Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định "Xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp cở sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất rất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống đời sống vật chất và tinh thần cao, Quốc phòng, An ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh". Theo tinh thần của văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp. Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, hoàn thành quá trình CNH - HĐH đất nước là cả một nhiệm vụ không dễ dàng. Bởi Việt Nam là một nước có xuất phát điểm thấp, một nước công nghiệp nghèo và lạc hậu, đã trải qua hai cuộc chiến tranh khiến cho đất nước bị tàn phá nặng nề, trong khi đó ngân sách Nhà nước thì hạn hẹp, thế giới đang đứng trước xu thế toàn cầu hoá và việc Việt Nam bị cuốn vào là điều không thể tránh khỏi. Thế nhưng như chúng ta đã biết, CNH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghê, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Từ những nhu cầu trên thì một vấn đề đặt ra là việc chuyển từ công cụ thô sơ thành trang thiết bị, máy móc hiện đại cần phải có vốn, việc đầu tư từ kỹ thuật lạc hậu sang khoa học - công nghệ hiện đại cũng cần có vốn, việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cũng cần có vốn. Như vậy để hoàn thiện được quá trình CNH - HĐH cần phải có vốn, vốn là yếu tố hết sức quan trọng và cấp thiết. Vậy vốn từ đâu ra? Đảng ta cũng đã chỉ rõ, trong việc huy động vốn thì vốn trong nước giữ vai trò quyết định vì đó là nhân tố bên trong đảm bảo cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài... Do đó, chúng ta phải huy động nguồn vốn trong nước là chủ yếu, phải huy động nội lực, khai thác tối đa nguồn vốn nhần rỗi trong xã hội. Việt Nam hiện nay đã hình thành hai kênh huy động vốn: qua thị trường chứng khoán và qua hệ thống ngân hàng. Song thị trường chứng khoán mới thành lập, còn mới mẻ và chưa thực sự trở thành một kênh huy động vốn lớn. Do vậy huy động vốn qua hệ thống ngân hàng là quan trọng và chủ yếu nhất. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, hoạt động kinh doanh dịch vụ hết sức sôi động và đa dạng kéo theo sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại, nhất là các Ngân hàng Thương mại Cổ phần. Nguồn vốn được huy đông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần đã đóng góp đáng kể vào việc huy động vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Trong bài viết này, em xin trình bày đề tài: "Vai trò, chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần đối với việc huy động vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay".
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác định "Xây dựngnước ta trở thành một nước công nghiệp cở sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơcấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất rất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triểncủa lực lượng sản xuất, đời sống đời sống vật chất và tinh thần cao, Quốc phòng,
An ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh"
Theo tinh thần của văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII Đảng Cộngsản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020 về cơ bản nước tatrở thành nước công nghiệp
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, hoàn thành quá trình CNH - HĐH đấtnước là cả một nhiệm vụ không dễ dàng Bởi Việt Nam là một nước có xuất phátđiểm thấp, một nước công nghiệp nghèo và lạc hậu, đã trải qua hai cuộc chiếntranh khiến cho đất nước bị tàn phá nặng nề, trong khi đó ngân sách Nhà nướcthì hạn hẹp, thế giới đang đứng trước xu thế toàn cầu hoá và việc Việt Nam bịcuốn vào là điều không thể tránh khỏi Thế nhưng như chúng ta đã biết, CNH làquá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghê, phương tiện vàphương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộkhoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Từ những nhu cầu trên thì một vấn đề đặt ra là việc chuyển từ công cụ thô
sơ thành trang thiết bị, máy móc hiện đại cần phải có vốn, việc đầu tư từ kỹthuật lạc hậu sang khoa học - công nghệ hiện đại cũng cần có vốn, việc đầu tưphát triển kinh tế - xã hội cũng cần có vốn Như vậy để hoàn thiện được quátrình CNH - HĐH cần phải có vốn, vốn là yếu tố hết sức quan trọng và cấp thiết.Vậy vốn từ đâu ra?
Trang 2Đảng ta cũng đã chỉ rõ, trong việc huy động vốn thì vốn trong nước giữ vaitrò quyết định vì đó là nhân tố bên trong đảm bảo cho việc xây dựng nền kinh tếđộc lập, tự chủ, là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nướcngoài Do đó, chúng ta phải huy động nguồn vốn trong nước là chủ yếu, phảihuy động nội lực, khai thác tối đa nguồn vốn nhần rỗi trong xã hội.
Việt Nam hiện nay đã hình thành hai kênh huy động vốn: qua thị trườngchứng khoán và qua hệ thống ngân hàng Song thị trường chứng khoán mớithành lập, còn mới mẻ và chưa thực sự trở thành một kênh huy động vốn lớn
Do vậy huy động vốn qua hệ thống ngân hàng là quan trọng và chủ yếu nhất.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, hoạt động kinh doanh dịch vụ hết sức sôiđộng và đa dạng kéo theo sự phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại,nhất là các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nguồn vốn được huy đông quaNgân hàng Thương mại Cổ phần đã đóng góp đáng kể vào việc huy động vốncho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Trong bài viết này, em xin trình bày đề tài: "Vai trò, chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần đối với việc huy động vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay".
Bài viết của em còn có nhiều thiếu sót, mong thầy giáo góp ý và bổ sungthêm cho em
Em xin chân thành cảm ơn thầy đã hướng dẫn em hoàn thành bài viết này
Trang 3CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1 Khái quát chung về hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Ngân hàng là loại trung gian tài chính quan trọng nhất đối với mọi người.Nghiệp vụ cơ bản nhất của Ngân hàng là nhận tiền gửi của người tiết kiệm vàcho vay lại số tiền đó Ngân hàng trả lãi đối với người gửi tiền và tính lãi caohơn đối với người vay tiền Số tiền chênh lệch giữa hai mức lãi suất cho phép bùđắp chi phí hoạt động Ngân hàng và đem lại lợi nhuận cho chỉ Ngân hàng
Ngoài ra, Ngân hàng còn có vai trò nữa là làm cho hoạt động mua và bándiễn ra thuận lợi hơn bằng cách cho phép mọi người viết séc vào tài khoản củamình ở Ngân hàng - đây là chức năng để phân biệt Ngân hàng với các tổ chứctín dụng khác
Ở Việt Nam hệ thống Ngân hàng phát triển qua hai giai đoạn: chiến tranh
và hoà bình và trải qua ba thời kỳ:
+ Thời kỳ bao cấp (1951 - 1986): hệ thống Ngân hàng một cấp, chỉ cóNgân hàng Nhà nước với các chi nhánh ở các địa phương;
+ Thời kỳ đổi mới (1987 - 1990): hệ thống Ngân hàng hai cấp;
+ Thời kỳ từ 1990 trở đi: hệ thống Ngân hàng hai cấp nhưng chức năngđược phân định rõ ràng hơn Trong đó:
- Ngân hàng Nhà nước: làm chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạtđộng Ngân hàng, là Ngân hàng phát tiển tiền, Ngân hàng của các tổ chức tíndụng và làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
Trang 4Các tổ chức tín dụng có: Ngân hàng chuyên doanh, hợp tác xã tín dụng,công ty tài chính.
* Trong đó Ngân hàng hàng chuyên doanh có:
+ Ngân hàng thương mại với các hình thức sở hữu: quốc doanh, cổ phần,liên doanh, ngân hàng nước ngoài;
+ Ngân hàng phát triển;
+ Ngân hàng đầu tư;
+ Ngân hàng chính sách
2 Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Ngân hàng Thương mại Cổ phần là Ngân hàng Thương mại được hìnhthành dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chứckhông được sở hữu cổ phần của Ngân hàng quá tỷ lệ Nhà nước quy định
Ngân hàng Thương mại Cổ phần có những chức năng của một Ngân hàngThương mại là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và nguồn tạo tiền.Ngân hàng Thương mại Cổ phần là một trong những thể chế tài chính có ýnghĩa quan trọng trong quá trình CNH - HĐH đất nước Vai trò của nó thể hiệnđậm nét ở: lưu chuyển vốn, tập trung vốn, cung cấp vốn cho các doanh nghiệptrong nền kinh tế Tuy nhiên Ngân hàng Thương mại Cổ phần là tổ chức kinhdoanh mà mục tiêu chính vẫn là lợi nhuận Nó hoạt động theo ba nghiệp vụchính: huy động vốn, cho vay và thanh toán
Ngân hàng Thương mại Cổ phần hiện nay có: Ngân hàng Thương mại Cổphần đô thị và Ngân hàng Thương mại Cổ phần nông thôn
Nội dung hoạt động cảu các Ngân hàng như sau:
a Huy động vốn: dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác;
Trang 5- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác huy độngvốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngânhàng Nhà nước chấp thuận;
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổchức tín dụng nước ngoài;
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn;
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước
b Hoạt động tín dụng:
Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấuthương phiếu và giấy tờ có giá khác bảo lãnh, cho thuê tài chiníh và các hìnhthức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
d Xét duyệt cho vay, kiểm tra và xử lý:
- Ngân hàng được quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minhphương án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảolãnh trước khi quyết định cho vay; có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợtrước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợpđồng tín dụng
- Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng vay,tìa sản của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thu hồi nợtheo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức
Trang 6tín dụng, khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng và người bảo lãnhkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định củaPháp luật.
- Ngân hàng được miễn, giảm lãi suất cho vay, phí ngân hàng, quá hạn nợ,mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
e Bảo lãnh:
- Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợpđồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh Ngân hàng khác cho các tổchức tín dụng, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực hiện bảolãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh Ngân hàng khác màngười nhận bảo lãnh là tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định của Ngânhàng Nhà nước
f Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác:
- Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu vàcác giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành Người chủ
sở hữu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác phải chuyển giao ngaymọi quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các giấy tờ đó cho Ngân hàng
- Ngân hàng được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác theo quy định pháp luật hiệnhành
- Ngân hàng có thể được Ngân hàng Nhà nước tái chiết khấu và cho vaytrên cơ sở cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã đượcchiết khấu theo quy định của Pháp luật hiện hành
Trang 7g Công ty cho thuê tài chính:
Ngân hàng phải thành lập công ty cho thuê tài chính khi hoạt động cho thuêtài chính
h Tài khoản tiền gửi của Ngân hàng:
- Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở giao dịch,chi nhánh ở tỉnh, thành phố) nơi Ngân hàng đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số
dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Chi nhánh của Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàngNhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Sở giao dịch, chi nhánh
- Ngân hàng mở tài khoản cho khách hàng trong nước và ngoài nước theoquy định của Pháp luật
k Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
+ Cung ứng các phương tiện thanh toán;
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
+ Thực hiện dịchv ụ thu hộ và chi hộ;
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước;
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước chophép;
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanhtoán liên ngân hàng trong nước Tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khiđược Ngân hàng Nhà nước cho phép
Trang 8- Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trườngquốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
- Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quanđến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cánhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác và đại lý
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh bảo hiểm
- Cung ứng các dịch vụ:
+ Tư vấn tài chính tiền tệ;
+ Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá
- Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh doanh
có liên quan tới hoạt động Ngân hàng theo quy định của Pháp luật
Trang 9- Thực hiện phân loại tài sản "có" và trích lập dự phòng rủi ro để xử lý cácrủi ro trong hoạt động ngân hàng theo quy định của Pháp luật hiện hành.
II HUY ĐỘNG VỐN
CNH - HĐH là một cuộc cải biến cách mạng từ xã hội nông nghiệp trởthành xã hội công nghiệp Đó cũng là cuộc cải biến cách mạng trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội Vì vậy để triển khai thuận lợi và thực hiện thành công sựnghiệp này đòi hỏi phải có những tiền đề cần thiết Xuất phát từ thực trạng đấtnước ta thì việc huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả là hết sức quan trọng
1 Lý luận cơ bản về chức năng huyđộng vốn
Lật lại lịch sử phát triển của Ngân hàng chúng ta có thể thấy sự ra đời vàphát triển của nớ gắn với tư bản hoá tiền tệ Sự phát triển mạnh của quan hệhàng hoá - tiền tệ đã đòi hỏi khách quan sự ra đời của các tổ chức và hoạt độngNgân hàng Và đặc trưng cơ bản nhất của Ngân hàng là huy động vốn từ tiền củacông chúng, vì thế chức năng cơ bản nhất là đi vay và cho vay, vốn huy độngchiếm tỷ lệ cao trong tổng số vốn hoạt động của Ngân hàng Với chức năng này,Ngân hàng thực hiện chức năng phân phối và tải phân phối vốn, tiền tệ xã hội,tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ sở đầu tiên hình thành nên hoạt động đi vay và cho vay là trong nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa Trong nền sản xuất này thì tiền có thể chuyển hoá thành
tư bản Do sự chuyển hoá đó, tiền từ chỗ là một giá trị nhất định trở thành mộtgiá trị cứ tự mình ngày càng lớn lên và sinh sôi nảy nở ra Như vậy, ngoài cácgiá trị sử dụng mà đồng tiền đã có với tư cách là tiền, tiền còn có một giá trị sửdụng khác nữa là làm chức năng tư bản Lúc đó, giá trị sử dụng của tiền chính là
ở chỗ nó sản sinh ra lợi nhuận, tiền trở thành hàng hoá, nhưng là một loại hànghoá đặc biệt Khi người đi vay, vay tiền của người khác thì anh ta phải trả mộtphần lợi nhuận cho người sở hữu số tiền ấy gọi là lợi tức Chẳng hạn: A là ngườicho vay, B là người đi vay Thì trong tay B tiền đã thực sự trở thành tư bản, nótrải qua vòng tuần hoàn T - H - T' và trở về với A dưới hình thức T' hay (T +
Trang 10T), T chính là lợi tức Sự vận động là T - T - H - T' - T Ở đây có sự diễn đidiễn lại hai lần: 1 việc chi tiền ra làm tư bản; 2 Việc tiền quay trở về với tưcách là tư bản đã được thực hiện, với tư cách là T' = T + T này là số tiền trộilên, chính là giá trị thặng dư đã được thực hiện.
Ta xét trong nền kinh tế thị trường, khai niệm "tiền đẻ ra tiền" được xemnhư là một quy luật Chính đặc tính này của tiền mà tư bản được đem nhượng đikhi nó được đem cho vay với tư cách là tư bản tiền tệ Tiền được bỏ ra với tưcách là tư bản có đặc tính là quay trở về tay người đã bỏ tiền ra T - H - T', khôngnhững thế nó còn giữ nguyên được giá trị, đồng thời lại lớn lên trong quá trìnhvận động Như vậy cho vay tiền là hình thái thích ứng với việc đem tiền nhượng
đi với tư cách là tư bản chứ không phải là tư cách tiền là hàng hoá Điều này tácđộng đến những người có tiền nhàn rỗi muốn có thêm thu nhập Qua đó Ngânhàng thực hiện được vai trò rất quan trọng của mình, góp phần vào quá trình chuchuyển vốn nằm rải rác trong dân cư để trở thành nguồn vốn lớn mà nhu cầu đầu
tư trong nền kinh tế đòi hỏi
Nhưng một câu hỏi được đặt ra, động lực của Ngân hàng khi thực hiện vaitrò đó là gì? Ta thử xét nó ở góc độ Ngân hàng là người đi vay: tiền được vayvới tư cách là tư bản, với tư cách là một giá trị thặng dư tăng thêm Nhưng lúcđầu nó chỉ là tư bản tự nó - cũng giống như mọi tư bản ở điểm xuất phát của nó -lúc nó được ứng ra Chỉ thông qua việc sử dụng tiền, nó mới sinh sôi nảy nởthêm ra và mới được thực hiện với tư cách là tư bản Nhưng người đi vay tiềnphải hoàn lại tiền với tư cách là tư bản đã được thực hiện, nghĩa là với tư cách làmột giá trị đã có thêm giá trị thặng dư (lợi tức) và lợi tức này chỉ có thể là mộtphần lợi nhuận mà người đi vay đã thực hiện được Chỉ một phần thôi chứkhông phải toàn bộ Bởi vì đối với người đi vay giá trị sử dụng chính là lợinhuận đã được sản xuất ra Nếu không thì phía người cho vay đã không có sựnhượng đi giá trị sử dụng đó Mặt khác lợi nhuận cũng không thể thuộc tất cả vềngười đi vay Nếu không như thế, thì hoá ra anh ta hoàn lại người cho vay số
Trang 11tiền đã bỏ ra chỉ đơn thuần với tư cách là tiền chứ không phải với tư cách là tưbản đã được thực hiện.
2 Vai trò của huy động vốn qua Ngân hàng
2.1 Góp phần tiết kiệm chi phí xã hội, tạo những điều kiện thuận lợi cho
cá nhân và tổ chức xã hội
Quá trình huy động vốn của Ngân hàng chính là quá trình tích tụ và tậptrung các nguồn vốn trong xã hội, sau đó cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn chosản xuất, đầu tư và phát triển kinh tế Cho nên huy động vốn kịp thời đã tiếtkiệm thời gian, chi phí nguồn lực, đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thônghàng hoá, tăng hiệu quả sử dụng vốn
Đối với những người tiết kiệm thì thu thêm được một phần lãi từ tiền gửicủa mình
2.2 Huy động vốn làm gia tăng vốn trong nước, kích thích huy động vốn nước ngoài
Nguồn vốn huy động từ Ngân hàng Thương mại gồm: trong nước và vốn từnước ngoài Trong đó vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quantrọng
Xét về bản chất, huy động vốn từ các Ngân hàng Thương mại là trực tiếplàm cho quy mô tích luỹ trong nước ngày càng tăng chuyển tối ta nguồn vốnđang nhàn rỗi thành nguồn vốn hữu ích có khả năng sinh lời Còn huy động vốnnước ngoài có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt làtrong điều kiện kinh tế nước ta còn nghèo, thiếu vốn mà nhu cầu đầu tư pháttriển lại cao