1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng và Xuất nhập khẩu Lao động Hàng không

70 358 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động ở công ty cổ phần cung ứng và xuất nhập khẩu lao động hàng không
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại chuyên đề
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 758,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta các doanh nghiệp Nhà nước đã và đang đóng vai trò to lớn gần như tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Nhất là trong những năm nhân dân ta vừa phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm, vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ở nước ta các doanh nghiệp Nhà nước đã và đang đóng vai trò to lớn gần

như tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Nhất là trong những

năm nhân dân ta vừa phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm, vừa xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đến nay trước yêu cầu của quá trình chuyển đổi đất

nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước tất yếu phải đổi mới căn bản doanh nghiệp Nhà nước

Xuất phát từ đường lối chung các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi

mới kinh tế ở Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường một trong những chủ

trương lớn là: cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước đủ điều kiện- có

nghĩa là một số doanh nghiệp Nhà nước được chuyển thành công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một hình thức sản xuất tiến bộ trong nền kinh tế thị

trường ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc sắp xếp, chuyển đổi một số doanh

nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần tiến lên thành các tập đoàn công ty đa quốc

gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong nước và vươn ra thị trường

quốc tế là con đường hữu hiệu để đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước Cổ phần hoá

ở các quốc gia tuy có những thành công và vướng mắc khác nhau nhưng đều có

những điểm chung về mục tiêu, hình thức và đều phải có sự trợ giúp của Chính phủ

để đẩy mạnh qúa trình chuyển đổi sở hữu, đặc biệt là hệ thống cơ chế chính sách tài

chính

Để hiểu rõ hơn, em xin phép được chọn đề tài “Giải pháp tài chính nhằm

thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng và Xuất nhập khẩu Lao động

Hàng không” bởi qua đây, em muốn vận dụng những kiến thức đã được học và kết

quả thực tế đã thu được sau thời gian thực tập tại cơ sở để làm rõ hơn vấn đề đang

được coi là nóng bỏng hiện nay

Chuyên đề được trình bày trong 03 phần:

Trang 2

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà

nước

Chương II: Thực trạng tài chính ở Công ty xuất nhập khẩu lao động hàng

không Việt Nam trong tiến trình cổ phần hoá

Chương III: Giải pháp tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động của Công ty

Do thời gian thực tập có hạn, trình độ lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế,

chuyên đề của em không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự đóng

góp ý kiến để các chuyên đề của em sau này được hoàn thiện hơn

Chương 1

Trang 3

Cơ sở lý luận về cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước 1.1 Công ty cổ phần - Đặc điểm công ty cổ phần:

1.1.1 Công ty cổ phần:

Công ty Cổ phần ra đời đánh dấu một bước tiến đáng kể về hình thức tổ chức

kinh doanh, sự phát triển kinh tế và trình độ quản lý của nền kinh tế tư bản chủ

nghĩa

Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nền kinh tế thị trường chưa đòi

hỏi phải hình thành Công ty Cổ phần bởi vì quy mô còn nhỏ, vốn của một cá nhân

có thể đủ đáp ứng cho hoạt động của một Doanh nghiệp (DN), nhưng ngày nay DN

hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các DN phải mở rộng quy

mô, tăng cường trang bị kỹ thuật, đầu tư vào lĩnh vực mới Để đáp ứng nhu cầu về

vốn, các nhà tư bản nhỏ có thể thoả hiệp và liên minh lại với nhau để có một lượng

tư bản lớn đủ sức cạnh tranh, giành ưu thế trên thị trường, đủ sức kinh doanh trong

những ngành hoặc lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, từ đó hình thành nên

những DN mới Các loại hình công ty nói chung và Công ty Cổ phần nói riêng đã

trở thành những hình thức tổ chức kinh doanh được phát triển phổ biến do khả năng

thích ứng và tính hiệu quả của nó

Luật Công ty của nước ta xác định Công ty Cổ phần là công ty mà trong đó:

 Số thành viên ( cổ đông) phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất

là bảy năm

 Vốn điều lệ của công ty được chia đều thành nhiều phần bằng nhau

gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có

thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu

 Cổ phiếu phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của

sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên

Trang 4

 Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi

tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của Hội động quản trị, trừ trường

hợp được quy định ở điều 39 của luật này, số cổ phiếu này( Cổ phiếu của Hội đồng

quản trị) tác giả phải ghi tên, không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại

chức và trong thời hạn hai năm, kể từ ngày thôi giữ chức thành viên Hội đồng quản

trị

1.1.2 Đặc điểm Công ty Cổ phần

1.1.2.1 Về mặt pháp lý

- Loại công ty này có tư cách pháp nhân độc lập, được hưởng quy chế pháp

lý độc lập, tách rời với các thành viên, có tư cách là bên nguyên để kiện các pháp

nhân khác, đồng thời cũng có thể bị các pháp nhân khác kiện Đây là dấu hiệu để

phân biệt với các loại công ty không được hưởng quy chế pháp nhân

- Chế độ chịu trách nhiệm của công ty cổ phần là chế độ chịu trách nhiệm

hữu hạn Các cổ động chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty theo tỷ lệ

phần vốn góp của họ Công ty chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty

Đây là dấu hiệu chung của loại công ty trách nhiệm hữu hạn

1.1.2.2 Về mặt tài chính

- Vốn của công ty được chia thành các cổ phần là đặc trưng có tính quyết

định để phân biệt giữa Công ty Cổ phần với các loại tổ chức kinh tế khác Cổ phần

là phần vốn cơ bản của công ty thể hiện một khoản giá trị thực tế tính bằng tiền gọi

là mệnh giá cổ phần Cổ phần chứng minh rằng tư cách thành viên của các cổ đông-

Cổ phần được biểu hịên bằng hình thức cổ phiếu Có loại cổ phiếu ghi tên và cổ

phiếu không ghi tên Các cổ phiếu không ghi tên được tự do mua bán một cách dễ

dàng không bị ràng buộc bởi một điều kiện hạn chế nào Các cổ phiếu có ghi tên,

việc chuyển nhượng được tiến hành có điều kiện Chẳng hạn cổ phần của các sáng

lập viên và các thành viên của Hội đồng quản trị thường là cổ phần có ghi tên Loại

này không mua bán trao tay mà phải ghi sổ

Trang 5

Dấu hiệu pháp lý về chế độ trách nhiệm hữu hạn, dấu hiệu vốn được huy

động và phân chia thành cổ phần là hai đặc trưng tài chính cơ bản của Công ty Cổ

phần để phân biệt với các loại công ty khác

- Đặc điểm tài chính của Công ty Cổ phần còn thể hiện ở việc huy động vốn

của Công ty Cổ phần Ngoài cách huy động mà các DN vẫn tiến hành, Công ty Cổ

phần có thể thực hiện tăng vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu và trái phiếu mới

Cách này tạo khả năng cho Công ty Cổ phần huy động được nguồn vốn lớn và

nhanh hơn nhiều so với việc tích tụ vốn từ lợi nhuận không chia Ngoài ra đây cũng

là cách đa dạng hoá các công cụ tài chính với các đặc điểm khác nhau để phân bố

rủi ro và chuyển đổi linh hoạt trong hoạt động khác

- Chính sách lợi tức cổ phần, việc phân chia lợi nhuận riêng ( sau khi nộp

thuế lợi tức) thành ra hai phần: phần để trả lợi tức cổ phần, phần để lại không chia(

chủ yếu dùng tài trợ cho kinh doanh) là một nét đặc trưng trong các quyết định và

hoạt động tài chính mà Công ty Cổ phần phải cân nhắc

1.1.2.3 Về mặt sở hữu

Công ty Cổ phần có nhiều chủ sở hữu, chủ sở hữu của Công ty Cổ phần là

các cổ đông, và việc sở hữu thể hiện chủ yếu trên phương diện như thu lợi tức cổ

phần trên cơ sở kết quả hoạt động của công ty, tham gia đại hội cổ đông, quyết định

những vấn đề mang tính chiến lược của công ty Các cổ đông có thể chuyển

nhượng quyền sở hữu Song hầu hết những người chủ sở hữu lại không tham gia

quản lý mà giao cho bộ máy quản lý của công ty điều hành mọi hoạt động sản xuất

kinh doanh và quan hệ với bạn hàng

Như vậy Công ty Cổ phần là một cơ chế giải phóng hầu hết các chủ sở hữu

khỏi nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn, chức năng đó được giao cho các nhà quản

lý chuyên nghiệp, điều đó có rất nhiều ưu điểm, song cũng cần tránh việc lợi dụng

đa số để gây thiệt hại cho công ty làm lợi cho riêng mình

1.1.2.4 Về tổ chức

Trang 6

Do tính chất nhiều chủ sở hữu của Công ty Cổ phần nên các cổ đông không

thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại

diện làm nhiệm vụ trực tiếp quản lý công ty bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội

đồng quản trị, giám đốc điều hành và các kiểm soát viên

Hệ thống tổ chức của Công ty Cổ phần như sau:

- Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội

đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông

qua các điều lệ của công ty Đại hội thành lập phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít

nhất số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết đa số quá bán

- Hội đồng quản trị ( HĐQT) là cơ quan quản lý công ty gồm từ 3 đến 12

thành viên HĐQT có toàn quyền và nhân danh công ty quyết định mọi vấn đề liên

quan đến mục đích và quyền lợi của công ty

1.1.2.5 Về tính chất dân chủ trong quản lý

Công ty Cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất dân chủ

rất cao, tuy rằng tính dân chủ ở đây là có điều kiện, nó phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp

của các cổ đông chứ không phải hoàn toàn bình đẳng đối với mọi người Do số

lượng cổ đông trong công ty thường rất lớn nên cơ cấu tổ chức và chức năng của

từng bộ phận phải vừa đảm bảo được vai trò của chủ sở hữu vừa đảm bảo cho công

ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG

CHỦ TỊCH HĐQT KIỂM SOÁT VIÊN

GIÁM ĐỐC

Trang 7

1.2 Sự cần thiết phảI cổ phần hoá DNNN và xử lý các vấn đề tàI chính khi cổ

phần hoá

1.2.1 Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN

Cổ phần hoá DNNN là một trong những giải pháp, chủ trương hết sức cần

thiết và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt

động của loại hình DN này

 Trước hết cổ phần hoá góp phần giải quyết những khó khăn về vốn,

nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của khu vực DNNN Hiện nay

nhu cầu về vốn của các DN là rất lớn để đảm bảo cho sự tồn tại của chính bản thân

DN và cho sự phát triển của nền kinh tế Nhưng lấy ở đâu ra? Nhà nước ( Ngân

sách và ngân hàng) không thể tiếp tục cấp vốn cho khu vực làm ăn kém hiệu quả

Trong khi đó tiềm lực vốn trong dân và trong các tổ chức kinh tế xã hội là rất lớn

lại chưa được tận dụng khai thác và sử dụng có hiệu quả cho sản xuất Theo kết quả

điều tra gần đây của Bộ kế hoạch - Đầu tư và tổng cục thống kê thì 44% tiền để

dành của dân chúng dùng để mua vàng và ngoại tệ, 20% mua nhà đất và cải thiện

điều kiện sinh hoạt, chỉ có 17% gửi tiết kiệm, phần lớn là tiết kiệm ngắn hạn Hơn

nữa thị trường vốn của Việt Nam còn phát triển chậm nên nguồn vốn duy nhất

DNNN có thể khai thác được hiện nay là nguồn tín dụng Tuy nhiên, nguồn vốn

này còn hạn chế Việc cổ phần hoá các DNNN tạo điều kiện bán cổ phần, thu hút

đầu tư của nhiều thành phần kinh tế, mở cửa cho việc đa dạng hoá sở hữu

 Cổ phần hoá DNNN tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền

làm chủ thực sự của mình đối với DN Trong công ty cổ phần quyền lợi và trách

nhiệm của người lao động gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi vì mỗi người lao động

trong xí nghiệp bằng vốn tự có của mình, quỹ phúc lợi của DN được phân bổ đều

có thể tham gia mua cổ phiếu tại công ty Họ cống hiến cho DN cũng chính vì lợi

ích của họ Điều này xoá bỏ được tư tưởng ỷ lại Nhà nước, kích thích mọi người

phát huy hết khả năng, hăng say lao động

Trang 8

Hơn nữa, với việc góp vốn này thì người lao động từ công nhân trực tiếp sản

xuất đến giám đốc DN đều trở thành người chủ thực sự đồng vốn của mình Đều

được tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của DN với quyết tâm và ý chí

chung là gặt hái được hiệu quả cao nhất

 Cổ phần hoá còn có tác dụng tích cực đến việc cải tiến quản lý hiệu

quả hơn Cổ phần hoá các DNNN hình thành các Công ty Cổ phần cũng có nghĩa là

xác định vai trò làm chủ thực sự của DN, cụ thể là Hội đồng quản trị thay mặt và

chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh với tất cả

các cổ đông góp vốn Hội đồng quản trị là ông chủ thực sự thay mặt cho các cổ

động chứ không phải ai khác và hoạt động tích cực, không ngừng sáng tạo cải tiến

kỹ thuật, phương pháp công nghệ và cả thủ thuật, biện pháp kinh doanh có hiệu quả

nhất Đây cũng là biện pháp hạn chế các chỉ đạo từ trên xuống vốn có ở một

DNNN Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho việc tách rời chức năng quản lý

sản xuất kinh doanh và chức năng quản lý Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế, tạo

thế chủ động cho người bỏ vốn đầu tư, củng cố động lực cạnh tranh của nền kinh

tế

 Bên cạnh đó cổ phần hoá các DNNN còn tạo điều kiện thuận lợi để cơ

cấu lại nền kinh tế Với việc cổ phần hoá các DNNN, mở rộng đa dạng hoá sở hữu,

sẽ có thêm điều kiện mới cho việc cơ cấu lại nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

dựa trên hai vế hết sức quan trọng: Động lực sở hữu của nhiều thành phần kinh tế

và việc phân công lao động toàn xã hội theo các tác động của thị trường cạnh tranh

Đây cũng là cơ sở để điều chỉnh và đổi mới quan điểm lãnh đạo, quản lý của Nhà

nước, xác định vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế quốc doanh Xác định mũi nhọn

chiến lược, ngành chủ lực để thực hiện vai trò điều tiết ngăn chặn khủng hoảng

kinh tế hơn là bao sâu rộng rãi quá nhiều ngành nghề, đầu tư vốn đưa đến nhiều bấp

bênh lỗ lãi Đây chĩnh là quá trình cân bằng lại giữa sự can thiệp của Nhà nước và

sự điều tiết của thị trường nhằm tận dụng những ưu điểm của cơ chế thị trường

Trang 9

Cổ phần hoá sẽ cởi bỏ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo dựng và củng

cố nguồn lực của Nhà nước do việc nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của

các DN, cho phép nguồn thu của các DN được củng cố và gia tăng Hơn nữa, Nhà

nước còn thu được lợi ích từ phần vốn đầu tư của mình và DN, từ đó cho phép Nhà

nước phát triển kinh tế Thực hiện cổ phần hoá DNNN giúp cho việc giảm nhanh số

lượng DNNN vốn kém hiệu quả, tăng cường khu vực kinh tế tư bản Nhà nước, thúc

đẩy công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để đi lên Chủ nghĩa xã hội

Đồng thời đó cũng là tiền đề và triển vọng cho việc hình thành các tập đoàn đa

quốc gia trong nền kinh tế thế giới hiện nay

Ngoài ra cổ phần hoá DNNN còn tạo ra môi trường vừa cạnh tranh vừa tập

hợp các tập đoàn kinh tế mạnh chuyên ngành hay đa ngành có thế mạnh về thị

trường vốn với mục đích ngày càng thu được lợi nhuận cao Đồng thời nó tạo một

thói quen đầu tư mới trong nhân dân đó là đầu tư tài chính hơn là giữ tiền hoặc gửi

tiền tiết kiệm

Với việc phát triển của Công ty cổ phần, tất cả mọi người đều có thể trở

thành các nhà đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu của các Công ty cổ phần Và

người đầu tư có thể tự do lựa chọn công ty đầu tư sao cho có lợi nhất, khi công ty

làm ăn có lãi và ngày càng phát triển thì cổ tức mà họ nhận được có thể cao hơn rất

nhiều so với lãi suất tiết kiệm Hơn nữa họ có quyền chuyển các cổ phiếu thành tiền

mà không cần chờ đến thời hạn thanh toán

1.2.2 Xử lý các vấn đề tài chính khi cổ phần hoá

1.2.2.1 Xử lý tài chính khi cổ phần hoá

a) Kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ

Khi nhận được quyết định cổ phần hoá của cơ quan có thẩm quyền, DN có

trách nhiệm tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản DN đang quản lý, sử dụng tại thời

điểm xác định giá trị DN như sau:

 Kiểm kê phân loại tài sản:

Trang 10

* Kiểm kê xác định đúng số lượng và chất lượng của tài sản thực tế hiện có

DN đang quản lý và sử dụng; kiểm quỹ tiền mặt, đối chiếu số dư tiền gửi ngân

hàng tại thời điểm xác định giá trị DN; xác định tài sản, tiền mặt thừa thiếu so với

sổ kế toán, phân tích rõ nguyên nhân thừa, thiếu

* Phân loại tài sản đã kiểm kê theo các nhóm sau:

- Tài sản DN có nhu cầu sử dụng

- Tài sản DN không cần dùng, tài sản ứ đọng, chờ thanh lý theo quyết định

của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN

- Tài sản hình thành từ Quỹ khen thưởng, phúc lợi ( nếu có)

- Tài sản thuê ngoài, vật tư hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, nhận đại lý,

nhận ký gửi

 Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ, lập bảng kê chi

tiết đối với từng loại công nợ như sau:

* Nợ phải trả:

Phân tích rõ các khoản nợ trong hạn, nợ quá hạn, nợ gốc, nợ lãi, nợ phải trả

nhưng không phải thanh toán

Nợ phải trả nhưng không phải thanh toán là khoản nợ mà chủ nợ không còn

tồn tại ( DN đã giải thể, phá sản, chủ nợ đã chết) hoặc chủ nợ không đến đối chiếu

đòi nợ mặc dù đã quá hạn

* Nợ phải thu

- Phân tích rõ nợ phải thu có khả năng thu hồi, nợ phải thu không có khả

năng thu hồi

Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi phải có đủ tài liệu chứng

minh là không thu hồi được theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn

đọng

- Rà soát các hợp đồng kinh tế để xác định các khoản đã trả trước cho người

cung cấp hàng hoá dịch vụ nhưng đã hạch toán hết vào chi phí kinh doanh như: tiền

Trang 11

công để tính vào giá trị DN cổ phần hoá theo khoản 3 Điều 11 Nghị định

Căn cứ vào kết quả kiểm kê, phân loại tài sản, DN xử lý tài sản:

- Đối với tài sản thừa, thiếu phải phân tích rõ nguyên nhân và xử lý như sau:

+ Tài sản thiếu phải xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xử lý

bồi thường trách nhiệm vật chất theo quy định hiện hành; giá trị tài sản thiếu sau

khi trừ khoản bồi thường, hạch toán vào kết quả kinh doanh

+ Tài sản thừa, nếu không xác định được nguyên nhân và chủ sở hữu thì làm

tăng vốn nhà nước

- Đối với những tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý

sau khi được chấp thuận bằng văn bản của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước được

xử lý như sau:

+ Thanh lý nhượng bán: Giám đốc DN chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức

thanh lý, nhượng bán tài sản theo pháp luật hiện hành

Các khoản thu và chi phí cho hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản được

hạch toán vào thu nhập và chi phí của DN

+ Điều chuyển tài sản cho đơn vị khác theo quyết định của đại diện chủ sở

hữu vốn Trường hợp điều chuyển cho các đơn vị ngoài bộ, địa phương, tổng công

ty phải có sự thoả thuận của đại diện chủ sở hữu vốn bên nhận

Căn cứ biên bản giao nhận tài sản, DN giao, nhận tài sản hạch toán tăng,

giảm vốn theo giá trị trên sổ kế toán của bên giao Trường hợp bên nhận không

chấp nhận giá trên sổ kế toán của bên giao thì hai bên thoả thuận giá giao nhận

Trang 12

Phần chênh lệch so với giá ghi trên sổ kế toán hạch toán vào kết quả kinh doanh

của DN

+ Đến thời điểm xác định giá trị DN, những tài sản không cần dùng, tài sản ứ

đọng, tài sản chờ thanh lý chưa được xử lý thì không tính vào giá trị DN DN tiếp

tục xử lý số tài sản này trước khi có quyết định giá trị DN Đến thời điểm có quyết

định giá trị DN, nếu còn tài sản chưa xử lý, DN có trách nhiệm bảo quản, chuyển

giao cho công ty mua bán nợ và tài sản của DN để xử lý theo quy định hiện hành

Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN không bán lại tài sản này cho DN

- Tài sản là công trình phúc lợi trước đây được đầu tư bằng nguồn quỹ phúc

lợi, khen thưởng được xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định

187/2004/NĐ- CP

- Việc xác định giá trị và chia cổ phần cho người lao động đối với tài sản

dùng trong sản xuất kinh doanh đầu tư bằng nguồn quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi

được xử lý theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định 187/2004/NĐ- CP Cổ

phần chia cho người lao động được xác định theo giá đấu thành công bình quân

- Tài sản phúc lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc có nguồn gốc

từ ngân sách, nếu DN cổ phần hoá tiếp tục sử dụng được tính vào giá trị DN cổ

phần hoá

* Nợ phải thu

Các khoản nợ phải thu được xử lý theo quy định, trong đó:

- Đối với những khoản nợ phải thu có đủ tài liệu chứng minh không có khả

năng thu hồi theo quy định hiện hành của nhà nước về xử lý nợ tồn đọng thì xác

định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá nhân, tổ chức để xử lý bồi thường theo quy

định của pháp luật hiện hành Phần tổn thất sau khi xử lý DN dùng nguồn dự phòng

nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu thiếu thì hạch toán vào chi phí kinh doanh của

DN

- Đối với các khoản nợ phải thu quá hạn khác DN phải tiếp tục đòi nợ hoặc

Trang 13

được trực tiếp bán nợ cho khách nợ Khoản tổn thất từ việc bán nợ được hạch toán

vào chi phí kinh doanh

- Đối với các khoản DN đã trả trước cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ

như: thiền thuê nhà, thiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền công nếu đã hạch toán hết

vào chi phí kinh doanh, DN đối chiếu hạch toán giảm chi phí tương ứng với phần

hàng hoá, dịch vụ chưa được cung cấp

* Nợ phải trả

- Đối với các khoản nợ phải trả nhưng không phải thanh toán được hạch

toán tăng vốn nhà nước

- Đối với khoản nợ tồn đọng về thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà

nước được xử lý:

Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được thì DN lập hồ sơ đề nghị giãn nợ,

hoặc xoá nợ theo mức tối đa bằng số lỗ luỹ kế đến thời điểm xác định giá trị DN

theo pháp luật hiện hành

DN có đủ điều kiện được xoá nợ và đã làm thủ tục, nộp hồ sơ đề nghị xoá

nợ, nhưng đến thời điểm quyết định giá trị DN vẫn chưa nhận được quyết định xoá

nợ thì cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị DN xem xét cho tạm giảm trừ nợ,

giảm lỗ để xác định giá trị DN

DN có trách nhiệm tiếp tục phối hợp với cơ quan tài chính để xử lý Khi có

quyết định xử lý của Bộ Tài chính, nếu có chênh lệch so với số đã tạm giảm trừ nợ

DN hạch toán điều chỉnh báo cáo tài chính ở thời điểm chính thức chuyển thành

công ty cổ phần

- Đối với các khoản nợ tồn đọng vay ngân hàng thương mại nhà nước và

Quỹ hỗ trợ phát triển:

+ Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được các khoản nợ quá hạn, DN làm

thủ tục đề nghị khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ theo quy định của pháp luật hiện hành

Đối với khoản nợ lãi vay chưa thanh toán ( bao gồm cả lãi đã nhập gốc) được

ngân hàng thương mại nhà nước, Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét, xoá nợ với mức

Trang 14

không vượt quá số lỗ còn lại ( sau khi đã xử lý nợ tồn đọng về thuế và các khoản

nộp ngân sách nhà nước).Trong thời gian tối đa 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận

được hồ sơ của DN, ngân hàng thương mại cho vay và Quỹ hỗ trợ phát triển phải

có ý kiến xử lý bằng văn bản thông báo cho DN Trường hợp đến thời điểm công

bố giá trị DN mà vẫn chưa nhận được ý kiến xử lý của bên cho vay, DN được tạm

loại khoản nợ lãi vay đề nghị xoá khỏi giá trị DN để cổ phần hoá Khi có quyết

định xoá nợ, nếu có chênh lệch so với số đã tạm loại ra khỏi giá trị, DN hạch toán

điều chỉnh báo cáo tài chính trước khi chính thức chuyển thành công ty cổ phần

+ Khoản nợ gốc quá hạn không được xoá xử lý như sau:

DN làm thủ tục để chuyển giao cho công ty cổ phần kế thừa để trả nợ

Thoả thuận với ngân hàng thương mại cho vay để chuyển nợ thành vốn cổ

phần

Phối hợp với ngân hàng thương mại cho vay và Quỹ hỗ trợ phát triển thực

hiện xử lý nợ theo phương thức bán nợ cho công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng

của DN theo giá thoả thuận

- Đối với các khoản nợ vay nước ngoài quá hạn có bảo lãnh , DN và người

bảo lãnh phải đàm phán với chủ nợ để có phương án xử lý theo quy định của pháp

luật về quản lý vay nợ và trả nợ vay nước ngoài

- Đối với khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ cán bộ công nhân viên, DN có trách

nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển thành công ty cổ phần để đảm bảo

quyền lợi cho người lao động

- Việc chuyển nợ phải trả ( bao gồm cả nợ phải trả người lao động) thành

vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về

quyền mua cổ phần lần đầu và quyền nắm giữ cổ phần chi phối của Nhà nước tại

DN, giá cổ phần phải xác định thông qua đấu giá

* Các khoản dự phòng, lỗ và lãi

Trang 15

Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi,

dự phòng giảm giá chứng khoán, chênh lệch tỷ giá, dự phòng trợ cấp mất việc làm,

dự phòng tài chính và các khoản lỗ, lãi được xử lý theo quy định, trong đó:

- Số dư dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dùng để bù đắp khoản chênh lệch

giảm giá hàng tồn kho ( kể cả khoản giảm giá do đánh giá lại hàng tồn kho ở thời

điểm xác định giá trị DN), phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh

- Số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi dùng để bù đắp nợ phải thu không có

khả năng thu hồi, phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh

- Số dư dự phòng chênh lệch giảm giá chứng khoán dùng để bù đắp phần

giảm giá chứng khoán thực tế, phần còn lại hoàn nhậpvào kết quả kinh doanh

- Số dư dự phòng chênh lệch tỷ giá được sử dụng để bù đắp chênh lệch tỷ giá

phát sinh, phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh

- Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm ( trích lập đầy đủ theo chế độ quy định)

dùng để thanh toán trợ cấp cho lao động dôi dư trong quá trình cổ phần hoá Đến

thời điểm chính thức chuyển sang công ty cổ phần, nếu còn thì hoàn nhập vào kết

quả kinh doanh

- Quỹ dự phòng rủi ro, dự phòng nghiệp vụ:

+ Số dư Quỹ dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại nhà nước xử lý

theo hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính

+ Số dư Quỹ dự phòng nghệp vụ của DN bảo hiểm xử lý theo hướng dẫn của

Bộ Tài chính

- Quỹ dự phòng tài chính để bù lỗ (nếu có), bù đắp các khoản tổn thất về tài

sản ( bao gồm cả giá trị theo sổ kế toán của tài sản không cần dùng, chờ thanh lý

không tính vào giá trị DN), nợ không thu hồi được, còn lại phân phối theo quy định

hiện hành

- Lãi phát sinh để bù lỗ các năm trước (nếu có), bù đắp các khoản tổn thất về

tài sản ( bao gồm cả giá trị theo sổ kế toán của tài sản không cần dùng, chờ thanh lý

Trang 16

không tính vào giá trị DN), giảm giá tài sản, nợ không có khả năng thu hồi, còn lại

phân phối theo quy định hiện hành

- Các khoản lỗ DN dùng Quỹ dự phòng TC và lợi nhuận trước thuế để bù

đắp Trường hợp thiếu thực hiện biện pháp xoá nợ ngân sách nhà nước và nợ ngân

hàng thương mại nhà nước theo quy định

Sau khi áp dụng các giải pháp trên mà DN cổ phần hoá vẫn còn lỗ, cơ quan

quyết định giá trị DN xem xét giảm vốn nhà nước

* Vốn đầu tư dài hạn vào các DN khác như góp vốn liên doanh, liên kết, góp

vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và các hình thức đầu

tư dài hạn khác được xử lý theo quy định, trong đó:

- Trường hợp DN có kế thừa liên doanh, phải tính giá trị vốn góp liên doanh

vào giá trị DN theo quy định

- Trường hợp các DN không kế thừa liên doanh thì cơ quan có thẩm quyền

quyết định cổ phần hoá xem xét, xử lý như sau:

+ Bán lại khoản vốn góp của DN cho đối tác hoặc nhà đầu tư khác Giá bán

phải sát với giá thị trường, nhưng không thấp hơn giá thị phần vốn góp theo báo

cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán

+ Chuyển giao cho DN khác làm đối tác sau khi thoả thuận, thống nhất với

đối tác liên doanh

+ Trường hợp DN và đối tác liên doanh thống nhất chấm dứt hợp đồng liên

doanh xử lý theo pháp luật hiện hành về xử lý tài chính đối với công ty nhà nước

khi DN liên doanh chấm dứt hợp đồng

* Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi:

- Số dư bằng tiền của Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi được chia cho ngườ

lao động có tên trong danh sách thường xuyên của DN tại thời điểm quyết định cổ

phần hoá để mua cổ phần Giám đốc DN quyết định việc phân chia sau khi thoả

thuận với tổ chức công đoàn

Trang 17

- Trường hợp DN đã chi quá nguồn khen thưởng, phúc lợi được giảm trừ vào

giá trị thực tế cuả tài sản đang sử dụng cho sản xuất kinh doanh được đầu tư bằng

nguồn quỹ khen thưởng, phúc lợi Nếu còn xử lý như sau:

+ Đối với khoản đã chi trực tiếp cho người lao động có tên trong danh sách

thường xuyên tại thời điểm quyết định cổ phần hoá thì DN phải thu hồi trước khi

thực hiện bán cổ phần ưu đãi

+ Đối với các khoản còn lại như: khoản bị xuất toán, chi biếu tặng; chi cho

người lao động đã nghỉ mất việc, thôi việc trước thời điểm quyết định cổ phần hoá

thì DN báo cáo cơ quan quyết định giá trị DN xử lý như đối với khoản nợ phải thu

không có khả năng thu hồi

Từ thời diểm xác định giá trị DN đến thời điểm chuyển thành công

ty cổ phần

* Thời gian được xử lý tài chính giữa hai thời điểm này không quá 6 tháng

kể từ ngày công bố giá trị DN

* Khi có quyết định công bố giá trị, DN có trách nhiệm:

- Điều chỉnh sổ kế toán và bảng cân đối kế toán theo chế độ kế toán Nhà

nước quy định

- Bảo quản và bàn giao các khoản nợ và tài sản đã loại trừ khi xác định giá trị

DN ( kèm theo hồ sơ có liên quan) cho công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của

DN trong thời gian tối đa là 30 ngày

- Hạch toán đầy đủ các khoản chi phí liên quan đến việc thực hiện cổ phần

hoá phát sinh

* Trong thời gian 30 ngày sau khi chính thức chuyển thành công ty cổ phần,

DN phải lập báo cáo tài chính tại thời điểm được cấp chứng nhận đăng kí kinh

doanh gửi các cơ quan quản lý theo quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài

chính DN

Trong thời gian 30 ngày sau khi nhận được báo cáo tài chính, cơ quan có

thẩm quyền quyết định giá trị DN thực hiện kiểm tra, xử lý những vấn đề tài chính

Trang 18

phát sinh giữa hai thời điểm; xác định lại giá trị phần vốn nhà nước, quyết định

điều chỉnh vốn nhà nước tại DN; tổ chức bàn giao giữa DN và công ty cổ phần; gửi

kết quả xác định lại giá trị DN cho Bộ Tài chính

* Khoản chênh lệch giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm

công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần với giá trị thực tế phần vốn nhà

nước tại thời điểm xác định giá trị DN được xử lý như quy định tại Điều 25 của

Nghị định 187/2004/NĐ- CP Trường hợp phát sinh chênh lệch giảm ( bao gồm cả

do kinh doanh bị thua lỗ) phải làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan trước khi

xử lý, trong đó:

- Chênh lệch giảm do nguyên nhân khách quan là các khoản tồn thất do thiên

tai, địch hoạ; do Nhà nước thay đổi chính sách hoặc do biến động của thị trường

quốc tế và các nguyên nhân bất khả kháng khác

- Các trường hợp còn lại được xác định là nguyên nhân chủ quan Cơ quan

quyết định cổ phần hoá không lựa chọn các cá nhân có trách nhiệm đến khoản

chênh lệch giảm làm đại diện phần vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần

Bàn giao tài sản, vốn

Căn cứ quyết định điều chỉnh giá trị DN tại thời điểm đăng kí kinh doanh

chuyển thành công ty cổ phần, Ban chỉ đạo cổ phần hoá chỉ đạo DN điều chỉnh sổ

kế toán, lập hồ sơ bàn giao và tổ chức bàn giao giữa DN và công ty cổ phần

* Hồ sơ bàn giao gồm:

- Hồ sơ xác định giá trị DN và quyết định công bố giá trị DN

- Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán thuế tại thời điểm chính thức

Trang 19

- Đại diện Bộ quản lý ngành hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương và đại diện Bộ Tài chính ( trường hợp cổ phần hoá toàn bộ tổng

công ty)

- Đại diện tổng công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị ( trường hợp cổ phần hoá

DN thành viên tổng công ty), giám đốc, kế toán trưởng công ty nhà nước đại diện

cho bên giao

- Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc, kế toán trưởng và đại diện tổ chức

công đoàn công ty cổ phần đại diện cho bên nhận

* Biên bản bàn giao phải có đầy đủ chữ ký thành phần bàn giao và phải ghi

rõ:

- Tình hình tài sản, tiền vốn, lao động có tại thời điểm bàn giao

- Quyền lợi và nghĩa vụ công ty cổ phần tiếp tục kế thừa

- Những tồn tại công ty cổ phần có trách nhiệm tiếp tục giải quyết

1.2.2.2 Tổ chức xác định giá trị DN

a) Lựa chọn phương thức định giá

- DN có giá trị tài sản theo sổ kế toán dưới 30 tỷ đồng, DN tự tổ chức xác

định giá trị DN hoặc thuê tổ chức tư vấn định giá để xác định giá trị DN

- Đối với DN có giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên, văn

phòng tổng công ty ( nếu cổ phần hoá toàn bộ công ty) phải thuê tổ chức định giá

xác định giá trị DN

b) Thuê tổ chức định giá

* Tổ chức định giá gồm các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, tổ chức

thẩm định giá, ngân hàng đầu tư có chức năng và năng lực định giá

* Tổ chức định giá phải bảo đảm các tiêu chuẩn và điều kiện sau:

- Có chức năng định giá trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc

giấy phép đầu tư

- Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh, phải đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn

của pháp luật hiện hành

Trang 20

- Không cùng chủ sở hữu, không có quan hệ kinh tế với DN được định giá

như hùn vốn, góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần

- Không trực tiếp thực hiện kiểm toán cho các DN được định giá

- Trong quá trình hoạt động không có vi phạm pháp luật về nghề ngiệp

* Hằng năm, trước ngày 31 tháng 12, Bộ Tài chính công bố công khai danh

sách các tổ chức định giá đủ diều kiện, tiêu chuẩn định giá DN của năm sau

Những tổ chức có chức năng định giá nếu vi phạm pháp luật sẽ tạm thời bị

đình chỉ công bố và được bổ sung vào danh sách khi đã được khắc phục sai phạm

* Căn cứ danh sách các tổ chức định giá được công bố hàng năm, Ban chỉ

đạo cổ phần hoá quyết định lựa chọn tổ chức định giá và chịu trách nhiệm về việc

lựa chọn của mình

* Căn cứ quyết định của Ban chỉ đạo, Giám đốc DN ký hợp đồng thuê tổ

chức định giá Trong đó phải cam kết các nội dung sau:

- Phương pháp định giá

- Thời gian hoàn thành: tối đa không quá 60 ngày đối với cổ phần hoá toàn

bộ tổng công ty; không quá 30 ngày đối với các trường hợp còn lại

- Trách nhiệm của DN trong việc thực hiện các công việc có liên quan đến

việc định giá như: kiểm kê, phân loại tài sản, xử lý tài chính, lập phương án sản

xuất kinh doanh, cung cấp tài liệu có liên quan và chịu trách nhiệm về số liệu và

tài liệu cung cấp

- Trách nhiệm của tổ chức định giá trong việc thực hiện đúng các quy định

về giá; hoàn thành đúng thời hạn theo đúng hợp đồng đã ký và kết quả định giá

theo quy định của pháp luật.Việc thanh toán chi phí định giá được thực hiện sau khi

có quyết định công bố giá

* Trong quá trình thực hiện phương án cổ phần hoá, tổ chức định giá có

trách nhiệm phối hợp với DN để giải trình các nội dung có liên quan đến việc định

giá

Trang 21

1.3 Thực trạng về cổ phần hoá của một số DNNN việt nam và bàI học kinh

nghiệm rút ra từ quá trình cổ phần hoá DNNN trên thế giới

1.3.1 Mục tiêu cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam

Như chúng ta đã biết, mục tiêu cổ phần hoá DNNN là một vấn đề luôn được

Đảng và Chính phủ quan tâm nghiên cứu xác định Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm

1996 chủ trương: “ Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá DNNN để

huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy DN làm ăn có hiệu quả, làm cho

tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá”

1.3.2 Tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trên phạm vi cả nước

Từ năm 1996 đến năm 1998 là giai đoạn mở rộng thí điểm Sau bốn năm

thực hiện thí điểm trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại, rút

ra một số kinh nghiệm để bổ sung sửa đổi chế độ cổ phần hoá, đến nay mới nhất là

có nghị định 187/2004/CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển doanh

nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần thay cho nghị định 64/CP

Thực hiện nghị định này, công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã

được quan tâm hơn, các ngành các cấp đã thực hiện củng cố tổ chức bổ sung thành

viên vào ban chỉ đạo cổ phần hoá ở địa phương Hiện nay gồm có: Ban chỉ đạo

Trung ương về cổ phần hoá do Bộ trưởng Bộ tài chính làm trưởng ban và một số

ngành làm thành viên, đó là Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ lao động thương binh xã

hội, Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp, Ban kinh tế Trung ương Đảng

và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN trung ương, tiến độ sắp xếp

DNNN năm nay tăng trên 40% so với cùng kỳ Nhiều địa phương đã sắp xếp đạt

hoặc vượt mức yêu cầu như 5 tỉnh Thái Nguyên, Hải Dương, Ninh Thuận, Trà

Vinh, Lâm Đồng, An Giang

Tuy nhiên nhìn chung tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn

quá chậm Theo báo cáo của Ban đổi mới DN trung ương tại Hội nghị “ Triển khai

đề án đổi mới DNNN giai đoạn 2003- 2005” tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 22

Mục tiêu của Chính phủ đề ra là đến 2005, cả nước hoàn tất cơ bản sắp xếp,

đổi nới 2602 DNNN, trong đó cổ phần hóa 1929 DN Tuy nhiên, hiện tại, tốc độ cổ

phần hóa tiến hành chậm vì có những vướng mắc không giải quyết được do còn

thiếu cơ chế, quy định trong việc xử lý từ chính phủ

Theo chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ, những DN có vốn pháp định từ 10

tỷ trở lên,khi cổ phần hóa, nhà nước vẫn nắm giữ ít nhất 51% cổ phần, tức cổ phần

chi phối, như vậy vẫn còn mang tính chất của một DNNN Tương tự như vậy người

đại diện cho phần vốn nhà nước thường là giám đốc DN quốc doanh trước đây, nay

giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị hoặc giám đốc Như vậy việc cổ phần sẽ không

có gì mới, không tạo ra động lực phát triển, trong khi mục tiêu của việc sắp xếp lại

DNNN chủ yếu là để đạt điều này

Việc xác định giá trị tài sản khi cổ phần hóa cũng là mối quan tâm của các

DN Các tài sản như đất đai, nhà cửa biến thiên không ngừng, đặc biệt những phạm

trù khác như uy tín của DN, giá trị độc quyền của thương hiệu là những tài sản vô

hình, không biết tính bằng cách nào Người ta mua cổ phiếu là mua giá trị DN,

nhưng nhà nước lại chưa có một quy định nào xác định giá trị của thương hiệu, tính

độc quyền của sản phẩm để tính vào giá trị tài sản, là một thiệt thòi cho DN khi cổ

phần hóa

Đến nay, vẫn còn nhiều DN băn khoăn về sự phân biệt đối xử với công ty cổ

phần, đặc biệt là trong các hoạt động như vay vốn ngân hàng, khoanh nợ, giãn nợ,

miễn giảm thuế, đầu tư xây dựng, giao đất, thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất,

xuất nhập cảnh khiến cho DNNN không nhiệt tình cổ phần hóa Trong khi đó, về

hậu cổ phần hóa, công nợ rất khó đòi, nhưng DN lại không có sự hỗ trợ nào từ phía

nhà nước như trước đây Các vẫn đề khác như nâng lương, chế độ thôi việc một lần

cho 3 chức danh như giám đốc, phó giám đốc và kế toán trưởng hiện vẫn còn

vướng mắc, vì không thể giải quyết theo diện cán bộ công chức nghỉ việc như Nghị

định 16 hay 41

Trang 23

Chính những băn khoăn do vướng mắc trên đây khiến cho rất nhiều DN đắn

đo trong việc tham gia sắp xếp lại DNNN Nhiều DN vẫn muốn giữ lại DN quốc

doanh Tuy nhiên một số vướng mắc có thể thiếu cơ chế giải quyết, nhưng việc sắp

xếp lại DNNN là mục tiêu hoàn toàn đúng đắn Nhiều DN sau khi cổ phần hóa đã

phát huy hiệu quả, có DN sau vài năm đã thu hồi vốn, giải quyết việc làm cho

người lao động Sắp tới đây, sẽ có yếu cầu về tiến độ thực hiện, cho địa phương,

DN

Một kết quả cụ thể nhất là cổ phần hoá giúp DN tăng doanh thu 2 lần, các

DNNN thực hiện cổ phần hoá có cổ tức đạt 2%/tháng, vốn tăng trung bình gấp 2,5

lần thời điểm trước cổ phần hoá; nộp ngân sách tăng 2 lần và thu nhập của người

lao động tăng trung bình 20% Các DN này thu hút được thêm 1.432 tỷ đồng đầu tư

từ công chúng, còn nhà nước thu về 814 tỷ đồng; 72,5% các DN cổphần hoá có tỷ

lệ nắm giữ của tư nhân là trên 50%

Tuy nhiên trong quá trình cổ phần hoá còn hiều tồn tại như định giá DN, quá

trình hình thành giá trên thị trường, các thủ tục đăng kí mua, đặc biệt là việc tiếp

cận thông tin là một vấn đề rất khó khăn đối với các nhà đầu tư

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp

Nhà nước trên thế giới

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình tất yếu khách quan có

tính toàn cầu Thông qua nghiên cứu tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

của các quốc gia trên thế giới chúng ta có thể rút ra các bài học kinh nghiệm quý

giá và bổ ích về nhiều mặt

Trong các tài liệu bàn về mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước của

nhiều nước trên thế giới đều cho rằng: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các

DNNN” và “giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước” là hai mục tiêu đầu tiên và trực

tiếp Thực hiện được hai mục tiêu này sẽ góp phần đạt được các mục tiêu của cải

cách kinh tế và nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên tuỳ

Trang 24

theo hoàn cảnh và điều kiện của từng quốc gia mà có các quan điểm bổ sung ít

nhiều về hệ thống mục tiêu cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước

ở các nước tư bản chủ nghĩa, ngoài hai mục tiêu trên, cổ phần hoá các DNNN

còn thêm ba mục tiêu sau:

- Xoá bỏ độc quyền Nhà nước quy định cho một số DNNN Buộc các DN này

phải phát huy lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động so với khu vực

kinh tế tư nhân, thu hút các nhà đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực lâu nay Nhà nước

độc quyền nhưng giờ đây xét thấy không cần thiết nữa

- Tạo điều kiện để Nhà nước tập trung vào những ngành then chốt, mũi nhọn

đòi hỏi lượng vốn lớn và trình độ khoa học công nghệ cao, nâng cao sức cạnh tranh

của các sản phẩm quan trọng của đất nước trên thị trường thế giới

- Thực hiện phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp, tạo lập ổn

định về xã hội trong giai đoạn nên kinh tế đang lâm vào tình trạng trì trệ, khủng

hoảng

ở nhóm các nước đang phát triển, ngoài hai mục tiêu trên còn bổ sung thêm

một số mục tiêu mang tính đặc thù là:

- Giảm các khoản nợ nước ngoài đang ngày càng tăng do phải bù đắp các

khoản thâm hụt ngân sách để trợ cấp cho các DNNN

-Thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, đổi mới kỹ thuật và học tập quản lý,

tạo ra nền kinh tế mở cửa, tăng sức cạnh tranh của các DNNN, nâng cao chất lượng

hàng hoá và dịch vụ trong nước

- Tạo dựng và phát triển một thị trường tài chính trong nước hoàn chỉnh, bao

gồm thị trường tư bản, tài chính chứng khoán và tài chính tiền tệ

ở nhóm các nước Đông Âu dưới chính thể mới, ngoài hai mục tiêu trên còn

thêm ba mục tiêu sau:

- Giảm nhanh tỷ trọng kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế, xoá bỏ hệ thống kế

hoạch tập trung cao độ đang gây ra tình trạng kém hiệu quả của toàn bộ hoạt động

Trang 25

- Tạo lập hệ thống kinh tế thị trường và tăng nhanh kinh tế cổ phần hoá trong

nền kinh tế thị trường hỗn hợp có điều tiết của Nhà nước

- Xoá bỏ can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp,

chuyển DNNN thành đơn vị sản xuất hàng hoá có quyền tự chủ kinh doanh, đặc

biệt là tự chủ về tài chính

Để xác định đối tượng cổ phần hoá DNNN, Chính phủ các nước thường xuất

phát từ tầm quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, đem toàn bộ các DNNN phân

thành bốn loại:

- Các DNNN không hoặc chưa cổ phần hoá Đây là các DNNN toàn phần, do

Nhà nước thành lập và đầu tư vồn 100%, bao gồm các DNNN hoạt động công ích

và các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ có quan hệ lớn

đến quốc kế dân sinh và an ninh quốc phòng mà Nhà nước cần phải độc quyền

- Các DNNN được đưa vào diện cổ phần hoá để chuyển thành các Công ty cổ

phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân, trong đó Nhà nước vẫn cần nắm giữ quyền chi

phối hoặc kiểm soát với mức độ khác nhau tuỳ theo tỷ lệ cổ phần của Nhà nước

trong Công ty Đây là bộ phận DNNN chủ yếu cần phải tiến hành cổ phần hoá

- Các DNNN cần được tiến hành cổ phần hoá để chuyển thành Công ty cổ

phần tư nhân Nhà nước không nắm giữ quyền chi phối hoặc kiểm soát các Công ty

tư nhân, các Công ty được tự chủ trong kinh doanh, hoạt động theo pháp luật và

bình đẳng trước pháp luật

- Các DNNN làm ăn thua lỗ kéo dài nhiều năm, không còn khả năng hồi

phục, hoạt động trong các ngành nghề không thật cần thiết cho quốc kế, dân sinh,

cần kiên quyết cho giải thể, phá sản hoặc sát nhập vào các Công ty cổ phần tư nhân

nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

Hình thức cổ phần hoá DNNN được đề ra căn cứ vào mục tiêu của chiến

lược cải cách khu vực kinh tế Nhà nước nhằm phát triển nền kinh tế hỗn hợp cho

phép đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao Chủ yếu bao gồm:

Trang 26

- Bán đấu giá hoặc bán trực tiếp các DNNN vừa và nhỏ, hoạt động trong các

lĩnh vực thương nghiệp hoặc dịch vụ

- Giữ nguyên phần vốn Nhà nước trong DN, phát hành cổ phiếu và bán cho

tất cả những ai muốn mua thông qua sở giao dịch chứng khoán, qua đó thu hút

thêm vốn để đổi mới và phát triển DN Hình thức nay được sử dụng để cổ phần hoá

các DNNN có quy mô lớn

- Bán một phần vốn cố định của DNNN cho một nhóm cá nhân hoặc Công ty

mà họ có khả năng tài chính để cải cách hoạt động của DN cho có hiệu quả hơn

- Bán với giá thấp hơn giá thị trường cổ phiếu của DNNN cho cán bộ, công

nhân viên chức làm việc tại các DN đó hoặc cho những người nghèo có thu nhập

thấp nhằm giải quyết các vấn đề xã hội

Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN trên thế giới cho thấy: quá trình cổ phần

hoá DNNN là quá trình hình thành và phát triển các Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà

nước – tư nhân, thông qua con đường tư nhân hoá hoặc quốc hữu hoá

Tính đa dạng của mục tiêu cổ phần hoá quy định tính đa dạng của hình thức

cổ phần hoá, đồng thời cũng quy định tính đa dạng của phương pháp cổ phần hoá

Trang 27

Chương 2

Thực trạng tàI chính

ở công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không

trong tiến trình cổ phần hoá

2.1 KháI quát về tình hình hoạt động ở công ty cung ứng xuất nhập khẩu lao

động hàng không

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cung ứng xuất nhập khẩu

lao động hàng không

- Công ty Cung ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không ( Tên giao dịch

quốc tế là Aviation Labor Supply and Import- Export Company, viết tắt là

ALSIMEXCO) ( sau đây gọi tắt là Công ty) được thành lập theo quyết định số

1439/CAAV ngày 14/08/1997 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội, là

DNNN, đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt

Nam

Trang 28

- Công ty thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ

hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do Nhà nước và Tổng Công ty Hàng

không Việt Nam giao

- Hoạt động chính của công ty trong thời gian qua là:

+ Xuất nhập khẩu lao động chuyên ngành hàng không ( nhân viên làm việc

tại các hãng hàng không, tiếp viên, thợ kỹ thuật )

+ Xuất khẩu lao động phổ thông

+ Cung ứng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc tại các văn phòng

đại diện hàng không nước ngoài tại Việt Nam, cho các liên doanh giữa Tổng công

ty Hàng không Việt Nam với nước ngoài

+ Được uỷ quyền của tổng giám đốc làm các thủ tục đăng ký xin giấy phép

lao động cho người lao động nước ngoài làm việc cho Tổng Công ty Hàng không

Việt Nam

+Tư vấn, giới thiệu việc làm chuyên ngành hàng không cho người lao động

+ Làm đại lý bán vé máy bay cho các hãng hàng không

- Hiện nay công ty có các đơn vị trực thuộc như sau:

+ Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

+ Phòng bán vé máy bay tại Thành phố Hồ Chí Minh

+ Phòng bán vé máy bay tại Thành phố Hà Nội

+ Trung tâm xuất khẩu lao động

Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng bán vé máy bay tại

Thành phố Hà Nội và trung tâm xuất khẩu lao động thực hiện hạch toán báo số;

Phòng bán vé máy bay tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hạch toán trực thuộc,

chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh trong phạm vi hoạt động và vốn kinh doanh

được Công ty giao

2.1.2 Thực tiễn hoạt động

- Hiện tại, Công ty có 01 trụ sở chính và 04 đơn vị trực thuộc như đã nêu

Trang 29

thống máy móc, thiết bị văn phòng, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Công

ty

- Trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty đã đào tạo, rèn luyện được

đội ngũ cán bộ nòng cốt, có đủ năng lực và kinh nghiệm, trình độ chuyên môn,

trình độ ngoại ngữ và phẩm chất đạo đức tốt, đồng thời cũng đã tạo dựng được

những mối quan hệ tốt đẹp với các cơ quan hữu quan, đặc biệt với Cục quản lý xuất

nhập cảnh, Cục Hàng không dân dụng Việt Nam…, đảm bảo phục vụ hiệu quả cho

hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung và hoạt dộng cung ứng xuất nhập

khẩu lao động nói riêng, đặc biệt là lao động chuyên ngành hàng không trong thời

gian trước mắt cũng như việc phát triển hoạt động kinh doanh trong giai đoạn

2005- 2008

Chi tiết nguồn nhân lực và cơ cấu lao động của Công ty tại thời điểm

31/12/2004 được trình bày trong Bảng số 01 dưới đây:

Bảng số 01: Cơ cấu lao động của Công ty Cung ứng và XNK lao động

Trang 30

Sơ cấp và tương đương 2 8

Lao động tôt nghiệp PTTH hoặc

không kê khai trong hồ sơ

Lao động chuyên môn nghiệp

(Nguồn: Khái quát về môi trường và điều kiện sản xuất kinh doanh của Công

ty trong những năm qua)

- Tình hình thị trường và môi trường kinh doanh:

Thị trường và môi trường kinh doanh của công ty gồm:

+ Hoạt động kinh doanh của công ty chủ yếu tập trung vào hoạt động cung

ứng xuất nhập khẩu lao động hàng không, phục vụ cho Vietnam Airlines và các

hãng hàng không khác hoạt động tại Việt Nam

+ Ngoài ra, Công ty còn hoạt động trong lĩnh vực cung ứng và xuất nhập

khẩu lao động khác, gồm: tư vấn, đào tạo hướng nghiệp, xuất nhập khẩu lao động

Trang 31

+ Cung ứng dịch vụ đại lý bán vé máy bay cho Vietnam Airlines và các hãng

hàng không khác tại Việt Nam

+ Các hoạt động kinh doanh khác theo điều lệ Công ty

Nhìn chung trong những năm qua, Công ty hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực

cung ứng và xuất nhập khẩu lao động chuyên ngành hàng không, một lĩnh vực đến

thời điểm hiện nay vẫn còn ít sự cạnh tranh

Ngoài những hoạt động cung ứng và xuất nhập khẩu lao động hàng không,

Công ty đang triển khai phát triển dịch vụ cung ứng và xuất nhập khẩu lao động

khác, tư vấn du học, đào tạo và hoạt động đại lý bán vé máy bay Những hoạt

động này hiện nay tuy chưa phải là những lĩnh vực đem lại lơị nhuận chủ yếu cho

Công ty nhưng lại là những thị trường tiềm năng, nhằm phát huy những nguồn lực

hiện có của Công ty cũng như triển khai phát triển kinh doanh theo định hướng đa

dạng hoá ngành nghề, tạo sự phát triển ổn định và vững chắc của Công ty trong

thời gian tới

2.2 Thực trạng tài chính của công ty

2.2.1 Tình hình tài chính của Công ty trước khi cổ phần hoá

2.2.1.1 Chế độ quản lý tài chính

Công ty thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ tài chính trong kinh

doanh phù hợp với luật DNNN, các quy định khác của pháp luật, Điều lệ tổ chức và

hoạt động của Tổng công ty, Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty

 Vốn Điều lệ của công ty gồm có:

- Vốn được Tổng công ty giao tại thời điểm thành lập công ty

- Vốn do Tổng công ty đầu tư bổ sung

- Phần lợi nhuận sau thuế được bổ sung theo quy định hiện hành

- Các nguồn khác ( nếu có)

Khi tăng giảm vốn Điều lệ, công ty phải điều chỉnh kịp thời trong bảng cân

đối tài sản và công bố vốn Điều lệ của công ty đã được điều chỉnh

Trang 32

 Công ty được thành lập và sử dụng các quỹ để đảm bảo cho quá trình

phát triển của công ty đạt hiệu quả cao

Các quỹ của công ty được thành lập theo quy định tại Điều lệ của công ty và

theo Quy chế tài chính của Tổng công ty bao gồm:

- Quỹ đầu tư phát triển được lập từ phần trích lợi nhuận của công ty theo quy

định của Bộ Tài chính và Quy chế tài chính của Tổng công ty, lợi tức thu được từ

phần vốn của công ty góp vào công ty khác

- Quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích lập theo

hướng dẫn tại Quy chế tài chính của tổng công ty

Mức trích lập và trích nộp các quỹ nói trên và việc sử dụng các quỹ được quy

định trong Quy chế tài chính của Tổng công ty

 Tự chủ về tài chính:

Công ty hoạt động dựa trên nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối các

khoản thu chi; chịu trách nhiệm trước Tổng công ty và Nhà nước về việc bảo toàn

và phát triển các nguồn vốn kinh doanh của công ty kể cả phần vốn góp của các

công ty khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ tổ chức và hoạt động, Quy chế

tài chính của Tổng công ty

Công ty chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ ghi trong bảng cân đối tài

sản của công ty và các cam kết tài chính khác

Chịu sự kiểm tra, giá sát về hoạt động tài chính và các hoạt dộng kinh doanh

của Tổng công ty và cơ quan tài chính có thẩm quyền của Nhà nước

Mọi mối quan hệ tín dụng ( vay, cho vay và mua bán hàng trả chậm) giữa

công ty với đối tác bên ngoài công ty phải tuân thủ theo phân cấp và hạn mức với

một lần vay theo quy định trong Quy chế tài chính của Tổng công ty

Công ty có trách nhiệm xây dựng, trình kế hoạch tài chính và báo cáo tài

chính, bảng cấn đối tài sản và quyết toán hàng năm với Tổng công ty

Trang 33

Công ty có trách nhiệm nộp các loại thuế, các khoản nộp khác theo quy định

của pháp luật hiện hành Trường hợp tài sản do Tổng công ty điều động đến đơn vị

theo hình thức ghi tăng giảm vốn không phải nộp thuế trước bạ

Lợi nhuận mà công ty thu được từ phần vốn góp vào các công ty khác không

phải nộp thuế lợi tức nếu công ty này đã nộp thuế lợi tức trước khi chia cổ tức cho

các bên góp vốn

Trách nhiệm vật chất của công ty trong các mối quan hệ kinh doanh và quan

hệ dân sự được giới hạn ở mức tổng số vốn Điều lệ của công ty tại thời điểm công

bố gần nhất

Công ty phải thực hiện nghiêm chỉnh Pháp lệnh kế toán tống kê, chế độ kế

toán và báo cáo tài chính hiện hành đối với DNNN

2.2.1.2 Tình hình tài chính thực tế

 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty tại thời điểm 31/12/2004

được trình bày tại Bảng số 02 dưới đây:

Bảng số 02: Bảng cân đối kế toán trong 3 năm 2002, 2003, 2004

- Tiền mặt tại quỹ 111 140274920 50338925 236527118

- Tiền gửi Ngân hàng 112 3873776050 4366734883 4535084706

- Phải thu của khách hàng 131 490820550 299263494 809909980

Trang 34

- Thuế GTGT được khấu trừ 133 - - -

- Các khoản phải thu khác 138 66145350 45958712 18200572

- Công cụ, dụng cụ trong kho 143 - 2930000 2930000

B TSCĐ và đầu tư dài hạn 200 450900650 377209831 302378161

Trang 35

- Đầu tư chứng khoán DH 221 - - -

- Dự phòng giảm giá đầu tư

DH

- Phải trả cho người bán 313 350656635 570935494 982490388

- Người mua trả tiền trước 314 2800790 - 17104730

- Thuế và các khoản phải nộp 315 456925465 513914026 1102419509

- Phải trả công nhân viên 316 130000000 99163000 172722304

- Nguồn vốn kinh doanh 411 2058930715 2077493697 2104903219

- Chênh lệch đánh giá lại tài

Ngày đăng: 22/03/2013, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 01: Cơ cấu lao động của Công ty Cung ứng và XNK lao động - Giải pháp tài chính nhằm  thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng  và Xuất nhập khẩu Lao động  Hàng không
Bảng s ố 01: Cơ cấu lao động của Công ty Cung ứng và XNK lao động (Trang 29)
Bảng số 02: Bảng cân đối kế toán trong 3 năm 2002, 2003, 2004 - Giải pháp tài chính nhằm  thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng  và Xuất nhập khẩu Lao động  Hàng không
Bảng s ố 02: Bảng cân đối kế toán trong 3 năm 2002, 2003, 2004 (Trang 33)
Bảng số 04: Bảng phân tích tình hình chi phí trong các năm - Giải pháp tài chính nhằm  thúc đẩy hoạt động ở Công ty Cổ phần Cung ứng  và Xuất nhập khẩu Lao động  Hàng không
Bảng s ố 04: Bảng phân tích tình hình chi phí trong các năm (Trang 38)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w