82 Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, năm 2010 được công nhận là Di sản tư liệu thế giới.B.KHU SINH THÁI TRÀNG AN Không chỉ từng là vùng cố đô của VN với những di tích lịch sử nổi tiếng,
Trang 1BÀI THỰC HÀNH ĐỊA LÝ
A.VIỆT NAM
I- GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM:
Việt Nam (chính thể hiện tại: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là một quốc gia nằm ở phía
đông bán đảoĐông Dương, thuộc khu vựcĐông Nam Á Việt Nam phía bắc giápTrung Quốc, phía tây giápLào vàCampuchia, phía tây nam giápvịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giápbiển Đôngvà có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đượcChính phủ Việt Namxác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²) Trên biển Đông có quần đảoTrường SavàHoàng Sađược Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng vẫn đang bị tranh chấp với các quốc gia khác nhưĐài Loan,Trung
Quốc,MalaysiavàPhilippines
Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Namgiành chiến thắng trước Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai miền Bắc-Nam được thống nhất Ngày 2 tháng 7 năm 1976 nước Việt Nam được đặt Quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việt Nam (tọa độ địa lý: Kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ - 23°23′ Bắc) nằm ở cực Đông Nambán đảo Đông Dương Diện tích phần đất liền khoảng 331.698 km² Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km².[1] Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và Biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Campuchia phía tây Việt Nam hình chữ S và khoảng cách
từ bắc tới nam là khoảng 1.650 km, vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km Với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo Việt Nam tuyên bố 12 hải lý ranh giới lãnh hải, thêm 12 hải lý tiếp giáp nữa theo thông lệ và vùng an ninh, và 200 hải lý làm vùng đặc quyền kinh tế
Đơn vị hành chính: Việt Nam có 63 tỉnh và thành phố.
Quốc kỳ Việt Nam
BẢN ĐỒ VIỆT NAM
Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi
Trang 240%, và độ che phủkhoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa ở miền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9,
và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu gió mùa ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thuvà mùa đông) Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chốngbão và lụt lội với 5 đến 10 cơn bão/năm
Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than
đá, măng gan, bô xít, chrômát, Về tài nguyên biển có dầu mỏ, khí tự nhiên, quặng khoáng sản ngoài khơi Với hệ thống sông dốc đổ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển thủy điện
II- GIỚI THIỆU VỀ CON NGƯỜI VIỆT NAM:
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển Những dân tộc thiểu số, trừ ngườiHoa, người Chăm và người Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân nhất là các dân
tộc Tày, Thái,Mường, Hoa, Khmer, Nùng , mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người Các dân
tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam Việt Nam là một nước đông dân, tuy diện tích đứng hạng
65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về dân số
Trang 3Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam) tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người Vùng ít dân nhất
là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người Theo số liệu ước tính của The World Factbook do CIA công bố thì vào tháng 7 năm 2011, dân số Việt Nam là 90.549.390 người, đứng thứ 14 trên thế giới (Ethiopia vượt lên vị trí 13) [3]
Cũng theo cuộc điều tra thì Việt Nam có khoảng 25,4 triệu người, tương ứng với 29,6% sống ở khu vựcthành thịvà khoảng 60,4 triệu người cư trú ở khu vựcnông thôn Về tỷ số giới tính trung bình hiện nay là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng thấp nhất
là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ[12]
III-THÀNH TỰU NỔI BẬT VỀ KINH TẾ-XÃ HỘI VIỆT NAM:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%.
- Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao Trong 5 năm 2006-2010, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần
45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn
2001-2005 Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16%.
- GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD.
- Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá.
+ Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm
an ninh lương thực quốc gia.
+ Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.
+ Đã chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao.
+ Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch tích cực Cụ thể là: Tỉ trọng khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP từ 41% (năm 2005) tăng lên 41,1% (năm 2010); khu vực dịch vụ từ 38% (năm 2005) tăng lên 38,3% (năm 2010); khu vực nông nghiệp từ 21% (năm 2005) giảm xuống 20,6% (năm 2010); Cơ cấu lao động trong nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005) giảm xuống 48,2% (năm 2010); trong công nghiệp và xây dựng từ 18,2% (năm 2005) tăng lên 22,4% (năm 2010); dịch vụ từ 24,7% (năm 2005) tăng lên 29,4% (năm 2010).
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hóa thành luật pháp,
Trang 4cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và các loại thị trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có bước phát triển mạnh.
- Việc kiện toàn các tổng công ty, thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đạt một
số kết quả Giai đoạn 2006-2010 doanh nghiệp nước ta tăng hơn 2,3 lần về số doanh nghiệp và 7,3 lần về số vốn so với 5 năm trước Doanh nghiệp cổ phần trở thành hình thức
tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến.
III-DI SẢN VIỆT NAM:
Hiện tại, Việt Nam đã có 7 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:
2 Di sản thiên nhiên thế giới:
Vịnh Hạ Long, được công nhận hai lần, năm 1994, là di sản thiên nhiên thế giới, và năm 2000, là di sản địa chất thế giới theo tiêu chuẩn N (I) (III)
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chuẩn N (I)
5 Di sản văn hóa thế giới gồm:
Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (III) (IV)
Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (V)
Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (III)
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản văn hóa thế giới t
heo tiêu chuẩn C (II) (III) và (VI)
Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (I)
Các danh hiệu được UNESCO công nhận khác đôi khi cũng được xếp vào di sản thế giới gồm:
Cao nguyên đá Đồng Văn, năm 2010 được gia nhập mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu do unesco công nhận
Nhã nhạc cung đình Huế, Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại
Dân ca quan họBắc Giang và Bắc Ninh, Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận Quan họ là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại diện của nhân loại
Ca trù, Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa kiệt tác truyền khẩu phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp
Hội Gióng ở Phù Đổng và đền Sóc, năm 2010 được công nhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại
Mộc bản triều Nguyễn, năm 2009 được công nhận là Di sản tư liệu thế giới
Trang 5 82 Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, năm 2010 được công nhận là Di sản tư liệu thế giới.
B.KHU SINH THÁI TRÀNG AN
Không chỉ từng là vùng cố đô của VN với những di tích lịch
sử nổi tiếng, những lễ hội lâu đời gắn liền với ba triều đại
phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của dân tộc: Đinh,
tiền Lê và Lý, Ninh Bình còn được mệnh danh là “Hạ Long
cạn” với vẻ tuyệt mỹ của phong cảnh núi non, hang động,
thung nước và rừng cây.
Tràng An là một quần thể danh thắng thuộc tỉnh Ninh Bình,
gồm hệ thống dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra các hồ, đầm
thông nhau bằng những hang động xuyên thủy Trong danh
thắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng
trên núi đá vôi và các di tích lịch sử thuộc thành nam
của cố đô Hoa Lư.Khu sinh thái Tràng An hiện là đại diện
của Việt Nam ứng cử di sản thiên nhiên thế giới với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh thái và kiến tạo địa chất, là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế.Nằm cách
Hà Nội hơn 90km về phía nam thuộc các huyện Hoa Lư, Gia Viễn và TP.Ninh Bình, Tràng An có diện tích hàng nghìn hécta được bao bọc bởi hệ thống dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra các đầm hồ, thung nước thông nhau bởi 48 hang động xuyên thủy và nhiều hang động khác
I-CẢNH QUAN SINH THÁI:
Tràng An là một vùng non nước, mây trời hoà quyện Đáy nước trong xanh soi bóng những vách núiđá trùng điệp Nơi đây có tới 31 hồ, đầm nước được nối thông bởi 48 hangđộng đã được phát hiện trong đó có những hang xuyên thủy dài 2km như hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây [5] Mỗi hang một vẻ đặc trưng như tên gọi, các hang có nhiều nhũ đá biến đổi, nước chảy ra từ trần hang làm không khí trong hangmátlạnh Hang Tối có lòng hang rộng hẹp biến đổi bất ngờ Hang Sáng long lanh với những nhũ đá óng ánh kỳ lạ Hang Nấu Rượu và hang Cơm gần đó với truyền thuyết ông khổng lồ nấu rượu ở đây, mang rượu và cơm
ra núi ngồi ăn Trong hang có mạch nước ngầm sâu hơn 10 m Tương truyền, các bậc tiền bối đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến vua, khi nạo vét lòng hang các nhà khảo cổ đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại
và các dụng cụ để nấu rượu[6] Vòng qua hang núi Cơm, sang hang Vồng, ở đây có cây si cổ thụ rễ chùm cả miệng hang Từ đây sang hang Láng, hang Ao Trai, giữa hang Ao Trai, lòng hang phình ra khoảng 30m
Trang 6Tràng An thuộc khu rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư (rừng đặc dụng Hoa Lư) Theo số liệu thống kê 2007, tại Tràng An có chừng hơn 310 loại thực vật bậc cao, một số thuộc diện quý hiếm như sưa, lát, nghiến, phong lan, hoài sơn, kim ngân, bách bộ, rau sắng, v.v Tràng An có chừng 30 loài thú, hơn 50 loàichim, trong đó một số loài thú quý hiếm như sơn dương, báo gấm, chim phượng hoàng [7]
Không giống như ở Tam Cốc, Tràng An có thể tạo thành hành trình xuyên thủy khép kín mà không phải quay ngược lại Quần thể hang động này được ví như một trận đồ bát quái Các dãy núi, hồnước và hangđộng tạo thành một thế trận liên hoàn Mỗi hồ là một bức tranh thủy mặc khác nhau về thế núi, dáng núi và hồ nước Mây trời, non xanh, nước biếc hòa quyện với nhau, thoắt
ẩn, thoắt hiện Ðiều diệu kỳ ở đây là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có
độ dài, ngắn khác nhau Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo Xa xa trên triền núi, dưới tán cây rừng lúp xúp là những đàn
dê núi leo trèo trên các tảng đá chênh vênh [8] Vẻ đẹp Tràng An trong làn khói núi, thành xưa được ví tựa thơ ca:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
Hiện nay, Du khách đến Tràng An thường tham gia Tour du lịch bằng thuyền nan kéo dài 3 giờ qua: Bến đò - Đền Trình - xuyên hang Địa Linh - xuyên hang Tối - xuyên hang Sáng - xuyên hang Đền Trần - Đền Trần - xuyên hang Đền Trần chiều ngược lại - xuyên hang Si - xuyên hang Sính - xuyên hang Tình - xuyên hang Ba Giọt - xuyên hang Nấu Rượu - Phủ Khống - xuyên hang Phủ Khống - xuyên hang Trần - xuyên hang Quy Hậu - Bến đò (qua 12 hang khác nhau và 3 đền)
So với các khu du lịch lân cận có nét tương đồng như Tam Cốc - Bích Động chủ yếu là hình thức
du lịch trên sông; khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long là du thuyền trên đầm sinh thái thì Tràng An có nét đặc trưng riêng biệt là hình thức du thuyền trên các thung nước tạo bởi nhiều vách núi đá được nối thông nhau bằng những hang nước mà không phải quay ngược lại
Du thuyền qua các hang động
Tràng An, Thành xây khói biếc, Non phơi
bóng vàng
Trang 7Bến đò Tràng An Trên đường đến hang Địa
Linh
Lối vào hang Địa Linh Lối vào hang Sính
Hoa rừng Tràng An Non xanh cố đô Xuyên thủy động
Trang 8II-ĐỊA CHẤT-THỦY VĂN:
Khu vực Tràng An được bao bọc bởi các dãy núi
đá vôi hình cánh cung giữa vùng chiêm trũng
ngập nước đã trải qua thời gian dài biến đổi địa
chất tạo thành Các nhà địa chất khẳng định khu
Tràng An xưa là một vùng biển cổ, qua quá trình
vận động địa chất mà kiến tạo nên Những khe
nứt sinh ra do sự vận động đó dần dần hình thành
các dòng chảy trong hang động đá vôi [9] Khu sinh
thái hang động Tràng An như một "bảo tàng địa
chất ngoài trời".[10]
Tràng An có hệ thống núi đá vôi và hang động tự
nhiên hết sức đa dạng, có tuổi từ 32 triệu năm
đến 6.000 năm Dưới chân các núi đá vôi, nhiều
nơi còn có các hàm ếch, là dấu tích của biển.[11] Chính vì vậy vùng núi đá vôi Hoa Lư – Ninh Bìnhđược gọi là
“Hạ Long trên cạn” Dưới con mắt các nhà khoa học tự nhiên, khu vực này mang giá trị của một "Hạ Long cạn", cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Nghiên cứu cho thấy, vỏ trái đất khu vực Tràng An – Tam Cốc có lịch
sử phát triển địa chất từ 245 triệu năm đến nay gồm 6 hệ tầng tuổi Trias và hệ tầng Đệ Tứ Khối karst cổ Tràng An – Tam Cốc mang đặc điểm nhiệt đới điển hình: những dãy núi đá hoặc khối đá vôi sót cao 150 - 200m có đỉnh dạng tháp, vòm, chuông và sườn vách dốc đứng Phần rìa khối là các thung lũng bằng phẳng
dễ úng ngập vào mùa mưa Đặc điểm này tạo cảnh quan nhiều dãy núi đá vôi thấp trùng điệp bao quanh các thung lũng là những hồ nước nối tiếp nhau, vừa hùng vĩ vừa nên thơ Trong hệ thống hang động karst đặc sắc nhất là loại "hang sông" nằm ngang xuyên qua lòng các dãy núi lớn, ngập nước thường xuyên Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thống kê, riêng khu Tràng An có 50 hang nước và 50 hang khô tập trung thành cụm với cấu tạo theo tầng lớp và liên hoàn do dấu vết thời kỳ biển tiến, biển thoái nên nước xâm thực, liên
Cảnh trong các hang khô
Trang 9thông các hang động với nhau Ở đây là các thung được nối liền với nhau bởi các hang động xuyên thủy Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi khác
III-LỊCH SỬ-VĂN HÓA:
Tràng An gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đấtcố đô Hoa Lư.Năm 968,Đinh Bộ Lĩnhthống nhất giang sơn, lập ra nhà nướcĐại Cồ Việt, đóng đô ởHoa Lư Tương truyền, Vua muốn khẳng định kinh đôHoa Lưcũng bề thế như kinh đô Tràng An của phương Bắc, liền saiNguyễn Bặcthể hiện câu đối “Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo - Hoa Lư đô thị Hán Tràng An” Năm
1010, VuaLý Thái TổcảiHoa Lưthành phủ Tràng An, Đại La thànhThăng Long Danh xưng Tràng An chính thức gắn với cố đô Hoa Lư –Ninh Bình.Tràng An thuộc vùng bảo vệ đặc biệt củacố đô Hoa Lư Khu vực này đang được các nhà khoa học lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Tràng An là hệ thống phòng thủ phía Nam của kinh thànhHoa Lư Tại đây còn khá nhiều di tích lịch sử mà du khách sẽ gặp trên chặng đường hành hương tiêu biểu như:
_Đền Trình: là nơi thờ 2 công thầnnhà Đinhlà Tả Thanh Trù và Hữu Thanh Trù Đương triều họ là 2 Giám sát Đại tướng quân cai quản kho vàng, két bạc của vua.Tương truyền, khi vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, triều đình rối ren, họ đã mang giấu Đinh Toàn tại đây để tránh sự truy bắt củaLê Hoàn
_Đền Trần: do vuaĐinh Tiên Hoàngxây dựng cùng thời với đền Hùng, sau này được vua Trần Thái Tông cải tạo bề thế hơn[20], là nơi thờ thần Quý Minh, vị thần trấn cửa ải phía namHoa Lư tứ trấn.Đền còn có tên là đền Nội Lâm (cùng với Vũ Lâm, Văn Lâm hợp thành Tam Lâm dưới triều Trần).
_Phủ Khống: là nơi thờ 7 vị quan trung thần triều Đinh, gắn với các truyền thuyết khi vuaĐinh Tiên Hoàngbăng hà, 7 vị quan trong triều đình mang nhiều quan tài chôn theo các hướng rồi cùng tự sát
để giữ kín những bí mật về ngôi mộ thật Một vị tướng trấn giữ thành nam vô cùng cảm kích trước nghĩa khí của 7 vị trung thần liền lập bát nhang thờ cúng ở đây Sau khi vị tướng này mất, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và trồng cây thị ngay trước cửa Phủ để tưởng nhớ các bậc trung thần.
[22]Cây thị nghìn năm tuổi mà quả có 2 loại: 1 tròn và 1 dẹt.[23]
Việc phát lộ ra hệ thống hang động Tràng An đã dần hé mở ra sự đúng đắn của việc định đô của vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư vào thời kỳ đầu của một Nhà nước phong kiến tập quyền Đó cũng là một căn cứ quan trọng để nhà vua khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc dựa trên cơ sở sức mạnh của dân tộc Điều này thể hiện bởi sự tận dụng triệt để những ưu thế của thiên nhiên, biến các dãy núi đá vôi làm thành quách
để giảm sức người và của Đây là cái gạch nối giữaHoa Lư và Thăng Long, làm cho nhân dân Việt Nam có
sự hồi tưởng lại những diễn biến lịch sử đã diễn ra ở kinh thành Hoa Lư và sự nối tiếp ở kinh thành Thăng Long cho đến Hà Nội sau đó.Khi nạo vét ở các hang động phát hiện được các di tích từ thế kỷ thứ 10 Có khu vực với rất nhiều phế tích quan trọng khẳng định đó cũng là nơi sinh hoạt của các phân quyền ngày xưa ở thế kỷ thứ 14, nhà Trần như nồi gốm, các bát đĩa cổ Các phế tích này rất giống với các phế tích tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long Tràng An đồng thời cũng là kinh đô kháng chiến chống Nguyên Mông của triều đại nhà Trần
Trang 10Toàn cảnh đền Trình Lễ hội thần Quý Minh Đại Vương
IV- ỨNG CỬ DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI:
Danh thắng Tràng An thuộc khu vực bảo vệ đặc biệt của Cố đô Hoa Lư,Danh thắng Tràng An – Hoa Lư đang được nghiên cứu, tôn tạo để đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới Ngày 17/10/2008, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Ninh Bình, Hội Di sản Văn hoá Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học về “Giá trị di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và khu du lịch Tràng An” nhằm tiến tới đề nghị Unesco công nhận Cố đô Hoa Lư là di sản văn hóa thế giới và khu sinh thái hang động Tràng An là di sản thiên nhiên thế giới.[26] Ngày 21/8/2011, tỉnh Ninh Bình đã tổ chức đón đoàn đại biểu UNESCO tham dự đại hội về thăm quần thể hang động Tràng An - chùa Bái Đính và cố đô Hoa Lư
Căn cứ vào các tiêu chí về giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản Thế giới, Khu sinh thái Tràng An đáp ứng 2 tiêu chí và di sản thiên nhiên (tức hai tiêu chí thứ 7 và 9 của một di sản thế giới) là:
1.Tiêu chí 7 về giá trị địa chất- địa mạo: “Di sản là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn quan trọng của lịch sử trái đất, bao gồm cả việc ghi chép lại cuộc sống, các quá trình địa chất lớn đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, hay những đặc điểm địa chấn và địa hình lớn”