1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm pháp luật bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm về tài sản giữa công ty TNHH MTV điện lực hải phòng (điện lực hải p

12 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Khái niệm Điều 567 bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 0

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 0

I.Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm 0

1.Khái niệm 0

2.Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm 0

3.Chủ thể của hợp đồng 1

4.Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm 1

5.Hình thức của hợp đồng 2

6.Phân loại hợp đồng 2

II.Vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm về tài sản giữa Cty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng (Điện lực Hải Phòng) ký với Cty CP bảo hiểm Toàn cầu, Chi nhánh Hải Phòng (Cty Toàn cầu) 3

III.Bình luận về việc giải quyết tranh chấp của cơ quan chức năng và đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc 4

IV.Hạn chế trong quy định pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm 7

1.Hạn chế trong quy định pháp luật 7

2.Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 8

2.1.Về phía cơ quan chức năng 8

2.2.Về phía các nhà bảo hiểm 9

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, xu hướng mua bảo hiểm tự nguyện cho tài sản ngày càng phổ biến.Mục đích của việc mua bảo hiểm là khi xảy ra sự cố, tài sản bị hư hại, mất mát… sẽ được phía

Trang 2

bảo hiểm đứng ra bồi thường.Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong các bên đã không thực hiện đúng các điều khoản quy định trong hợp đồng dẫn đến tranh chấp quyền lợi bảo hiểm Vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm về tài sản giữa Cty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng (Điện lực Hải Phòng) ký với Cty CP bảo hiểm Toàn cầu, Chi nhánh Hải Phòng (Cty Toàn cầu) là một ví dụ

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm.

1.Khái niệm

Điều 567 bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

Điều 12 luật kinh doanh bảo hiểm thì: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

2.Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là một loại hợp đồng bảo hiểm trong đó đối tượng được bảo hiểm là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản

3.Chủ thể của hợp đồng.

Bên bảo hiểm: là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình

Bên tham gia bảo hiểm: là bên đã nộp cho bên bán bảo hiểm một khoản tiền khi kí kết hợp đồng

Trang 3

Ngoài ra còn có chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

4.Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm với tư cách là một loại hợp đồng cụ thể trong các hợp đồng dân sự thông dụng nên bên cạnh các đặc điểm chung của một hợp đồng dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng nổi bật như:

Là một hợp đồng chuyển dịch rủi ro Bên tham gia bảo hiểm với mục đích chuyển gánh nặng tài chính do rủi ro xảy ra từ phía mình sang bên nhận bảo hiểm trong trường hợp nếu rủi ro đó được xác định là sự kiện bảo hiểm Bên nhận bảo hiểm chấp nhận gánh nặng tài chính đó về phía mình Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm là sự chuyển dịch rủi ro từ bên tham gia bảo hiểm sang bên nhận bảo hiểm

Là một hợp đồng dịch vụ Hành vi bảo hiểm của bên nhận bảo hiểm là một dịch

vụ, khi bên nhận bảo hiểm nhận một khoản tiền từ người tham gia bảo hiểm nghĩa là bán cho họ một dịch vụ: bảo hiểm cho một đối tượng được xác định trong hợp đồng đó Tuy nhiên, hành vitrong dịch vụ bảo hiểm là một loại hoạt động vô hình, hay nói một cách khác, kết quả của hành vi dịch vụ này không mang tính vật thể như kết quả của hành vi trong các hoạt động dịch vụ khác

Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm là nghĩa vụ có điều kiện.Bất kỳ một hợp đồng dân sự nào nếu được coi là hợp pháp đều làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ dân

sự Theo đó, kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, một quan hệ nghĩa vụ được hình thành, thông thường, các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ đó phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo thời hạn được xác định trong hợp đồng

5.Hình thức của hợp đồng.

Điều 570 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Hình thức hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên

Trang 4

mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm”

Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: Hìnhthức hợp đồng bảo hiểm:

“Hợpđồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản Bằngchứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm,điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định”

6.Phân loại hợp đồng.

Theo tính ý chí của người tham gia bảo hiểm: Hơp đồng bảo hiểm tự nguyện; Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc: (bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; bảo hiểm cháy nổ)

Phân loại theo đối tượng bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm tài sản, Hợp đồng bảo hiểm con người, Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Hợp đồng bảo hiểm kết hợp, Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

Phân loại theo giá trị bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm đúng giá trị, Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị (điều 43 luật kinh doanh bảo hiểm), Hợp đồng bảo hiểm trên giá trị (điều 42 luật kinh doanh bảo hiểm)

Phân loại theo số lượng doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận: một tài sản là đối tượng bảo hiểm của một doanh nghiệp bảo hiểm, một tài sản là đối tượng bảo hiểm của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm (bảo hiểm trùng)

Trang 5

II.Vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm về tài sản giữa Cty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng (Điện lực Hải Phòng) ký với Cty CP bảo hiểm Toàn cầu, Chi nhánh Hải Phòng (Cty Toàn cầu).

Ngày 24/11/2009, Cty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng (Điện lực Hải Phòng) ký với Cty CP bảo hiểm Toàn cầu, Chi nhánh Hải Phòng (Cty Toàn cầu) một hợp đồng bảo hiểm cháy nổ máy biến áp (MBA) số GT0001/09 LG31TS

Hồi 23h30 ngày 21/09/2010, MBA 110KV - 25 MVA tại trạm 110KV ở trạm Thủy Nguyên 2 bị sự cố chập cháy bên trong thân máy.Tài sản này đã được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm mà 2 bên đã ký kết

Quá trình tổn thất MBA, cả 2 bên đã có nhiều biên bản giám định: nguyên nhân sự

cố MBA là do cháy Thể hiện bằng nhiều biên bản giám định, biên bản kiểm tu của Cty TNHH Giám định và Tư vấn kỹ thuật Raco (do bên bảo hiểm chỉ định ủy quyền) với các biên bản liên quan Tất cả các biên bản đều có chung kết luận: Pha A: Vòng galet số 02

có dấu hiệu xô lệch, bám muội đen Pha B: Kiểm tra bằng mắt thường không có dấu hiệu bất thường Chập ngắn mạch vòng galet số 29 – 30 do phóng hồ quang phát nhiệt, galet

từ số 24 đến 32 bị ám muội đen và mạt đồng

Tuy nhiên, đến ngày 4/11/2011, Cty Toàn Cầu có văn bản số 002/2010/ CV – GIC – TS cho rằng: “Sự cố bên trong MBA (đổ vỡ máy móc), không phát sinh cháy nổ…”, nên không thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm cháy - nổ bắt buộc Quan điểm này của Cty Toàn Cầu đi ngược lại kết quả giám định của các bên liên quan tại các bản giám định nói trên

Đại diện của 2 Cty này đã có Biên bản làm việc ngày 06/09/2011 về việc: xác định trách nhiệm bồi thường bảo hiểm Theo đó, 2 bên đã thỏa thuận: Do bên bảo hiểm chưa

có chứng thư giám định nguyên nhân tổn thất MBA, mà chỉ có báo cáo giám định ngày 26/11/2011 của Raco gửi riêng cho bên bảo hiểm để tư vấn cho một bên Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của bên A (bên mua bảo hiểm) Cty Toàn Cầu chấp nhận để Cty Điện lực Hải Phòng trưng cầu giám định của một Cty giám định độc lập: “Nếu nguyên nhân tổn

Trang 6

thất thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường bảo hiểm thì bên B sẽ cam kết giải quyết nội dung của hợp đồng 2 bên đã ký và các quy định của pháp luật có liên quan”

Sau khi có thỏa thuận trưng cầu giám định của cả 2 bên, Cty Điện lực Hải Phòng

đã trưng cầu giám định tại Cty CP giám định Đại Tây Dương - Hải Phòng Đây là đơn vị

có chức năng giám định độc lập, cấp chứng thư giám định theo quy định của pháp luật Sau khi làm việc nghiêm túc, chứng thư giám định số 2126 – 01TN/2011A cấp ngày 25/10/2011 của Cty CP giám định Đại Tây Dương kết luận: Nguyên nhân tổn thất MBA

là do cháy Ông Lương Mạnh Hùng – Đại diện Cty Điện lực Hải Phòng cho biết: “Cty chúng tôi đã nhiều lần có văn bản mời Cty Toàn Cầu đến làm việc để công bố về nội dung giám định nói trên, nhưng Cty Toàn Cầu vẫn thoái thác, không đến làm việc và loanh quanh trả lời bằng các văn bản tham vấn của các bên không liên quan

Ngày 07/05/2012, đại diện Cty Điện lực Hải Phòng và Cty CP Bảo hiểm Toàn Cầu

đã có biên bản làm việc về thỏa thuận giải quyết bồi thường bảo hiểm giữa 2 bên Theo

đó, toàn bộ chi phí sửa chữa, khắc phục tổn thất MBA, chi phí vận chuyển MBA (từ Hải Phòng đi Đông Anh-Hà Nội) để sửa chữa 02 chiều tổng cộng là 2.258.794.000 VND Tuy nhiên, Cty CP bảo hiểm Toàn Cầu vẫn giữ quan điểm không bồi thường bảo hiểm Cty Điện lực Hải Phòng đã có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền - Hải Phòng đối với Cty Toàn Cầu Tại bản án số 01/2012/ KDTM – ST ngày 26/9/2012, TAND quận Ngô Quyền kết luận: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cty Điện lực Hải Phòng Buộc Cty Toàn Cầu phải trả số tiền bảo hiểm là 2.206.106.259 đồng cho Cty điện lực Hải Phòng Tuy nhiên, phía Cty Toàn Cầu vẫn không chấp nhận kết luận của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền Dẫn tới việc, hai bên liên quan tiếp tục có đơn kháng cáo

III.Bình luận về việc giải quyết tranh chấp của cơ quan chức năng

và đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc.

Việc TAND quận Ngô Quyền quyết định Tại bản án số 01/2012/ KDTM – ST ngày 26/9/2012,: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cty Điện lực Hải Phòng Buộc Cty

Trang 7

Toàn Cầu phải trả số tiền bảo hiểm là 2.206.106.259 đồng cho Cty điện lực Hải Phòng”

là đúng pháp luật Dựa vào các căn cứ sau đây:

Hợp đồng bảo hiểm cháy nổ giữa Công ty Điện Lực Hải Phòng và Công ty bảo hiểm Toàn Cầu là hợp pháp ký ngày 24/11/2009 là hợp pháp

Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa hai bên đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự: Chủ thể giao kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, về nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng được giao kết dựa trên ý chí tự nguyện của hai bên và hình thức hợp đồng đúng quy định pháp luật (Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005)

Xem xét quy định về đối tượng được bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm tại Hợp đồng bảo hiểm: Theo thỏa thuận giữa hai bên, đối tượng bảo hiểm là máy biến áp số GT0001/09 LG31TS, tài sản này là vật có thực thuộc sở hữu của bên mua bảo hiểm Sự kiện bảo hiểm do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng được giới hạn trong phạm vi sự cố cháy nổ máy biến áp.Trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, tháng 9-2010, máy biến áp tại Trạm 110 KV Thủy Nguyên 2 (tài sản đã được bảo hiểm) xảy ra sự cố Như vậy, rủi

ro xảy ra trong thời hạn bảo hiểm

Điều trọng yếu cần xem xét trong tranh chấp này là rủi ro của Điện lực Hải Phòng

có phải do nguyên nhân cháy nổ hay không và sự kiện bảo hiểm này có đảm bảo yếu tố khách quan hay không?

Để trả lời cho câu hỏi này: GIC mời Công ty TNHH giám định và tư vấn kỷ thuật RACO xem xét, giám định Văn bản kết luận ban đầu của RACO kết luận sự cố máy biến

áp Thủy Nguyên 2 là do cháy, nhưng văn bản sau lại cho là đổ vỡ bên trong nên GIC có văn bản từ chối trách nhiệm bảo hiểm với lý do “sự cố bên trong máy biến áp, không phát sinh cháy nổ” Để bảo đảm quyền lợi của bên mua bảo hiểm, GIC chấp nhận Điện lực Hải Phòng trưng cầu giám định của một công ty độc lập nhưng phải thông báo cho GIC Nếu nguyên nhân tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường bảo hiểm thì GIC sẽ bồi thường theo nội dung của hợp đồng hai bên đã ký và các quy định của pháp luật có liên

Trang 8

quan Sau đó, Điện lực Hải Phòng trưng cầu Công ty cổ phần Giám định Đại Tây Dương giám định và có kết luận: nguyên nhân tổn thất máy biến áp là do sự cố cháy Khi Công

ty cổ phần giám định Đại Tây Dương có chứng thư giám định, GIC chi nhánh Hải Phòng gửi chứng thư giám định này cho Công ty TNHH giám định và tư vấn kỹ thuật RACO Công ty TNHH giám định và tư vấn kỹ thuật RACO có văn bản hỏi Viện khoa học hình

sự (Bộ Công an).Viện khoa học hình sự cho rằng không có sự cháy trong môi trường ngâm trong dầu

Khi phân tích sự khác nhau giữa các bản giám định, có thể nhận thấy chính các văn bản của RACO đã mâu thuẫn nhau.Song, RACO lại hỏi Viện khoa học kỹ thuật hình sự, như vậy, kết quả trả lời này chưa thật khách quan Vì vậy, không thể dùng kết quả trao đổi của Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công an với RACO làm căn cứ để giải quyết

vụ án được Còn về chứng thư giám định của Công ty cổ phần giám định Đại Tây Dương, Công ty cổ phần giám định Đại Tây Dương có văn bản giữ nguyên chứng thư giám định trên và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định này Như vậy, theo quy định của pháp luật, chứng thư giám định của Công ty cổ phần giám định Đại Tây Dương có giá trị pháp lý đối với các bên trong hợp đồng và là căn cứ để giải quyết vụ án Do đó, sự cố máy biến áp tại Trạm Thủy Nguyên 2 là do cháy, nên theo hợp đồng bảo hiểm về cháy, nổ thì Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu chi nhánh Hải Phòng phải có trách nhiệm bồi thường Như vậy, theo điểm c khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm: “ Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm” thì phương án giải quyết của TAND quận Ngô Quyền buộc GIC bồi thường thiệt hại cho Điện lực Hải Phòng là hợp lý, đúng quy định pháp luật

Bởi những căn cứ này, Việc công ty Bảo hiểm Toàn Cầu từ chối thực hiện chi trả tiền bảo hiểm là vi pháp pháp luật Do đó, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của tòa án về vấn đề này

Trang 9

IV.Hạn chế trong quy định pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm.

1.Hạn chế trong quy định pháp luật.

Bộ luật dân sự năm 2005 nói chung và Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 4 năm 2001 là những cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lợi và lợi ích chính đáng của các bên khi tham gia bảo hiểm Ở một phương diên rộng lớn nó đã tạo ra một môi trường pháp lý khá thông thoáng và ưu đãi cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã thể hiện được vai trò là một công cụ bảo đảm tài chính hữu hiệu cho các cá nhân, gia đình và các doanh nghiệp.Ngoài ra bảo hiểm còn là một kênh huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân một cách có hiệu quả

Thế nhưng những quy định về vấn đề bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm tài sản nói riêng đã bộc lộ những hạn chế nhất định

Pháp luật hiện hành chưa quy định hợp lý về các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, quy định trường hợp daonh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Theo Điều 6 Luật Kinh doanh bảo hiểm: Điềukhoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm:

“1.Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảohiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm.

2.Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồngbảo hiểm.Doanhnghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng.

3.Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sauđây:a)Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý; b)Bên mua bảo hiểm có lý do

Trang 10

chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệpbảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

Quy định tên chỉ giới hạn đối tượng là “người mua bảo hiểm” Điều này chỉ có thể đúng với loại hình bảo hiểm tài sản hay bảo hiểm trách nhiệm dân sự còn đối với bảo hiểm con người thì đối tượng là “người được bảo hiểm” và “người thụ hưởng” chưa được đề cập đến

Riêng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, khoản 1 Điều 39 quy định về các

trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không trả tiền bảo hiểm như sau: “a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 2 (hai) năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng tiếp tục có hiệu lực;b) Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;c) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.”

Rõ ràng, những quy định này đều nhằm đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp bảo hiểm, chống lại các trường hợp trục lợi bảo hiểm mà không đứng về phía người tham gia bảo hiểm

2.Kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

2.1.Về phía cơ quan chức năng.

Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng

Đề nghị thống nhất quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong tại một điều luật và quy định rõ doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm trong trường hợp rủi ro xảy ra đối với người được bảo hiểm do một trong các nguyên nhân sau:

Hành vi phạm tội và/hoặc hành vi cố ý vi phạm pháp luật khác của Người được bảo hiểm

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w