P1 Tổng quan thành phần hóa học thân cây dó bầu
Trang 11 TONG QUAN
Cây đó bau cé tén khoa hoc 1a Aquilaria crassna Pierre, thuộc họ Trầm
huong (Thymelacaceae).[1]
1.1 Nguôn gốc và phân bố
Trên thế giới chỉ Aguilaria gồm khoảng 15 loài, phân bố chủ yếu ở khu
vực nhiệt đới từ Ấn Độ đến Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc Ở nước ta,
hiện có bốn loài (A crassna, A banaensis Phamh, A baillonii Pierre ex Lecomte
và A ruginosa) cây dó bầu mọc ở những vùng núi hướng về phía có gió biển nên
ta thường gặp ở vùng phía Đông Trường Sơn hơn là phía Tây, trong rừng rậm
nhiệt đới thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, đặc biệt
là từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng
Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình
Thuận đến Tây Nguyên, An Giang,
Kiên Giang và đảo Phú Quốc [3]
1.2 Mô tả thực vật
Dó bầu là một loại cây gỗ
xanh, cao đến 15-30 m, đường kính
thân khoảng I—1.5 m, thân thẳng
Lá đơn, mọc cách, cuống lá dai 4-6
mm, kích thước 8-15 x 2.5-9 cm
Hoa nhỏ có hình chuông màu vàng
lục, trắng nhạt hoặc vàng xám Quả
có hình quả lê, dài 4 cm, đường kính
Hình 1: cây đó bầu
Trang 2
Hình 2: quả dó bầu Hình 3: hạt dó bầu
1.3 Tính chất đặc thù của cây đó bầu
Cây dó bầu có kha năng hình thành một loại sản phẩm đặc biệt là trầm
hương và kỳ nam có giá trị thương mại rất cao Những nghiên cứu trước đây cho
biết không phải bất kỳ thân cây đó bầu nào cũng có trầm và kỳ nam Chỉ có một
số cây có bệnh mới chứa trầm ở phần lõi của thân cây và quá trình này chỉ xảy
ra với cây dó còn sống.[3]
Các khối trầm thường được tạo
thành trong thân cây hoặc trong những
cành lớn, chúng là kết quả của cả một
quá trình các bệnh lý ở những nơi cây
bị bệnh, bị thương Nấm và các côn ©
Hình 4: thân cây dó bầu bị bệnh
trùng đục thân cây được xem là có mối liên hệ nào đó Có giả thuyết cho rằng,
trước tiên cây bị nấm gây bệnh tại những chỗ bị thương làm cho cây bị suy yếu,
tiếp đó nấm thâm nhập vào cây và các khối trầm được tạo thành Tuy nhiên, quá
Trang 3trình chuyển hóa để tạo thành các hợp chất hóa học trong trầm vẫn còn là vấn
để bí ẩn và nằm ngoài hiểu biết của con người
1.4 Sơ lược về trầm hương và kỳ nam[2]
Căn cứ vào hàm lượng tinh dầu có trong gỗ trầm hình thành từ cây đó bầu
có thể cho những sản phẩm như trầm hương và kỳ nam
— Trầm hương: gỗ trầm hương nặng hay nhẹ phụ thuộc vào chất lượng dau trong gỗ, lượng dầu nhiều thân gỗ đặc thì chìm trong nước, lượng dâu ít thân gỗ rỗng thì nổi lên trên mặt nước Trầm có vị đắng, màu đen, mùi thơm nhẹ nhàng Khi đốt cháy trầm hương bốc khói lên hình vòng rồi tan biến nhanh trong không khí
- Kỳ nam: có màu nâu đậm hay màu bạc, nặng chìm trong nước, gỗ kỳ
nam nặng và nhuyễn, khi nhai có vị cay và dẻo Kỳ nam chứa nhiều tỉnh dầu nên
khi cháy tạo ngọn lửa màu xanh, khói lên thẳng và cao, bay lơ lửng trong không
khí rất lâu
Muốn phân biệt kỳ nam tốt hay xấu thì người ta quan sát loại nào có xớ
nhuyễn, mịn, có nhiều tinh đầu là tốt, còn loại nào rắn chắc và ít tỉnh dẫu là xấu
Người ta thường gói kỳ nam trong lá chuối thật kín rồi đem ra phơi nắng, đến tối đem vào nếu có nhiều chất dầu chảy ra là tốt Muốn giữ kỳ nam được tốt và lâu
thì nên bọc vào giấy thiếc và bỏ vào hộp có nắp đậy kín để tính dâu khỏi bay hơi hoặc chẩy ra
Hình 5: trầm hương Hình 6: ky nam
Trang 41.5 Công dụng của trầm hương và kỳ nam.[2]
Trầm hương và kỳ nam của ta rất có giá trị trên thị trường quốc tế, nhất là đối với Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản Đó là những hương liệu
quý giá trong việc điều chế các loại nước hoa hảo hạng, một số xà phòng tắm và
nhất là nhang trầm
Theo Đông y, kỳ nam dùng để trị các chứng độc thủy do phong thổ gây
nên, làm tiêu chứng chướng mãn, no hơi, đau bụng, ói mửa, hen suyễn thở gấp,
hạ được nghịch khí, thông chứng bế do khí hư gây nên Mài từ ba phân tới một
chỉ, tùy theo tuổi lớn hay nhỏ mà hoà với nước lạnh hoặc bổ vào nước đun sôi
mà uống
Người ta thường xông trầm trong nhà để trừ khí độc và thường mang kỳ
nam trong người để trừ sơn lam chướng khí
Trầm được sử dụng làm hương thắp trong các dịp lễ hội của các tín dé dao
Phật, đạo Khổng và đạo Hindu ở khắp các nước Đông Á, Nam Á và Đông Nam
Á Tại Thái Lan, trầm được sử dụng khi hod tang thi hài người chết
Tinh dầu trầm có giá trị đặc biệt, được dùng trong công nghệ chế biến các
loại chất thơm, các loại nước hoa cao cấp, đắt tiền Mùi của trầm vừa phẳng
phất mùi của tính dầu định hương, vừa có mùi thơm của hoa hồng Các hoá mỹ
phẩm có chứa tinh dầu trầm rất được ưa chuộng, đặc biệt ở khu vực Trung Đông
và Ấn Độ
Trong y học cổ truyền ở nước ta, trầm hương được coi là vị thuốc quý, hiếm, có vị cay, tính hơi ôn, vào ba kinh tỳ, vị và thận, có tác dụng giáng khí,
nạp thận, bình can, tráng nguyên dương; được dùng chủ yếu để chữa các bệnh
Trang 5đau ngực, đau bụng, nôn mứửa, tiêu chấy, bổ dạ day, hen suyễn, lợi tiểu, giảm
dau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu và khó thở
Trong y học ở phương Tây, ở Ấn Độ và Trung Quốc, hương trầm được sử
dụng để điều trị bệnh ung thư, đặc biệt là với bệnh ung thư tuyến giấp trạng
Nền y bọc dân tộc Thái Lan lại dùng trầm để điều trị các bệnh tiêu chay, lợi tiểu, hạ sốt, chống nôn, bổ huyết và trợ tìm Hương trầm được dùng để thắp xua muối và côn trùng có hại
Đăm gỗ trầm cũng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt
là chữa bệnh thấp khớp, bệnh đậu mùa, bệnh đau bụng và dùng cho phụ nữ sau khi sinh con
— Chống chỉ định:
+ Trầm kỳ là thuốc trụy thai, nên đàn bà có thai không nên uống hoặc
mang trong minh, c6 thé lam say thai
+ Những người suy nhược và biếng ăn, suy gan không nên dùng tram,
kỳ
~ Tương khắc trầm kỳ có tính ky hỏa, thành thử không nên uống chung trầm, kỳ với những loại thuốc có tính chất thuộc hành héa tinh theo âm đương
ngũ hành
1.6 Một số nghiên cứu thành phần hoá học trên trầm hương
Năm 1982, Yasuo Shimada và cộng sự đã cô lập được sáu dẫn xuất của
chromon từ trầm hương vùng Kalimanta là agaroterol (1), isoagaterol (2), 6- hidroxi-2-(-phenileil)chromon (3), 6-metoxi-2-(2-pheniletil}chromon (4), 6- metoxi-2-[2-(3-metoxipheniletil)|chromon (5), 6,7-dimetoxi-2-(- phenileul)chromon (6).[5]
Trang 6
(4) Ry = OCH;, Ry =R =H
(6) R, = Rạ= OCH,, R,= H
Năm 1984, Nakanishi và cộng sự đã thực hiện việc so sánh thành phần
hóa học bằng phương pháp GC/MS của hai loại tính dầu trầm hương: A
agallocha Roxb (nguồn gốc tại Việt Nam), A malaccensis (nguồn gốc từ Indonesia) Kết quả được trình bày trong bảng 1.{6]
Trang 7Bảng 1 Kết quả GC/MS của hai tính đầu trầm hương
A.agallecha va A.malaccensis
Hợp chất A agallocha Roxb | A.malaccensis
&-Agarofuran 0.6
Nor-celoagarofuran 9.6 _
Jinkohol - 5.2
Dihydrokaranon 2.4 -
Năm 1985, Keiji Hashimoto d& cé lap dude hai chromon la 2-(2- pheniletiljchromon (7), 2-[2(4'-metoxipheniletil]chromon (8) [7]
Oo
Ty nim 1986 dén nim 1988, Kyoshi Iwagoe và cộng sự đã cô lập được
5,8-dihidroxi-2-(2-phenileuil)chromon (%, 6,7-dimetoxi-2-[2(4’-
metoxipheniljetil}jchromon (19), (58,65, 7R)-2~[2-(2’
Trang 8-acetoxipheniletil]-5,6,7-triacetoxi -~5,6,7,8,5-pentahidrochromon (11), (5S,6S,7R,SS)-2-(2-pheniletil-
6,7,8-trihidroxi-5,6,7 ,8-tetrahidro-5-[2-(pheniletil)chromonil-6-oxi]chromon (12),
2,2’ -di-(2-pheniletil)-8,6’-dihidroxi-5,5’-bichromon (13), (5S,68,7R,85)-2-(- pheniletil6,7 ,8-trihidroxi-5,6,7 ,8-tetrahidro-5-[2-(pheniletil)-7-
hidroxichromonil-6-oxilchromon (14), bi-(58,6S8,7R,8S)-2—(2-pheniletil)-6, 7,8- trihidroxi-5,6,7,8-tetrahidro-5-[2-(pheniletilchromonil-6,7-dioxi]chromon
(15).[8],[9), [10]
R, > Sy 4
| [? 12 6°
)
R 2 N 5 10 4 (9) R,=OH, Ry=H ` ọ `
°
R
(11): R=CH,CO
Trang 1010
Năm 1989, Tenji Konishi và cộng sự đã cô lập được (5S,6S,7R,8R)-2-(2- pheniletil)-5,6,7,8”-tetrahidroxi-5,6,7,8-tetrahidroxichromon (16) 1 1]
Năm 1991, Tenji Konishi đã cô lập ba dẫn xuất là 5œ,6B,7B-trihidroxi-8œ-
metoxi-2-(2-pheniletil)-5,6,7,8-tetrahidrochromon(17), 5œ,6B,7B,8œ-tetrahidroxi- 2-[2-(2-hidroxiphenil)etil]-5,6,7,8-tetrahidrochromon (18), mét trimer hình thành
từ 2-(2-pheniletil)chromon và hai phân tử agarotetrol gan tai Cg¢ va C55: (19).[12]
Trang 1111
OR, O
Năm 1992, Tenji Konishi da cé lap hai pheniletilchromon là
(5S,6R,7S,8R, 12R)—12—hidroxiisoagarotetrol va xuyén lap thé phan tai C-
12.13]
[bH.KH.TỰ NHIÊN
THU VIEN
01446
Trang 12
Nam 1995, Regular Naf va cOng sự đã tiến hành nghiên cứu thành phan
hóa học tỉnh đầu của một mẫu trầm hương có nguồn gốc từ Ấn Độ (A agallocha Roxb.), sau khi đem phân tích mẫu tình đầu bằng các phương pháp GC/MS thu
được các kết quả saul{ 14]
Trang 1313
Bang 2 Kết quả GC/MS của mẫu trầm hương A agallocha ở Ấn Độ
01 (S)-4a-metil-2-(1-metiletil)-3,4,4a,5,6,7-hexahidronaptalen 0,6
04 4-Phenil-2-butanon 3,5
05 a-Vetispiren 1,8
06 (1R,2R)-9-isopropil-2-metil-8-oxatriciclo[7.2.1 0'*]-4,6-dodecadien | 6,6
07 (1R,2R)-9-isopropil-2-metil-8-oxatriciclo[7.2.1 0'°]-5-dodecen 3,3
08 (2R,4aS)-2-(4a-metil-1,2,3,4,4a,5,6,7-octahidro-2-naptil)propanol 0,7
11 2-(1,2,3,5,6,7,8,8a-Octahidro-8 ,8a-dimetil-2-naptil)propanal 0,5
15 (1S,2S,6S,9R)-6, 10, 10-trimetil-1 1-oxatriciclo[7.2.1.0'°]dodecan-2- 0,9
carbaldehid
17 (5R,10R)-2-isopropiliden- 10-metil-spiro[4.5]-6-decen-6-carbaldehid | 1,1
18 (2R,8S,8aS)-2-(1,2,6,7,8,8a-hexahidro-8,8a-dimetil-2-naptil)-2- 4,4
propanol
19 (5R,7S,10R)-2-isopropiliden-10-metil-6-metilen-spiro[4.5]-7-decanol 0,6
21 (2R,8R,8aS)-2-(1,2,3,5,6,7,8,8a-octahidro-8,8a-dimetil-2-naptil)-2- 2,7
propenol
Trang 1414
Nam 2005, Torn Yagura di cé lap 5,6,7,8-diepoxi-2-—(2-pheniletil)—5,6,7,8- tetrahidrochromon (24), 5,6,7,8-diepoxi-2?—[2-(4’-metoxipheniDetil]—5,6,7,8- tetrabidrochromon (22), 5,6,7,8~-diepoxi-2-[2-(3’—hidroxi-4— metoxiphenibetil|—3,6,7,8- tetrahidrochromon (23){15]
(24): Ry=R,=H
(22): R,=OCH,, Ro=H