Chính vì thế các NH trong nước nói chung và các NHTMCP nói riêng cần phải phát huy có hiệu quả việc huy động vốn để bổ sung vào nguồn ngân sách của nhà nước nhằm đầu tư vào các công trìn
Trang 1A GIOI THIEU DE TAI
Việt nam từ xuất phát điểm thấp đang trong quá trình đây nhanh sự phát triển
kinh tế, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà một trong
những yêu cầu là cần phải đầu tư rất lớn xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như những cơ sở công nghiệp then chốt của nền kinh tế Để thực hiện được mục tiêu
chiến lược đó của nền kinh tế thì cần phải có vốn Đối với các doanh nghiệp tư
nhân trong nước thì tiềm lực tài chính eo hẹp nên chưa thể tham gia vào các công trình đầu tư các công trình lớn đó nguồn vốn ngân sách nhà nước thì có hạn và luôn trong tình trạng cân đối rất khẩn trương, còn nguồn đầu tư từ nước ngoài thì rất hạn chế Chính vì thế các NH trong nước nói chung và các NHTMCP nói riêng cần phải phát huy có hiệu quả việc huy động vốn để bổ sung vào nguồn ngân sách của nhà nước nhằm đầu tư vào các công trình trọng điểm thực hiện tiến trình công
nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước
B NỘI DUNG CHÍNH
Trang 2I Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân hàng thương mại ( NHTM ) cỗ phần trong thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta
1 Khái quát về NHTM NN ở Việt nam
Hiện nay xu thế hội nhập và hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế ngày càng trở nên rõ nết và cần thiết Cùng với các ngành kinh tế khác ngành ngân hàng đang đứng trước những cơ hội mới của quá trình hội nhập, nhưng bên cạnh đó cũng đứng trước nhiều thách thức gay gắt từ bên ngoài Trong quá trình hội nhập
quốc tế, các NHTM của việt nam sẽ đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn của các ngân
hàng nước ngoài với rất nhiều thế mạnh vượt trội so với hệ thống NHTM trong
nước Cụ thể nhất là tiềm lực về tài chính với số vốn điều lệ lên tới hàng trăm triệu
$ thậm chí lên tới hàng ti $ Chung ta sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng
nước ngoài có kinh nghiệm hoạt động lâu năm, có trình độ quản lý rất chặt chẽ và khoa học với nhiều dịch vụ ngân hàng đa dạng phong phú và hiện đại Do vậy việc nâng cao năng lực về tài chính và trình độ công nghệ quản lý là một công việc cấp bách mang tính chất chất sống còn của các NHTM trong nước đặc biệt là hệ
thống NHTM nhà nước Nếu các ngân hàng trong nước không kịp thời đổi mới để phát triển thì chúng ta sẽ đánh mắt khả năng cạnh tranh trên chính thị trường trong nước
Hiện nay, ở nước ta có 5 NHTM thuộc sở hữu nhà nước Đó là: ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ( agribank ) ngân hàng ngoại thương Việt nam
( VCB ), ngân hàng công thương Việt nam ( incombank ), ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam ( BIDV ), ngân hàng phát triển nhà đông bằng sông cửu long (MHB) Mặc dù đã được cấp bổ sung nhưng hiện nay vốn điều lệ của 5 NHTM NN
trên cũng chỉ đạt chưa tới l tỉ $, tỉ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có khoang 4%, đây
thực sự là một con số hết sức khiêm tốn (tỉ lệ này là thấp hơn nhiều so với chuẩn
mức của ngân hàng thanh toán quốc tế - BIS ) Cũng do vốn tự có thấp nên khả
Trang 3năng huy động và đầu tư của các NHTM NN còn nhiều hạn chế Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, để đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự phát triển của nền kinh
tế thì quy mô huy động vốn của các NHTM trong nước cần có tốc độ tăng trưởng
trung bình hàng năm khoảng 25% Tốc độ tăng cho vay đối với nền kinh tế hàng
năm khoảng 20% Để đạt được điều này, ước tính vốn tự có của các NHTM NN đến năm 2010 cần phải đạt trên 60 ngàn tỉ đồng Thực tế, nếu chỉ dựa vào việc cấp
thêm vốn của Ngân hàng nhà nước (NHNN) thì sẽ rất khó khăn Mức vốn tự có của
các NHTM NN tắt nhỏ, mặt khác số nợ qúa hạn lại khá cao và chưa được sử lý dứt
điểm nên năng lực tài chính còn nhiều hạn chế Trình độ qủan lý của các NHTM
NN còn nhiều bất cập chưa theo kịp trình độ quản lý hiện tại của các ngân hàng lớn trên thế giới, công nghệ ngân hàng còn hạn chế đo việc đầu tư chưa được quan tâm một cách thoả đáng mà thiếu sự đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng hệ thống thanh
toán của các NHTM NN chưa theo kịp được với hệ thống thanh toán và công nghệ
của các ngân hàng quốc tế, sản phẩm ngân hàng còn hạn chế chủ yếu là các sản phẩm truyền thống Đây là những nhân tố khó khăn lớn và thực sự trở thành những
nhân tổ lam tri tre quá trình hội nhập và phát triển của hệ thống NHTM NN Việt
nam đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi các NHTM của việt nam đang chuẩn
bị cho tiến trình mở cửa hội nhập quốc tế theo các cam kết song phương và đa
phương như ASEAN, APEC, AFTA, hiệp định thương mại Việt — Mỹ và tiến tới
là WTO như vậy có thể thấy rằng các NHTM NN hiện nay vẫn chưa thực sự lớn mạnh cả về tiềm lực tài chính, cơ sở vật chất và trình độ quản lý để làm don bay
giúp cho nền kinh tế phát triển một cánh bền vững và ồn định Trước sự thách thức
một cách khốc liệt về cạnh tranh của quá trình hội nhập, để giải quyết vấn đề trên,
các NHTM NN không thể chỉ trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước, cũng như
không thể chỉ ï lại vào nguồn lực sẵn có của mình mà cần phải huy động được sức mạnh từ tất cả các nguồn lực trong xã hội, thậm chí cả các nguồn lực quốc tế Cổ
phần hoá là bước đi tất yêu trong nền kinh tế thị trường
Trang 42 Tinh tat yếu của quá trình cổ phan hoa cac NHTMNN
2.1 Về phía khách quan
Yêu cầu và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt NHTM NN trước
xu thé tất yếu của tiễn trình cỗ phần hoá ( CPH ) Hội nhập kinh tế là một xu hướng
tất yêu, do đó, cạnh tranh của một doanh nghiệp không còn bó hẹp trong phạm vi
giữa các doanh nghiệp hay phạm vi quốc gia mà nó còn đã mở rộng phạm vi toàn
thế giới Nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nêu rõ chủ trương
của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế nhắn mạnh phương trâm chủ động hội nhập với các nguyên tắc phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN Riêng đối với ngành ngân hàng, việc
Việt nam ra nhập khu vực mậu dịch tự do Asean ( Afta ) và việc thực hiện hiệp định thương mại Việt —- Mỹ sẽ mang lai nhiều cơ hội cho các ngân hàng trong nước
Song những thách thức từ quá trình này sẽ là rất lớn bởi các NHTM trong nước hiện tại đang thể hiện khả năng cạnh tranh kém hơn so với các ngân hàng nước ngoài trên tất cả các phương điện Vì vậy các NHTM trong nước nói chung và các NHTM NN nói riêng không còn cách nào khác là phải tăng cường năng lực tài
chính cũng như khả năng cạnh tranh để đối mặt với những thách thức từ hội nhập,
và cổ phần hoá là phương án được đưa ra để đạt tới mục tiêu đó
2.2 Về phía chủ quan
Xét về tong thé trước yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế các
NHTM \N vẫn còn một số hạn chế trong kinh doanh Theo đánh gía của ngân
hàng thế giới ( WB ) tại báo cáo phân tích hệ thống ngân hàng việt nam tháng 6
/2002, những hạn chế chủ yếu đó là:
Năng lực tài chính còn hạn chế do vốn tự có nhỏ bế nguyên nhân làm cho tỉ
lệ an toàn vốn thấp so với thông lệ quốc tế, chất lượng tài sản còn thấp do nợ xấu
Trang 5van con ton tai trong khi viéc trich lap du phong rui ro chua day đủ, năng lực quản
lý điều hành còn hạn chế
Điều này được thể hiện qua
Bảng 1 — Một số chỉ tiêu thê hiện năng lực tài chính của các NHTM NN
BSVĐL)
Tỷ lệ tăng vốn tự có 16% | -11% 7% | 69% | 42%
Hệ số CAR 52% | 3,5% 3% 4% | 4,5% Tống số vốn tự có bị thiếu 4023 | 8660 | 12042 | 11244 | 13082
Nợ quá hạn /tông dư nợ 14,74 | 11,19 | 8,74 | 7,58 | 5,01
Lợi nhuận ròng /vôn tự có( ROE ) 8,63 12,81 | 15,58 | 9,43 | 6,54
Lợi nhuận ròng /tông tài sản có (ROA) | 0,36 | 0,36 | 0,38 03 | 0,38
Nguôn: Báo cáo ngân hàng nhà nước
- Tiềm lực tài chính ( xem bang 1 )
Một trong những vấn đề nan giải nhất của các NHTM NN hiện nay là vấn đề
thiếu vốn Hiện tại, mức vốn tự có của các NHTM NN trong khoảng từ 1,2 nghìn tỉ
đến 2,3 nghìn tỉ VND Nếu kể cả phần tăng vốn điều lệ qua bốn đợt là 11.000 nghìn
tỉ theo quyết định số 435/ QÐ — TTG ngày 14/6/2002 của Thủ tướng chính phủ thì
tổng số vốn tự có của các ngân hàng này mới đạt hơn 15 nghìn tỉ đồng ( tương
đương với 800 triệu $ ) Bảng I cho thấy vốn tự có của các NHTM NN tăng một
cách nhanh chóng và liên tục qua hai năm 2002- 2003, chủ yếu là do việc chính
5
Trang 6phủ thức hiện cấp bé sung vốn điều lệ Mặc đù số vốn được cấp là tương đối lớn, nhưng nên tính tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định tại quyết định số 297/
1999/QĐÐ - NHNNS ngày 25/8/1999 thì các NHTM NN chỉ đạt được tỉ lệ an toàn vốn bình quân là 5% ( so với mức 2,8% vào năm 2000 ), thấp xa so với tiêu chuẩn quốc tế ( 8% )
- Hiệu qủa hoạt động ( xem bảng 2 )
Theo thông lệ quốc tế các chỉ số của một ngân hàng được coi là hoạt động tốt là: ROA 1%, ROE 15% so sánh các chỉ số này với NHTM NN, ta thấy:
Hiệu quả hoạt động thấp ( mức ROA bình quân 0,38% bằng 1/3 so với mức
trung bình ) ROE liên tục giảm qua các năm 2001 — 2003 đo nợ xấu lớn và do việc
mở rộng hoạt động, chi phí quản lý tăng, trong khi chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động và cho vay có xu hướng giảm Chỉ tiêu nợ qúa hạn mặc dù liên tục giảm qua các năm và hiện ở mức thấp, nhưng đây là nợ theo tiêu chuân VAS - tiêu chuẩn kế toán Việt nam chứ chưa theo [AS — tiêu chuẩn kế toán quốc tế
- Năng lức quản lý điều hành còn hạn chế
Mặc dù trong thời gian qua, công tác nâng cao năng lực quản trị điều hành
của các NHTM NN đã được tăng cường nhưng hiện vẫn còn nhiều tồn tại, đặc biệt
là trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, dẫn đến tỉ lệ nợ qua hạn có nhiều hướng gia tăng, chất lượng tín dụng chưa đồng đều Hệ thống cơ chế khuyến khích bao
gồm cơ chế lương thưởng và sử phạt hiện chưa thích hợp và chưa tạo được động
lực Vì vậy CPH là giải pháp đề các NHTM NN khắc phục tất cả những yếu kém
trên, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong tiến trình hội nhập
3 Những lợi ích từ cổ phan hod
3.1 Dưới góc độ quản lý vĩ mô:
Cổ phần hoá thúc đây thị sự phát triển của thị trường vốn và thị trường địch
vụ tài chính theo con số thống kê mới nhất, tổng giá trị chứng khoán hoá trên thị
Trang 7trường chứng khoán Việt nam chiếm khoảng 0.5% GDP ( trên dưới 2.000 tỉ đồng ) Với sự tham dự của 28 công ty niêm yết trên thị trường và khoảng 19 nghìn cổ
đông Việc CPH một NHTM NN chắc chắn sẽ thổi một luồng sinh khí mới vào
hoạt động của thị trường chứng khoán Sự sôi động của thị trường càng gia tăng khi
có các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính cũng được
niêm yết và giao dịch cô phiếu Niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương mại
cổ phần ( NHTMCP ) và CPH một bộ phận NHTM NN sẽ được coi là cuộc cách
mạng lần hai trong quá trình tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng ở Việt nam, được thực hiện sau một thời gian chắn chỉnh và củng có sắp xếp lại mỗi khối ngân hàng này
3.2 Dưới góc độ quản lý vì mô của ngân hàng
- CPH sẽ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động Hiệu quả ở đây thê hiện qua các góc độ: (1) nâng cao hệ số an toàn vốn (2) tăng cường năng lức quản trị điều hành và hiện đại hóa ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả kinh đoanh và sử dụng vốn (3) tăng cường năng lực lượng kiểm soát nội bộ, hoạt động kinh đoanh
an toàn, lành mạnh theo chuẩn mực quốc tế, làm giảm những khoản nợ xấu và tăng
khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, buộc ngân hàng phải ứng xử theo quy luật thị trường và cơ cấu lại nhằm
tối đa hoá lợi nhuận
- CPH hoá sẽ thay đổi phương thức quản lý và nhận thức của người lao động NHTM NN khi CPH sẽ loại bỏ sự thiếu minh bạch, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của cổ đông, và vì vậy buộc họ phải nỗ lực hết mình nếu không
muốn bị cổ đông phế truất dia vị lãnh đạo Đối với người lao động, khi quyền lợi riêng đã được gắn két với quyền lợi chung, họ sẽ quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
- CPH sẽ thu hút được các nhà đầu tư chiến lược
Trang 8Hién nay, DRAGON CAPITAL cua Anh da dau tu vao 3 NHTMCP: ACB,
VPBank và Sacombank, DEUTSCH BANK của Đức sẽ mua cổ phần của
Eximbank, dự kiến khoảng 20 -30% vốn điều lệ Việc thu hút các nhà đầu tư chiến
lược có ý nghiã quan trong như: (1) khai thác kinh nghiệm qủan lý, điều hành ngân hàng hiện đại (2) khai thác các công nghệ ngân hàng tiên tiến.(3) tận dụng mạng
lưới chi nhánh, đại lý của các nhà đầu tư này để mở rộng hoạt động
4 Khái quát về NHTMCP trong quá trình hội nhập và phát triển
Sự ra đời và hoạt động của các NHTMCP Việt nam gắn liền với quá trình
đổi mới hoạt động hệ thống ngân hàng thông qua việc chuyên đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp ( ngân hàng nhà nước và các NTHM), trong bối cảnh kinh tế nước ta chuyên đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT định hướng XHCN Sau hơn IŠ năm hoạt
động hệ thống NHTMCP đã trải qua những thăng trầm để tồn tại, ngày càng được hoàn thiện và không ngừng phát triển, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí của mình trong hệ thống ngân hàng, góp phần tích cực thúc đây sự phát triển của nền kinh tế
cụ thể: xoá bỏ cơ bản tình trạng cho vay nặng lãi, thu hút được tiền nhàn rỗi của
mọi tầng lớp dân cư tạo nguồn đầu tư phát triển kinh tế thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các hộ gia đình qua đó góp phần thực
hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển các thành phần kinh tế phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với vai trò là
huyết mạch của nền kinh tế, sự ôn định và phát triển của hệ thống ngân hàng có ý nghiã hết sức quan trọng để thúc đây và duy trì sự phát triển của các ngành nghè, lĩnh vực sản xuất kinh doanh Vì vậy công tác chấn chỉnh, củng có đối với hệ thống
NHTM nói chung và NHTMCP nói riêng luôn được coi là nhiệm vụ thường xuyên của NHNN nhằm kịp thời phát hiện, cảnh báo, ngăn ngừa những sai phạm, tổn thất
trong hoạt động ngân hàng có thể dẫn đến sự đỗ vỡ dây chuyền của hệ thống ngân
Trang 9hang va pham vi nền kinh tế, qua đó không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng, đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiêu quả tại thị trường trong nước và tiễn tới mở rộng phạm hoạt động trên thị trường thế giới và khu vực Kết
quả công tác chấn chỉnh, củng cố đối với NHTMCP thời gian qua đã đạt được nhưng kết qủa khả quan
4.1 Tình hình phát triển của các NHTMCP ở Việt nam
Các NHTMCP Việt nam ra đời từ năm 1990, sau khi pháp lệnh ngân hàng và
công ty tài chính được ban hành Những năm đầu thập kỉ 90, số lượng các
NHTMCP là 30 ( trong đó có 21 NHCP đô thị và 9 NHCP nông thôn ) Hầu hết các ngân hàng này đều được điều chỉnh từ những tổ chức tín dụng ( TCTD ) cũ, (có từ trước khi ra đời pháp lệnh ngân hàng), với quy mô nhỏ, hoạt động trong phạm vi
các địa phương ( huyện, tỉnh , TP ) Đến cuối năm 1997 cả nước có 52 NHTMCP (
trong đó có 32 NHTMCP đô thị và 20 NHTMCP nông thôn) với vốn điều lệ bình
quân của một NHTMCP đô thị là 45 tỷ đồng và một NHTMCP nông thôn là 3 tỷ
Từ năm 1998 thực hiện chủ trương của chính phủ về việc cơ cấu lại hệ thống NH Việt nam nhằm từng bước lành mạnh hoá tình hình tài chính của các NHTM, đưa
hệ thống NHĨM nước ta hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế gidi,
NHNN bắt đàu triển khai “ đề án chấn chỉnh, củng có, sắp xếp lại hệ thống các NHTMCP” đã được Thủ tướng chỉnh phủ phê duyệt
4.2 Vai trò của NHTMCP
Với tính chất là loại hình TCTD được tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tự
chiụ trách nhiệm theo trong cơ chế thị trường, không dựa vào sự bao cấp của nhà
nước, các NHTMCP đã khắng định vị trí của mình là một bộ phận không thể thiếu
được trong hệ thống các NHTM nước ta Trong những năm qua các NHTMCP đã
thể hiện vai trò tích cực trong việc huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của
các tổ chức và đân cư để cho vay, đầu tư phát triển, đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Trang 104.3 Tình hình hoạt động của các NHTMCP
Theo só liệu thống kê ( đến ngày 31/5/2004 ):
*, Tổng nguồn vốn huy động của khối các NHTMCP đạt khoảng gần 73.800 tỷ
đồng, tăng khoảng hơn 9.500 tỷ đồng so với cuối năm 2003 ( tỷ lệ tăng khoảng hơn 14% ), chiếm khoảng gần 12% thị phần của toàn hệ thống các tổ chức tín đụng
* Tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng của khối các NHTMCP là khoảng hơn
42800 tỷ đồng, tăng khoảng gần 4000 tỷ đông so với cuối năm 2003( tý lệ tăng là 10% ), chiếm khoảng gần 1 1% thị phần của toàn hệ thống các TCTD
*, Về chất lượng hoạt động: theo đánh giá của NHNN thì trong 6 tháng đầu năm
2004, các NHTMCP hoạt động tương đối ổn định và đã nâng cao được chất lượng
hoạt động Tuy nhiên còn có 3 NHCP yếu kém đang chiụ sự quản lý giám sát đặc
biệt của NHNN
*, Về kết qủa kinh doanh: chênh lệch thu chỉ ( lợi nhuận trước thuế ) của các
NHTMCP trong năm 2003 vào khoảng gần 800 tỷ đồng Tỷ suất lợi nhuận ( lợi
nhuận trước thuế so với vốn tự có ) bình quân đạt khỏang gần 19% ( trong 22 NHCP đô thị, có 13 NH đạt tỷ suất lợi nhuận từ 20% trở lên, 5 NH dat tir 22 - 38%,
trong 10 NHCP nông thôn, có 4 NH hoạt động hiệu qủa )
4.4 Tình hình tăng von diéu lệ và hiện đại hoá công nghệ của các NHTMCP Trước thách thức của yêu cầu hội nhập quốc tế, để đủ sức cạnh tranh, các NHTMCP đang tích cực củng cố tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản tri điều hành của mình theo lộ trình quy định của NHNN Tính tới cuối năm 2003,
tổng số vốn tự có của cả hệ thống NHTMCP là 4191 tỷ đồng, trong đó các
NHTMCP đô thị là 2060 tỷ đồng Tổng số vốn điều lệ của hệ thống các NHTMCP
là 3957 tỷ đồng trong đó các NHTMCP đô thị là 3827 tỷ đồng Các ngân hàng đều đạt mức vốn điều lệ theo quy định của NHNN Nhiều NHTMCP đã tích cực trong
việc hiện đại hoá hoạt động và phát triển các dịch vụ tiện ích trên cơ sở công nghệ cao như: dịch vụ thể NH nội địa và quốc tế (visacard, mastercard .) dịch vụ NH
10
Trang 11dién tu ( internet banking, home banking), hé thống giao dich tu động ATM (như
NHCP Đông á, NHCP Á châu, NHCP Sài gòn thương tín, NHCP Kỹ thương )
4.5 Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của các NHTMCP hiện
nay
* Vốn tự có của nhiều ngân hàng thấp, hạn chế việc mở rộng hoạt động
Hầu hết các NHTMCP có vốn điều lệ dưới 10 triệu $, chỉ có 3 NH co vốn
điều lệ trên 20 triệu $ Vốn tự có thấp thì khó có thể cạnh tranh được với các NH
lớn về lãi suất, đầu tư vốn vào dịch vụ NH, không thể trang bị và phát triên công
nghệ tiên tiến (ví du: nếu trang bị một máy ATM là 34.000S )
*, Năng lực quản trị điều hành của nhiều NH còn bắt cập
Những năm gần đây nhiều NHTMCP nhất là các NH lớn đã chú trọng đến việc nâng cao năng lực quản trị điều hành bằng nhiều phương thức khác nhau như
là tìm chuyên gia giỏi trong lĩnh vực NH về tăng cường cho ban điều hành, cử nhiều cán bộ các cấp đi đào tạo tại các trung tâm có chất lượng cao trong và ngoài nước Song, nhìn chung chưa có hiệu quả
* Một số NHTMCP có vốn góp của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ cao thường còn mang tư duy quản lý điều hành theo kiểu bao cấp của các vị đại diện chủ doanh nghiệp NN là thành viên hội đồng quản trị Những vị thành viên lãnh
đạo này thường ít có điều kiện có mặt tại nhiệm sở đề chỉ đạo điều hành ngân hàng, nên hội đồng quản trị của ngân hàng còn mang tính hình thức, chủ yếu là uỷ thác cho tổng giám đốc (GĐ) Do đó việc quản lý NH chưa được sâu sát giải quyết vụ việc còn thụ động, chưa có mục tiêu chiến lược lâu dài
*, Phân phối thu nhập còn rất khác nhau
Việc phân chia lợi nhuận cho các cổ đông chưa ồn định, chênh lệch nhiều và chưa nhất quán trong hệ thống Về cơ chế tài chính, cơ chế tiền lương của các NHTMCCP còn rất khác nhau, mỗi NH áp dụng một cách, tuỳ thuộc vào sự hiểu biết
11
Trang 12của hội đồng quản trị, nên ít nhiều đã tạo nên sự di chuyển CBNV, dẫn đến tình trạng không ồn định trong hoạt động kinh doanh NH
*, Thực trạng tài chính của một sỐ ngân hàng chưa lành mạnh
Việc sử lý nợ tồn đọng của các NHTMCP con gap nhiều khó khăn Nếu con
nợ là DNNN thì hiện nay chưa có phương cách giải quyết đo tài san thé chap, cam
cố các khoản vay thông thường là trụ sở cơ quan dây chuyền thiết bị máy móc
những tài sản này rất khó phát mại, hồ sơ trên giấy tờ liên quan đến tài sản thường không đảm bảo, khi phát mại tài sản của DNNN thường liên quan tới van dé xã hội
và phải được sự chấp thuận của cục quản lý công sản bộ tài chính
*, Các định hướng phòng ngừa và biện pháp sử lý tình huống đang là vấn đề đáng
quan tâm
Sự cố của NHTMCP á châu xây ra cho thấy cần phải có các thiết chế an toàn
và kỹ năng sử lý tình huống để phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời có hiệu quả các trường hợp tương tự có thể phát sinh tại các TCTD Với sự chỉ đạo của chính phủ
và NHNN, sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và sự nỗ lực của các NHTMCP, các
NH nay da phan đấu khắc phục khó khăn, vươn lên thực hiện mục tiêu chính là xây
dựng NHTMCP lành mạnh, có quy mô phù hợp và có khả năng cạnh tranh trên thị trường
II NHTMCP với việc huy động vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
1 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh NH
1.1 Vốn là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động kinh doanh được thì phải
có vốn bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu dé quyết định khả năng kinh doanh
Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTMCP tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình Nói cách khác, NH không có vốn thì không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động NH, vốn không chỉ
12