Ở miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc cho nhung hươu Lộc nhung tốt hơn nhung nai Mê nhung; ở miền Trung nước ta và Triều Tiên thì lại chuộng nhung nai hơn vì to hơn.. Liều dùng: Ngày dùng 3
Trang 1LỘC NHUNG
Tên thuốc: Cornu Cervi Pantotrichum
Tên khoa học: Coruu cervi Parvum
Bộ phận dùng: hươu và nai đực mới có sừng Vào cuối mùa hạ, sừng nó rụng đi; đầu mùa xuân sang năm, sừng non mọc lên Sừng non khi mới mọc chừng 5 - 20cm rất mềm, mặt ngoài phủ đầy lông tơ màu nâu nhạt, trong có rất nhiều mạch máu và phát triển rất mau lẹ để thành sừng (gạc) không còn lông da nữa Nhung tốt nhất là thứ chưa phân yên, khổ mềm, thái được toàn bộ, không có xương tảng, không nứt
Nhung đã mọc được một chi đúng phân yên thì đã kém, nếu chi đã hơi dài thì lại càng kém giá trị Ở miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc cho nhung hươu (Lộc nhung) tốt hơn nhung nai (Mê nhung); ở miền Trung nước ta và Triều Tiên thì lại chuộng nhung nai hơn vì to hơn Có người lại cho nhung hươu rừng tốt hơn nhung hươu nuôi Mới đây ở Liên Xô người ta chứng minh nhung hươu nhà có giá trị như nhung hươu rừng
Thành phần hoá học: có nội tiết tố (hormon) gọi là nhung tinh, ở Liên Xô, người ta lấy chất này làm thuốc tiêm, thuốc uống pantocrin; ngoài ra còn có calci phosphat, calci cacbonat, protein, chất keo v.v
Trang 2Tính vị: vị ngọt, hơi mặn, tính ôn
Quy kinh: Vào kinh Thận, Tâm, Can và Tâm bào
tác dụng - Chủ trị: bổ nguyên dương, thuốc tư bổ cường tráng trị hư hao, đau lưng, mỏi gối, mỏi chân tay
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g (Nhung phiến hoặc Bột nhung)
Cách bào chế:
Chế biến nhung tươi: Lúc cắt nhung phải đảm bảo vô trùng, dùng cưa hay dao thật bén mà cắt, đầu treo ngược để khỏi chảy máu Lấy vải bông đã tẩm cồn 90o bọc lại chỗ cắt Lúc cắt cần làm cho hươu nai bình tĩnh không hoảng sợ để máu trong nhung không chảy mạnh làm giảm mất chất Nhung tươi có thể làm sạch lông, thái miếng mỏng ngâm rượu (1/4) mà dùng Cắt xong, treo ngược lên rồi làm khô Việc làm khô rất quan trọng, liên quan đến giá trị và phẩm chất của nhung Có mấy cách sau đây:
+ Lấy giấy bản tẩm rượu gừng (1/10) quấn lại, để nhung đứng ngược trong một cái thùng có đáy dễ tháo ra Lấy cát nóng 30 - 40o xối vào cho ngập nhung (trừ chỗ cắt) Khi cát nguội, tháo cát ra, bọc giấy bản tẩm rượu gừng lại, xối cát khác vào nóng hơn (60 - 70o) Làm như vậy cho đến khô Dùng cát nóng quá thì da ngoài
Trang 3chóng khô nhăn và nứt nhưng trong chưa khô, sau này hỏng Mỗi lần thay cát nên thay giấy bản tẩm rượu (cách này thường dùng)
+ Lấy giấy bản quấn vào nhung, tẩm rượu, treo cao lên bếp cho khô, rồi phơi râm
+ Lấy giấy bản nhúng vào nước gừng có pha rượu quấn vào nhung để 2 giờ, lấy bẹ chuối tươi bó lại Nướng trở cho đều đến khi héo bẹ chuối thì thôi
+ Để nhung lên gác bếp chỗ nóng vừa cho đến khô Làm cách này nhung đen và hôi
+ Có người dự kiến sấy nhung trong tủ sấy giữ nhiệt độ 70 - 80o cho đến khô (dùng nhiệt độ từ thấp lên cao) Khi nhung khô rồi, bọc vào giấy bản đựng trong thùng kín, để chỗ khô ráo Nhung chế biến tốt là không đen, không teo, không nứt, lông mượt, cắt ra thấy hồng đỏ, khi sờ lên có cảm giác như sờ lên miếng sáp Nhung chế biến không tốt thì teo, nứt bị ươn ở trong
Ghi chú:
lúc mới cắt máu chảy ra có thể dùng ngay pha với rượu uống rất bổ, thường dùng cho người có tuổi
Bào chế nhung khô: Lấy bàn chải chải ngược lông cho hết lông có mấy cách:
+ Lấy thanh sắt nung đỏ lăn đi lăn lại trên nhung cho cháy hết lông
Trang 4+ Lấy rượu 90o tẩm qua đốt cho cháy hết lông Làm hết lông rồi, nhưng nếu thấy cứng thì tẩm qua rượu (hay không tẩm) đồ cho mềm (khôngnên đồ kỹ quá), thái miếng tròn càng mỏng càng tốt (dùng đến đâu thái đến đó), tẩm ít rượu sấy nhẹ lửa cho khô (không nên sao) Sau đó tán bột làm hoàn tán hoặc để ăn với cháo hoặc ngâm rượu (1/2) mà dùng
Bảo quản: để nơi khô ráo, trong hộp, lọ kín; Có thể lót bột Long não, Hoa tiêu hay
Tế tân để phòng sâu bọ
Kiêng ky: người bệnh hư hàn thì không nên dùng
LÔI HOÀN
Tên thuốc: Omphalia
Tên khoa học: Omphalia tapidescens Schroeters
Họ Nấm Lỗ (Polyporaceae)
Bộ phận dùng: toàn cục Lôi hoàng là một loại nấm sống gửi ở dưới gốc tre, lâu ngày hoá thành cục (cọ thử vào ngón tay cái hoặc ngón chân cái), vỏ ngoài sắc đen hoặc hơi đen nâu, ở trong sắc trắng, thịt cứng là thứ tốt, cắn vào răng thấy hơi có nước dính, ngậm lâu tan hết, có loại ở trong sắc tím đen, độc không dùng được
Tính vị: vị đắng, tính hàn
Trang 5Quy kinh: Vào hai kinh Tỳ, và Đại trường
Tác dụng: sát trùng, tiêu cam
Chủ trị: trừ sên lãi, cam tích trẻ em
Giun móc và giun đũa: Dùng phối hợp Lôi hoàn với Tân lang và Khổ luyện bì
Liều dùng: Ngày dùng 3 - 6g
Cách bào chế
Theo Trung Y: Lôi hoàng nấu với cam thảo 1 đêm, lấy dao đồng cạo bỏ vỏ đen, chẻ ra làm 4 đến 5 miếng, lại tẩm nước cam thảo một đêm nữa, mang ra đồ 2 giờ rồi đem phơi khô Sau đó tẩm rượu rồi đem phơi khô dùng (Lôi Công Bào Chích Luận)
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Chà rửa cho sạch đất cát, ủ mềm cho đến khi thái được, thái mỏng phơi khô dùng hoặc tán bột dùng
Ngâm nước vo gạo 24 giờ, lấy ra trộn với trấu chà cho sạch đất cát, bổ đôi ba, sấy khô, tán nhỏ để uống với thuốc chín hoặc hoàn tán
Bảo quản: khi thuốc đã chế thành bột nên đựng vào lọ, đậy nút kín Chỉ chế dùng trong thời gian ngắn 10-15 ngày
Trang 6Kiêng ky: không có trùng tích không nên dùng