Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước NSNN là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.. N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN KHOA TCNH&QTKD
Bài tiểu luận:Nhập môn tài chính tiền tệ 2
ĐỀ TÀI
“Tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong
những năm gần đây”
NHÓM 6
LỚP:TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP B_K32 GVHD:ĐẶNG THỊ THƠI
Trang 2MỤC LỤC
I Khái niệm & phân loại
1 Khái niệm ngân sách nhà nước
2 Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước
2.1 Thu-chi ngân sách nhà nước 2.2 Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước(bội chi NSNN)
3 Phân loại thâm hụt ngân NSNN
II Thực trạng bội chi NSNN hiện nay
III Nguyên nhân bội chi NSNN.
IV Giải pháp khắc phục bội chi NSNN
Danh mục từ viết tắt:
NSNN: Ngân sách nhà nước
Danh mục sơ đồ, bảng biểu:
1 Bảng 1:BẢNG CÂN ĐỐI DỰ TOÁN THU, CHI NSNN NĂM 2008
2 Bảng 2: BẢNG CÂN ĐỐI DỰ TOÁN THU, CHI NSNN NĂM 2009
3 BIỂU ĐỒ TỔNG THU, CHI NSNN NĂM 2008 VÀ NĂM 2009
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đưa bội chi đến một mức nhất định Chính phủ Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách
không chỉ ở Việt Nam Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thế nào? Giải pháp để hạn chế và khắc phục
tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ra sao?
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu và làm rõ 3 vấn
đề trên – vấn đề “ Thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam”
I.Khái niệm và phân loại
1 Khái niệm NSNN
Trang 4Ngân sách nhà nước là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, trong đó dự toán con số chi tiêu công mà nhà nước phải tìm kiếm nguồn để tài trợ NSNN phải được quốc hội thông qua hàng năm Luật pháp quản lý ngân sách nhà nước đưa ra những quy tắc về kế toán để theo dõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu công với mục đích để kiểm soát tình hình chi tiêu của nhà nước, tránh được sự phí phạm công chi (các khoản chi tiêu cho những hoạt động không được ghi vào trong ngân sách) để sao cho chi tiêu công của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng những nguồn thu ổn định Về bản chất NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế-xã hội trong quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính
2 Khái niệm thâm hụt NSNN
2.1 Khái niệm thu – chi NSNN
- Thu NSNN là quá trình tổ chức, huy động các nguồn tài chính xã hội vào quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Nguồn tài chính xã hội được huy động vào ngân sách bằng những phương thức và hình thức khác nhau Thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước như: thu thuế(thuế trực thu, thuế gián thu), thu lệ phí, vay nợ của chính phủ, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài
- Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do
đó, chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước
Chi NSNN bao gồm các khoản: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên (chi
sự nghiệp; chi quản lý nhà nước; chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội), chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay
2.2 Khái niêm thâm hụt NSNN
Trang 5Thâm hụt NSNN (bội chi NSNN): là chi NSNN lớn hơn thu NSNN Trong
trường hợp này, thu NSNN không đáp được nhu cầu chi tiêu.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ
lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước Thâm
hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Nói chung nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực
Có thể minh họa NSNN bằng cân đối thu-chi ngân sách như sau:
Thu Chi
A Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)
B Thu về vốn (bán tài sản nước ngoài )
C Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ
- Lấy từ nguồn dự trữ
- Vay thuần(=vay mới trả nợ gốc ), (bằng cho vay mới – thu nợ gốc)
D Chi thường xuyên
E chi đầu tư
F Cho vay thuần
A+B+C=D+E+F
Công thức tính bội chi ngân sách nhà nước của 1 năm sẽ là:
Bội chi ngân sách nhà nước = tổng chi –tổng thu=(D+E+F)-(A+B)=C
Bội chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ(1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu thời kỳ đó
3 Phân loại thâm hụt NSNN
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm
hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.
• Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những
chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,
• Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu
kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu
Trang 6nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng
sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng
trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt, sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu
kỳ kinh tế
II Thực trạng bội chi NSNN hiện nay
Bảng 1:CÂN ĐỐI DỰ TOÁN THU, CHI NSNN NĂM 2008
Tỷ đồng
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 189.300
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 64.500
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể 208.850
4 Chi cải cách tiền lương
28.400
Nguồn bù đắp bội chi
1 Vay trong nước
Trang 751.900
Bảng 2: CÂN ĐỐI DỰ TOÁN THU, CHI NSNN NĂM 2009
Đơn vị: Tỷ đồng
3 Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính
696.300
Nguồn bù đắp bội chi NSNN
Trang 8Biểu đồ tổng thu - chi NSNN năm 2008 và năm 2009
NHẬN XÉT:
Tổng thu năm 2009 tăng 66900 tỷ đồng so với năm 2008 Nhưng tổng chi lại tăng lên đến 92320 tỷ đồng
Bội chi NSNN năm 2009 cao hơn năm 2008 là 20400 tỷ đồng(1,305%)
Năm 2008:
Dự toán chi NSNN năm 2008 tăng 41.580 tỷ đồng so với dự toán năm 2007, trong
đó:
- Tăng chi thực hiện cải cách tiền lương 28.400 tỷ đồng
- Tăng chi khoảng 1.350 tỷ đồng trong chi thường xuyên của NSTW bố trí để nâng mức tiền ăn cho chiến sỹ và hỗ trợ người cận nghèo mua bảo hiểm y tế
- Tăng chi 2.500 tỷ đồng cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, sự nghiệp môi trường, văn hoá-thông tin đảm bảo Nghị quyết của Đảng, Quốc hội (ngoài tăng chi tiền lương trong các lĩnh vực này);
- Dành khoảng 1.000 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương thực hiện chính sách miễn thu thuỷ lợi phí;
- Các khoản tăng chi do NSĐP tăng thu (ngoài tăng chi cải cách tiền lương, tăng chi các lĩnh vực đảm bảo Nghị quyết của Đảng, Quốc hội): Khoảng 6.500 tỷ đồng;
Trang 9Năm 2009:
Dự kiến tổng thu cân đối NSNN năm 2009 là 389.900 tỷ đồng, đạt tỷ lệ động viên 23% GDP, trong đó từ thuế và phí là 21,5% GDP Về cơ cấu thu năm 2009,
dự toán thu nội địa chiếm 59,8% tổng thu NSNN thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 22,6% tổng thu cân đối NSNN
Dự toán chi NSNN năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sách, hướng tới mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, đảm bảo các nguyên tắc:
- Tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điều chỉnh tiền lương, các khoản tăng chi theo tiền lương;
- Bố trí tăng chi dự phòng, dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết;
- Bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục- đào tạo- dạy nghề, y tế, khoa học-công nghệ, văn hoá thông tin, bảo vệ môi trường, nông nghiệp- nông thôn, theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội
- Đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để tiết kiệm; tiếp tục rà soát thắt chặt chi đầu tư XDCB, bố trí dự toán chi thường xuyên cho các
Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008; giảm mức bội chi NSNN dưới 5% GDP
Trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc nêu trên, dự toán chi NSNN năm 2009 là 491.300 tỷ đồng, tăng 23,1% so với dự toán năm 2008
Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện
- Về thu NSNN: Dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro, chưa lường hết; trong đó: Thu nội địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh Thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng và đặc biệt là yếu tố giá đang
có biến động khó lường
- Dự toán chi NSNN đã thực hiện cơ cấu lại để tăng cường an sinh xã hội, nhưng vẫn còn khó khăn: Dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10,1% so
Trang 10với dự toán năm 2008, nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu, đòi hỏi phải rà soát, lựa chọn các công trình, dự án quan trọng để triển khai thực hiện Đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu tư từ các thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế
Một vài số liệu ước tính trong quý 1 năm 2011:
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2011 ước tính 190,1 nghìn
tỷ đồng, bằng 31,9% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa là 123,6 nghìn
tỷ đồng, bằng 32,4%; thu từ dầu thô 26,7 nghìn tỷ đồng, bằng 38,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 38,3 nghìn tỷ đồng, bằng 27,6% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 32,3%; thu từ doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 29,6%; thu thuế công, thương nghiệp ngoài Nhà nước bằng 32%; thuế thu nhập cá nhân bằng 35,6%; thu phí xăng dầu bằng 27,4%; thu phí, lệ phí bằng 23,2%
Tổng chi cân đối ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2011 ước tính 202,2 nghìn tỷ đồng, bằng 27,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 45,6 nghìn tỷ đồng, bằng 30,0%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 130,4 nghìn tỷ đồng, bằng 29,5%; chi trả nợ và viện trợ
26 nghìn tỷ đồng, bằng 30,6%
III Nguyên nhân gây thâm hụt NSNN
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:
1.Thất thu thuế nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ… tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước…điển hình, trong năm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế
Trang 11Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước
2 Đầu tư công kém hiệu quả
Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước Tuy nhiên, trên thực
tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng
3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính
phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích
cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
4.Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế
bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong
dự toán ngân sách hằng năm Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân
Trang 12sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN
5.Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi
ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát
6 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được
sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô Nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không?
IV.Các giải pháp khắc phục thâm hụt NSNN
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam Vậy xử lý bội chi ngân sách như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội, tăng trưởng kinh tế