểm nguồn nhân lực nữ miền núi với nguồn nhân lực nữ nói chung Luận án
đã làm rõ những nhân tố cơ bản tác động đến phát triển nguồn nhân lực nữ Quá trình phát triển nguồn nhân lực nữ chịu tác động 6 nhóm nhân tố trong đó nhân tố về giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng
Hai là, luận án đã đánh giá tầm quan trọng vai trò nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Đây là cơ sở để đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh tế ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
Ba là, khi đi tìm hiểu kinh nghiệm của các nước khác luận án giới thiệu cách làm của bạn, để từ đó nhận xét, kết luận và rút ra bài học cho Việt Nam Luận án tìm hiểu xem các nước giải quyết vấn đề đó như thế nào và mức độ thành công của họ đến đâu, để vận dụng vào thực tiễn ở Miền núi phía Bắc trong quá trình tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội và coi đây
là những đóng góp có giá trị thực tiễn của luận án
Bốn là, đánh giá được thực trạng nguồn nhân lực nữ, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân khách quan, chủ quan trong quá trình phát triển nhân lực nữ Miền núi phía Bắc;
Năm là, đánh giá ảnh hưởng của phát triển nguồn nhân lực nữ chủ yếu qua phát triển giáo dục đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Luận án đã phân tích, nêu lên được những thành công, các mặt tồn tại của việc phát triển nguồn nhân lực nữ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội vùng này Đây được coi là
cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
Sáu là, từ những phân tích về thực trạng nguồn nhân lực nữ Miền núi phía Bắc, luận án đã đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất các giải
Trang 26pháp phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội trong thời gian tới Luận án góp phần nghiên cứu các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ của một vùng lãnh thổ; là việc xem xét phát triển nguồn nhân lực nữ của một vùng lãnh thổ đặt trong mối liên hệ với
sự phát triển chung của một quốc gia, sự quản lý tập trung thống nhất của một nhà nước Luận án đề xuất bốn nhóm giải pháp chủ yếu mang tính toàn diện phát triển nguồn nhân lực nữ Miền núi phía Bắc Việt Nam Các giải pháp trong luận án đều dựa trên cơ sở giải quyết các nguyên nhân của hạn chế trong phát triển hiện tại, phát huy những kết quả đạt được, tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới, kết hợp với quan điểm của Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực nữ Các nhóm giải pháp này có thể vận dụng hoặc làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực nữ của miền núi phía Bắc
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn nhân lực nữ đối với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Chương II: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ và ảnh hưởng của
nó đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Miền núi phía Bắc Việt Nam
Chương III Giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở vùng Miền núi phía Bắc Việt Nam đến 2020
Trang 271.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển, giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt ra hết sức bức xúc, vì nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước
1.1.1.1 Quan niệm nguồn nhân lực
"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề,
là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [90, tr.3]
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều
so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn
ra trong môi trường sống của họ
Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [25, tr.282]
Trang 28Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [35, tr.269]
Theo TS Nguyễn Hữu Dũng:“Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng
vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn“ [26, tr.5]
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển
Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá
Trang 29Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm
"nguồn lực con người" Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung
cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con người với
tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và
sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội
Với tư cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất
Từ góc độ kinh tế phát triển, cần lưu ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, Số lượng nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động và khả năng
cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi giới
Trang 30tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ Nó còn thể hiện tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành
nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu
tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định [9, tr 55,56]
Thứ hai, những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực là sự kết hợp
giữa trí lực, thể lực và tâm lực
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng
tạo của con người Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá Kỹ năng lao động theo từng nghành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực ở xã hội công nghiệp
Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con
người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh
Trang 31Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người
Các tiêu chí cụ thể của thể lực là: có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các
hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới; luôn tỉnh táo và sảng khoái tinh thần
Tâm lực: còn được gọi là phẩm chất tâm lý- xã hội, chính là tác phong, tinh thần– ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ ),
có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý
Ngày nay, cái đem lại lợi thế cho nguồn nhân lực ngoài trí lực và thể lực, còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người Phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, phát triển nguồn nhân lực, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và dân trí, nâng cao sức khoẻ cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, thì cần coi trọng xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người
Thứ ba, vai trò quyết định của nguồn lực con người so với các nguồn lực
khác trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội được thể hiện ở những điểm sau:
Các nguồn lực khác (vốn, tài nguyên thiên nhiên ) tự nó tồn tại dưới dạng
tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp với nguồn lực con người, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và sử dụng của con người
Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có nguồn
nhân lực với cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, biểu hiện ở chỗ trí tuệ con người không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổi mới không
Trang 32ngừng, phát triển về chất trong con người nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý
Kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy thành tựu phát triển kinh tế - xã
hội phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
1.1.1.2 Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực được nhiều tác giả bàn đến Nadler & Nadler cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm Hai tác giả này định nghĩa: “phát triển nguồn nhân lực là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”[81,tr1-3]
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”[78]
Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân” [95]
Theo luận án thì: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của vùng Phát triển nguồn nhân lực chính là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế- xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của con người
Do đó, phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi có sự quan tâm và can thiệp của nhà nước bằng các phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và
Trang 33nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn phát triển
Như vậy, mặc dù có sự diễn đạt khác nhau song có một điểm chung nhất là PTNNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia Phát triển nguồn nhân lực, do vậy, luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp hóa trước đây cho thấy phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn sản xuất mà là hoàn thiện trong năng lực con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý Khác với đầu tư cho nguồn vốn phi con người, đầu tư cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung
1.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và nội dung phát triển nguồn nhân lực nữ miền núi
1.1.2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ
i) Nguồn nhân lực nữ
Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế- xã hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy Tuy nhiên, với tư cách là hơn nửa dân số và chiếm phần đông trong lực lượng lao động thì phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển của quốc gia
Hiểu theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực nữ bao gồm bộ phận dân số nữ có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội Nói cách khác, nhân lực nữ được hiểu không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực nữ với tư cách là lực lượng lao động của xã hội, bao gồm nhóm phụ nữ trong và trên tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của
Trang 34độ tuổi lao động nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội)
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang tính
chất tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trực tiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của bất kỳ quốc gia nào
Thứ hai, nghiên cứu nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận
đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xem xét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ) Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứu quy định
Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh học của cơ thể Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được Từ
những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ đảm nhiệm chức năng xã hội khác nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản xuất ra con người Từ đó nảy sinh
những khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới nữ trong học tập, làm việc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình Họ có những nhu cầu cấp thiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gần gia đình Sự phân biệt về giới tính giữa nam và nữ có tính tự nhiên, bẩm sinh Tuy nhiên, từ trong lịch sử kéo dài đến ngày nay đã tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống xã hội và gia đình Phụ nữ thường được coi là người hiển nhiên phải chịu trách nhiệm và thích hợp với việc chăm sóc con cái, gia đình Những công việc này thường ít được nhìn nhận ở góc độ kinh tế Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ trong lao động sản xuất đã giam hãm
Trang 35người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và gia đình với tất cả những bất công
và thiệt thòi
Tóm lại, việc nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nữ không thể không
nghiên cứu về hậu quả đem lại cho sự phát triển chung khi lực lượng phụ nữ bị kìm hãm, không phát huy được đầy đủ những tiềm năng cho việc cải tạo thiên nhiên, xã hội Vấn đề đặt ra trước hết đối với việc phát triển nguồn nhân lực nữ là phải xác định được những nhân tố cơ bản tác động đến nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển
ii) Phát triển nguồn nhân lực nữ
Phát triển nguồn nhân lực nữ là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực nữ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của vùng
Phát triển nguồn nhân lực nữ là việc nâng cao vai trò của nguồn lực phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế xã hội qua đó gia tăng giá trị của nhân lực nữ
Phát triển nguồn nhân lực nữ là căn cứ vào phát triển nguồn nhân lực nói
chung bên cạnh đó có những đặc thù riêng cho nữ
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là tạo điều kiện về quyền được
học hành, được chăm sóc y tế, quyền được có việc làm và thu nhập tương xứng, quyền ra quyết định và sử dụng các nguồn lực trong gia đình, trách nhiệm chăm sóc gia đình Vấn đề này sẽ quyết định đến cơ hội cuộc sống của nguồn nhân lực nữ, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế
Phát triển nguồn nhân lực nữ cũng được xem xét theo nghĩa bình đẳng về luật
pháp, về cơ hội- bao gồm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục đào tạo, trong y tế chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, tiếp cận nguồn vốn, khoa học công nghệ và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc và trong tiếng nói
Phát triển nguồn nhân lực nữ có thể được hiểu là nam giới và phụ nữ đều có vị
trí như nhau trong xã hội Phụ nữ và nam giới có điều kiện như nhau để thực hiện đầy
Trang 36đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và thụ hưởng sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước Điều này cũng không có nghĩa là phụ nữ và nam giới là hoàn toàn như nhau, song những điểm tương đồng và khác biệt của họ được xã hội thừa nhận và được coi trọng như nhau
1.1.2.2 Nội dung cơ bản phát triển nguồn nhân lực nữ
Một điều cần nhấn mạnh là PTNNL nữ chủ yếu là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ Ngoài yếu tố sức lao động, chất lượng nguồn nhân lực nữ còn phụ thuộc vào cơ cấu của đội ngũ lao động về ngành nghề, trình độ kỹ thuật, năng lực tổ chức, quản lý và khả năng phối hợp hành động để đạt mục tiêu đề ra Như vậy chính sách PTNNL nữ bao gồm hầu hết những giải pháp tác động đến quá trình tăng cường năng lực của từng người lao động nữ
và tổ chức, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn năng lực đó cho phát triển Đó là những lĩnh vực và chính sách về điều tiết dân số, sức khỏe và dinh dưỡng, giáo dục
và đào tạo, việc làm và thu nhập, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần … Xuất phát từ quan điểm về nguồn nhân lực nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ nêu trên, theo chúng tôi, nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực nữ bao gồm:
- Phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt số lượng;
- Phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt chất lượng;
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nữ
Trong đó luận án đi sâu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chất lượng nguồn nhân lực nữ, đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và tâm lực
i) Phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt số lượng
Nguồn nhân lực nữ của một quốc gia, vùng lãnh thổ, về mặt số lượng thể hiện ở qui mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi Theo đó, nguồn nhân lực nữ được gọi là đông về số lượng khi qui mô dân số lớn, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động nữ cao Tất nhiên, ở góc độ phát triển, chúng ta không thể không xét đến tỉ lệ gia tăng dân số hàng năm Nghĩa là về mặt số lượng, nguồn nhân lực nữ chịu ảnh hưởng trực
Trang 37tiếp của qui mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách phát triển dân số của các quốc gia và vùng lãnh thổ Vấn đề này, hiện nay trên thế giới đang diễn ra hai xu hướng trái ngược nhau Đối với các quốc gia phát triển, do các yếu tố như khí hậu,
di truyền, nhu cầu được tự do phát triển của mỗi cá nhân, điều kiện kinh tế và sự trợ giúp của khoa học - kỹ thuật … nên tỉ lệ sinh rất thấp, trong khi đó tuổi thọ lại cao, dẫn đến tình trạng già hóa nguồn nhân lực Hệ quả là thiếu nguồn nhân lực đến mức báo động Đối với các quốc gia đang phát triển thì ngược lại Tỉ lệ sinh ở những nước này còn khá cao, điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và y tế chậm được cải thiện, dẫn đến dư thừa lao động Hệ quả là gia tăng thất nghiệp và gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm
ii) Phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt chất lượng
Chất lượng nguồn nhân lực nữ thể hiện trên ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, kỷ luật lao động, yếu tố kết cấu đã được bao hàm trong chính nội tại ba yếu tố
đó Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nhân lực nữ về mặt chất lượng là sự phát triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, kỷ luật của người lao động nữ
Phát triển trí lực nguồn nhân lực nữ là phát triển năng lực trí tuệ của người lao động nữ Đó là quá trình nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, sức sáng tạo và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động nữ trong hoạt động thực tiễn Quá trình này chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều nhân tố, trong đó giáo dục - đào tạo giữ vai trò quyết định, vì nó trước hết là sản phẩm của giáo dục - đào tạo
Do vậy, trong thời đại ngày nay đồng thời với việc xem con người là nguồn lực quan trọng nhất, thì giáo dục - đào tạo đều được các quốc gia đặt ở vị trí số một trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình Đây cũng là cơ sở để Nhà nước Việt Nam xác định: trong khi nguồn lực vật chất và tài chính còn hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo phải trở thành quốc sách hàng đầu
Phát triển thể lực nguồn nhân lực nữ là gia tăng chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, sức mạnh và độ dẻo dai của thần kinh, cơ bắp Vấn đề này phụ thuộc vào một loạt
Trang 38các yếu tố: điều kiện tự nhiên, giống nòi, thu nhập và cách thức phân bố chi tiêu, môi trường và điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng (giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao) Trong đó, ngoài yếu tố giống nòi, thì thu nhập và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Những yếu tố này chỉ có thể được cải thiện trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển nhân cách, kỷ luật lao động nữ là phát triển yếu tố văn hóa, tinh thần và quan điểm sống như: tính tích cực, có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp, năng động sáng tạo, đạo đức, tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ ), lối sống đúng mực, hòa đồng, khả năng chuyển đổi công việc cao trong mỗi người lao động nữ Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức các giá trị cuộc sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hòa hợp với cộng đồng, đấu tranh với các tệ nạn xã hội để xây dựng lối sống lành mạnh và hình thành tác phong lao động công nghiệp của nhân lực nữ Thực chất là quá trình phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển, quá trình này chịu ảnh hưởng của các nhân tố: văn hóa và phong cách của người sản xuất nhỏ tiểu nông, hệ quả còn sót lại của cơ chế quản lý tập trung, đặc biệt là mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập
iii) Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nữ
Nguồn nhân lực là nguồn tài sản– tài sản nhân lực Do vậy phát triển nguồn nhân lực nữ sẽ không được coi là toàn diện nếu không quan tâm nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn tài sản này Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nữ, được đánh giá bằng mức độ toàn dụng nguồn nhân lực nữ cả về số lượng, chất lượng và thời gian được sử dụng Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nữ đồng nhất với việc: Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực nữ; Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực nữ, hay giá trị tăng thêm được tạo ra từ việc sử dụng nhân lực nữ; Nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động nữ Quá trình này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ
Trang 39tình hình cung cầu trên thị trường lao động nữ, chất lượng nguồn nhân lực nữ và chính sách lao động, việc làm, tiền lương của Nhà nước Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích tinh thần làm việc, khả năng sáng tạo của người lao động nữ, trên cơ sở đó hiệu quả sẽ được nâng cao
1.1.3 Đặc điểm nguồn nhân lực nữ Miền núi và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực nữ Miền núi
1.1.3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực nữ Miền núi
i) Nguồn nhân lực nữ Miền núi
Nguồn nhân lực nữ Miền núi là lực lượng lao động nữ đang có và sẽ có với tất cả sức mạnh về trí tuệ, thể chất và tinh thần của các cá nhân nữ ở Miền núi được
đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển kinh tế
Hiểu theo nghĩa hẹp trong phạm vi luận án này, đối tượng tác giả đề cập đến
là những nhân lực nữ sinh ra, lớn lên ở Miền núi đang lao động, sản xuất thực tế ở
Miền núi trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp
ii) Phát triển nguồn nhân lực nữ Miền núi
Phát triển nguồn nhân lực nữ Miền núi là hướng tới sự phát triển, khai thác,
sử dụng một cách tốt nhất khả năng lao động của các thế hệ phụ nữ Miền núi cả về thể lực, trí lực, tâm lực Nguồn nhân lực nữ Miền núi phải được hiểu không chỉ bó hẹp trong số những người đang tham gia lao động mà phải tính đến cả những người
sẽ tham gia vào quá trình lao động xã hội với tất cả những phẩm chất về sức khoẻ, trí tuệ, khả năng và năng lực của họ
iii) Đặc điểm nguồn nhân lực nữ ở khu vực Miền núi
- Chủ yếu là người dân tộc thiểu số, mang nặng phong tục tập quán lạc hậu:
Là vùng có cơ cấu dân tộc đa dạng, với nhiều dân tộc cùng sinh sống Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, từ phong tục, tập quán, đến quan hệ cộng đồng và ngôn ngữ riêng, song, do các dân tộc cư trú đan xen nhau, nên cũng có sự pha trộn, ảnh hưởng lẫn nhau Phụ nữ dân tộc thiểu số trong nền kinh tế thị trường có những phẩm chất
Trang 40nổi bật như cần cù, chịu thương chịu khó, sống có trách nhiệm, vì mọi người, đặc biệt là đức tính chân thật, giữ chữ tín, khéo léo và sáng tạo trong công việc, sức khỏe dẻo dai được rèn luyện trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt…
Tuy nhiên, cũng do sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các phong tục tập quán “trói buộc” đã tác động lớn đến cách sống, nếp nghĩ, làm chậm nhịp phát triển của bản thân họ Phong tục tập quán lạc hậu tác động tiêu cực đến sự phát triển nguồn nhân lực nữ, nhất là các quan niệm về hôn nhân sớm, hôn nhân cận huyết, sinh đẻ, tập quán chăm sóc trẻ em, quan niệm về học tập của con cái….Tâm lý tự ti, cam chịu, an phận thủ thường, định kiến, hẹp hòi, thiếu chí tiến thủ, ngại thay đổi và khó bắt nhịp với cái mới đã hạn chế những tiềm năng sẵn có làm cho nhân lực nữ vùng khó phát triển và bộc lộ những tiềm năng
- Chất lượng lao động thấp, sức khỏe kém, trình độ học vấn thấp, trình độ
chuyên môn kỹ thuật thấp: nhân lực nữ nghèo ở vùng núi là những người có trình
độ học vấn thấp, cho nên ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định, đa số dân số
là lao động nông nghiệp Chính vì vậy cho nên thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Trình độ học vấn thấp của nhân lực nữ vùng núi ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái, không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của các em, nhất là trẻ em gái Chi phí cho giáo dục đối với nhân lực nữ còn lớn, chất lượng giáo dục mà họ tiếp cận được còn hạn chế Trình độ học vấn thấp cũng hạn chế khả năng tìm kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình ở vùng núi thường cao và đông con do họ không có kiến thức và điều kiện tiếp cận với các biện pháp KHHGĐ Tỷ lệ nhân lực
nữ đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủ trách nhiệm KHHGĐ chưa cao