1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tranh chấp hợp đồng bảo hiểm docx

17 1,7K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 111 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 567 Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005 có định nghĩa: “hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoả

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Trong đời sống không phải lúc nào quan hệ xã hội cũng diễn ra theo ý chí chủ quan của các bên tham gia Trong một số trường hợp vì một lí do khách quan nào đó mà tính mạng, tài sản hay nghĩa vụ phải làm một công việc không thể thực hiện được hoặc trong quá trình thực hiện xảy ra thiệt hại Để khăc phục một phần thiệt hại do những rủi ro xảy ra với tính mạng, tài sản, trách nhiệm dân sự, Nhà nước khuyến khích cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm Bảo hiểm là một hình thức khắc phục thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi gặp những sự kiện gây thiệt hại rủi ro đến tài sản, tính mạng của mình Khi có thiệt hại xảy ra người mua bảo hiểm được tổ chức bảo hiểm bồi thường để khắc phục những thiệt hại xảy ra Mức độ bồi thường bao nhiêu phụ thuộc vào hợp đồng bảo hiểm mà các bên thỏa thuận

B NỘI DUNG

I, Cơ sở lí thuyết

Những quy định về hợp đồng bảo hiểm được nhà nước ta quy định không những trong Bộ luật dân sự mà còn được ghi nhận trong Luật kinh doanh bảo hiểm Điều 567 Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005 có định nghĩa:

“hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.” Như vậy, hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng song vụ (doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thông báo bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin về tình trạng của đối tượng bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm), ngoài ra hợp đồng bảo hiểm cũng là một hợp đồng có đền bù Trong một số trường hợp hợp đồng bảo hiểm còn là hợp đồng vì lợi ích người thứ ba khi

Trang 2

bên mua bảo hiểm không phải cho mình mà cho người thứ ba (như bố mẹ mình)…

Qua đó ta có thể thấy hợp đồng bảo hiểm gồm hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Con người là đối tượng của bảo hiểm được hiểu là tính mạng, sức khỏe của

cá nhân bị tổn thất do sự kiện rủi ro Tài sản bảo hiểm là tài sản cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác được bên bảo hiểm bồi thường thiệt haị

do các sự kiện bảo hiểm xảy ra Còn trách nhiệm dân sự là đối tượng bảo hiểm được hiếu là bên bảo hiểm phải thực hiện bồi thường thay cho chủ các phương tiện giao thông vận tải… trong phạm ví số tiền được bảo hiểm do thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Bảo hiểm có hai hình thức cơ bản là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (ví dụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới) là bảo hiểm tự nguyện còn phần lớn các bảo hiểm con người và bảo hiểm tài sản là bảo hiểm tự nguyện

Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm được quy định từ điều đến điều trong bộ luật dân sự 2005 và từ điều đến điều tại luật kinh doanh bảo hiểm Tạo cơ sở pháp lí cho các chủ thể khi muốn giao kết một hợp đồng bảo hiểm

II, Một số tình huống cụ thể về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

1, Tình huống một: Bản án số 21/2007/KDTM – ST ngày 5.3.2007(tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản)

- Nguyên đơn : công ty cổ phần vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thông

Trụ sở: 83 Lí Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Do ông; Phạm Tuấn Minh đại diện theo ủy quyền

- Bị đơn: công ty cổ phần bảo hiểm viễn thông

Trang 3

Trụ sở; 46 Trần Huy Liệu, quận phú nhuận, TP Hồ Chí Minh

Do ông; Thái Văn Cách đại diện theo giấy ủy quền số 153 ngày 23.12.2005

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: luật sư – đoàn luật sư

Hà Nội

1.1 Nội dung vụ án:

Ngày 20.12.2004, nguyên đơn được bị đơn – công ty cổ phần bảo hiểm viễn thông chi nhánh tại Hà Nội cấp đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số 04/01/KD2/91130/0011 – để công ty mua bảo hiểm cho lô hàng

72 chiếc xe máy nguyên chiếc, mới 100% mà nguyên đơn vận chuyển cho khách hàng từ Đồng Nai đến Hà Tây Trên đường vận chuyển đến địa phận

xã Mỹ Trinh, Huyện Phú Mỹ tỉnh Bình định lô hàng bị tổn thất hoàn toàn do

bị cháy vào thời điểm 11h00’ cùng ngày 20.12.2004

Nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn – công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Thông thanh toán bồi thường giá trị lô hàng đã được bảo hiểm là 916.363.656 đồng nhưng bị đơn không đồng ý Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán các trả nguyên đơn các khoản như sau:

 Tiền bảo hiểm 916.363.656

 Lãi chậm trả theo quy định

Phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn với lí do:

- Người được bảo hiểm đã vi phạm điều 55 quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Cụ thể: xếp hàng sai quy cách an toàn về

“hàng hóa nguy hiểm” khi vận chuyển – đó là còn để xăng trong xe máy

và bịt thùng xe tải kín quá

- Hợp đồng được giao kết(được bên được bảo hiểm nhận) vào 11giờ 00’ ngày 20.12.2004 Tại thời điểm này tài sản được bảo hiểm không còn tồn tại vì tổn thất đã xảy ra trước 11 giờ 00’ ngày 20.12.2004

Trang 4

Căn cứ nội dung đơn yêu cầu bảo hiểm của mẫu do bị đơn phát ra, ngày 20.12.2004 bị đơn đã đồng ý nhận bảo hiểm cho lô hàng của nguyên đơn vận chuyển là 72 chiêc xe hiệu STAR nguyên chiếc 100% với quãng đường vận chuyển từ kho VMEP Đồng nai đến kho VMEP Hà Tây Số tiền được bảo hiểm là 916.363.656 đồng Điều kiện bảo hiểm theo quy tắc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam và không bảo hiểm cho mọi rủi ro xảy ra trước 11h00’ ngày 20.12.2004 Tỷ lệ bảo hiểm là 0,1% đã bao gồm VAT với số tiền phải nộp là 916.000 đồng

Nguyên đơn xác định đơn bảo hiểm đã được bị đơn chấp nhận trước 11h00’ ngày 20.12.2004

Phía bị đơn cho rằng; khoảng 11h10’ bị đơn mới nhận được điện thoại của nguyên đơn xin mua bảo hiểm Thời gian này lô xe 72 chiếc STAR đã phát cháy trong Bình Định Như vậy nguyên đơn có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm

- Về việc xác định thời điểm cháy:

Phía nguyên đơn khẳng định vụ cháy xảy ra sau 11h00’ ngày 20.12.2004 Phía bị đơn khẳng định vụ cháy xảy ra trước 11h00’ ngày 20.12.2004

Theo lời khai của ông Hà Văn Phương-chủ quán cơm Phương Hoa khi nhìn thấy xe bốc khói từ xe ô tô cách quán cơm của ông 100m, ông đã gọi điện báo cho cánh sát phòng cháy chữa cháy

Theo lời khai của ông Phan Thành Nhân – lái xe 29S – 1059: Khi phát hiện phía đằng sau xe có khói không màu, không mùi, xe của anh cách quán cơm Phương Hoa khoảng 150m đến 200m Anh cho xe chạy với tốc độ khoảng 50km đến 60km/h để đến quán cơm Phương Hoa có nước chữa cháy

Theo xác minh của công an tỉnh Bình Định thì nhận được tin báo cháy qua điện thoại lần một là 11h03’06”, lần hai là 11h06’7” ngày 20.12.2004

Trang 5

Tại biên bản làm việc ngày 8.12.2006 giữa tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội với nhà máy VMEP Đồng Nai là đơn vị sản xuất 72 chiếc xe máy STAR được vận chuyển từ nhà máy VMEP Đồng Nai đến VMEP Hà Tây trên xe ô tô biển kiểm soát 29S-1059 là xe mới 100% hoàn toàn không có xăng

1.2 Quyết định của tòa:

Căn cứ điểm i khoản 1 điều 29, điểm b khoản 1 điều 36, khoản 1 điều 131, điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự

Căn cứ điều 15, điều 30 Luật kinh doanh bảo hiểm

Căn cứ điều 15, 19 nghị định 70/NĐ-CP ngày 12.6.1997 của Chính phủ quy định về lệ phí án phí Tòa án

Căn cứ điểm 1 mục III Thông tư lien tịch số 01/TTLT ngày 19.6.1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính hướng dẫn việc thi hành án về tài sản

Xử:

1 Chấp nhận đơn kiện của công ty vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thông

2 đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển số 04/01/KD2/91139/0011 ngày 20.12.2004 có hiệu lực

3 Buộc công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông chi trả cho công ty vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thông số tiền bảo hiểm là 916.363.656 đồng và 233.588.000 đồng tiền lãi Tổng cộng 1.149.943.656 đồng

Kể từ khi án có hiệu lực, công ty vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thong có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông chưa trả hết số tiền trên thì hàng tháng Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Thông còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất tín dụng quá hạn do Ngân

Trang 6

hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa trả cho đến khi trả xong

4 Bác các yêu cầu khác của các đương sự

5 án phí:

- Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông chịu 28.149.943 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm

- Công ty vật tư vận tải và xây dựng công trình giao thông được hoàn lại 13.000.000 đồng dự phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 7168 ngày 27.5.2005 của Phòng thi hành án thành phố Hà Nội

1.3 Nhận xét của nhóm:

Trước hết về việc xác định thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

mà hai bên đã kí: Trong vụ việc này bị đơn đã đưa ra mẫu đơn yêu cầu bảo hiểm để nguyên đơn điền vào nội dung yêu cầu Sau đó bị đơn xác nhận chấp nhận yêu cầu đó và giao lại cho nguyên đơn – bên được bảo hiểm Theo quy trình trên thì thời điểm bị đơn kí đóng dấu chấp nhận vào đơn có nội dung yều cầu của nguyên đơn chính là thời điểm giao kết hợp đồng Do

đó, cần dựa trên cơ sở điều kiện thời gian bảo hiểm tại đơn yêu cầu để xác định thời điểm giao kết hợp đồng là 11h00’ ngày 20.12.2004

Ta có thể thấy theo quy định tại điều 32 Luật phòng cháy chữa cháy, thông tin báo cháy bằng hiệu lệnh hoặc bằng điện thoại Mà theo xác minh của công an tỉnh Bình Định thì nhận được tin báo cháy qua điện thoại lần một là 11h03’6’’ ngày 20.12.2004 Điều 41 khoản 2 quy định: Cảnh sát phòng cháy chữa cháy có trách nhiệm lập hồ sơ vụ án cháy, đánh giá hậu quả vụ cháy, tham gia khám nghiệm hiện trường và xác định nguyên nhân gây ra cháy Tại bản kết luận số 11/BKL- PC23 ngày 19.1.2005 đã ghi nhận

“hồi 11h10’ ngày 20.12.2004 đội cảnh sát phòng cháy chữa cháy Hoài Nhân

Trang 7

thuộc phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy tỉnh Bình Định nhận tin báo cháy xảy ra cháy ô tô biển kiểm soát 29S-1059”

Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định 72 chiếc xe máy STAR được vận chuyển trên xe ô tô biển kiểm soát 29S-1059 xảy ra cháy sau 11h00’ ngày 20.12.2004

Ngoài ra bên bị đơn không đồng ý bồi thường cho nguyên đơn với lí

do xếp hàng sai quy cách an toàn về “hàng hóa nguy hiểm” khi vận chuyển –

đó là còn để xăng trong xe máy và bịt thùng xe tải quá kín Nhưng trên thực

tế theo nhà máy VMEP Đồng Nai là đơn vị sản xuất thì 72 chiếc xe được vận chuyển trên xe ô tô mang biển kiểm soát 29S-1059 là xe mới 100% hoàn toàn không có xăng Hơn nữa căn cứ nghị định số 13/2003/NĐ-CP ngày 19.2.2003 của Chính phủ thì xe máy không phải là hàng hóa nguy hiểm Vậy hai lí do mà bên bị đơn đưa ra để từ chối bồi thường bảo hiểm cho bên nguyên đơn là hoàn toàn không có căn cứ pháp lí chính xác Do đó phán quyết của tòa là phù hợp với những chứng cứ thu được cũng như các quy định về hợp đồng bảo hiểm trong bộ luật dân sự, luật kinh doanh bảo hiểm

và một số văn bản có liên quan khác

2, Tình huống hai: Bản án số: 59/2007/KDTM -PT Ngày 25 tháng 6 năm 2007(tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người)

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh Ngoan – sinh năm: 1978

- Bị đơn: Công Ty TNHH Bảo Hiểm Nhân Thọ PRUDENTIAL Việt Nam

2.1 Nội dung vụ án:

Ông Hồ Văn Đằng cha của bà Hồ Thị Thanh Ngoan có ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 70927726 với Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ

Trang 8

Prudential Việt Nam và có hiệu lực từ ngày 15/11/2003, hợp đồng đã tuân thủ các điều kiện của pháp luật Trong quá trình đóng phí bảo hiểm, ông Đằng cũng có vi phạm nghĩa vụ nộp phí, nhưng sau đó ông có yêu cầu khôi phục hợp đồng và được Công ty kinh doanh bảo hiểm chấp nhận Đến ngày 11/8/2006, ông Đằng bị bệnh chết thì hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực

và hai bên cũng không có văn bản nào đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc đình chỉ hợp đồng

Nay bà Ngoan là người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm hợp pháp của ông Đằng: Yêu cầu Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam

có văn phòng đại diện tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trả cho bà tiền bảo hiểm theo hợp đồng 70927726 với số tiền 30.000.000đồng

Theo đại diện bị đơn Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam trình bày:

Công ty thừa nhận việc ông Hồ Văn Đằng có ký hợp đồng mua bảo hiểm nhân thọ số 70927726 có hiệu lực từ ngày 15/11/2003, ngày đáo hạn 15/11/2018, phí bảo hiểm định kỳ 3 tháng là 560.900 đồng Trong thời gian thực hiện hợp đồng, ông Đằng đã 3 lần vi phạm về thời gian nộp phí, mỗi lần vi phạm ông Đằng đều có phiếu yêu cầu khôi phục hợp đồng và Công ty

đã chấp nhận Tuy nhiên, theo hợp đồng bảo hiểm thì khi có yêu cầu khôi phục lại hợp đồng, thì người mua bảo hiểm phải khai báo đầy đủ tình trạng sức khỏe, nhưng ông Đằng đã không thực hiện đúng việc khôi phục hợp đồng ở lần 2 ngày 6/5/2005, nên Công ty không đồng ý trả lại số tiền đã nộp

từ ngày đó cho đến lần cuối cùng khi ông Đằng chết

Trang 9

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2007/KDTM- ST ngày 10/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang:

Xử :

 Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam có văn phòng đại diện tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang phải trả tiền bảo hiểm cho bà Hồ Thị Thanh Ngoan 30.000.000 đồng

 Đồng thời, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật

Ngày 21/3/2007, bị đơn Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý bản án sơ thẩm, xin xét

xử lại

Tại phiên toà, ông Đặng Ngọc Châu đại diện Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý trả tiền bảo hiểm 30.000.000đ cho bà Hồ Thị Thanh Ngoan như quyết định của bản án sơ thẩm

Đại diện Công ty TNHH bảo hiểm Prudential vẫn giữ nguyên ý kiến

đã trình bày ở cấp sơ thẩm, nêu rằng phía người mua bảo hiểm là ông Hồ Văn Đằng đã vi phạm nghĩa vụ khai báo trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nên Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ sau khi ông Hồ Văn Đằng chết Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang chỉ đồng ý thanh toán số tiền, ông Hồ Văn Đằng đã đóng phí bảo hiểm từ khi khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm lần thứ hai đến ngày ông Hồ Văn Đằng chết, cụ thể là : 3.921.300đ

Trang 10

2.2 Quyết định của tòa:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ

Sau khi tranh luận và nghị án

* Ap dụng điều 270 Bộ luật tố tụng dân sự:

- Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà Hồ Thị Thanh Ngoan và Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang

- Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang thanh toán cho bà Hồ Thị Thanh Ngoan phí bảo hiểm 3.921.300đ và hỗ trợ thêm, tổng cộng (cả phí bảo hiểm và hỗ trợ thêm) là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)

- Án phí kinh tế sơ thẩm Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam Chi nhánh An Giang phải nộp 196.000đ (một trăm chín mươi sáu ngàn đồng) Hoàn tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 750.000đ cho bà Hồ Thị Thanh Ngoan (theo biên lai số 039213 ngày 05/12/2006 tại Thi hành án tỉnh An Giang)

- Án phí kinh tế phúc thẩm bà Hồ Thị Thanh Ngoan và Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam mỗi bên phải chịu 100.000đ (Một trăm ngàn đồng)

- Hoàn lại cho Công ty TNHH bảo hiểm Prudential Việt Nam chi nhánh An Giang 100.000đ tiền tạm ứng án phí kháng cáo (theo biên lai số 03925 ngày 30/3/2007 tại thi hành án dân sự tỉnh An Giang), nhưng được khấu trừ vào

số tiền án phí kinh tế sơ thẩm phải chịu

Ngày đăng: 14/08/2014, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w