Dạy thì sức khỏe sinh sản- tình dục
Trang 3Báo cáo chuyêN đề
Dậy thì – Sức khỏe tìNh Dục – Sức khỏe SiNh SảN ở thaNh
thiếu NiêN Việt Nam
BS Đào Xuân Dũng chuyên gia độc lập
hà Nội 2010
Trang 5Lời nói đầu
Sự phát triển của vị thành niên và thanh niên luôn là vấn đề được quantâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đây là thế hệquyết định đến tương lai và vận mệnh của đất nước Ở Việt Nam, vị thành niên
và thanh niên tuổi từ 14 – 25 là nhóm dân cư đông nhất, chiếm gần một phần
tư dân số cả nước (khoảng trên 20 triệu người – Tổng cục Thống kê, điều tradân số và nhà ở năm 2009) Việc nắm bắt được những đặc điểm cơ bản liênquan đến đời sống xã hội, thái độ, nguyện vọng, những thách thức trong sựphát triển của nhóm dân số này là điều hết sức quan trọng
Trong khuôn khổ Dự án phòng chống hIV/AIDS cho Thanh niên, Tổngcục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (TcDS-KhhGđ) và Tổng cục Thống kê
đã thực hiện cuộc điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam(Survey Assessment of Vietnamese youth- gọi tắt là SAVy) lần thứ 2
điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên (lần 1 và 2) là cuộcđiều tra lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên Việt Nam cuộc điều tra lần
2 có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế, từ trungương đến địa phương, với sự tham gia của 10.044 thanh thiếu niên từ 14 - 25tuổi tại 63 tỉnh/thành phố, từ đô thị tới nông thôn và miền núi xa xôi hẻolánh Kết quả SAVy 2 mang lại một bức tranh khá toàn diện về giới trẻ ViệtNam hiện nay cũng như những thay đổi của họ so với những người cùng lứa 5năm trước đây SAVy2 giúp chúng ta thấy được các vấn đề liên quan đến sựphát triển của vị thành niên và thanh niên như giáo dục, việc làm, tình trạngsức khoẻ - sức khoẻ sinh sản, hIV/AIDS, sử dụng các chất kích thích, tai nạnthương tích, bạo lực Bên cạnh những mặt tích cực, SAVy2 cũng cho thấythanh thiếu niên hiện đang phải đối mặt với những thách thức nhằm thích ứngvới môi trường kinh tế xã hội đang ngày càng biến chuyển sâu rộng Nhómthanh thiếu niên các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn phải đương đầuvới những khó khăn về điều kiện vật chất, học tập và việc làm cuộc điều tragiúp chúng ta hiểu sâu sắc thêm suy nghĩ, thái độ, mong ước và hoài bão củagiới trẻ Việt Nam trong cuộc sống hiện tại và hướng đến tương lai Kết quảchung của SAVy2 được công bố vào tháng 6/2010
Trên cơ sở dữ liệu của cuộc điều tra, được sự hỗ trợ về tài chính của Ngânhàng phát triển châu á và hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên hợp quốc(uNFPA), Tổng cục DS-KhhGđ đã phối hợp với các nghiên cứu viên trongnước biên soạn 9 báo cáo phân tích sâu theo chủ đề và 9 tài liệu tóm tắt chínhsách các chủ đề bao gồm:
Trang 61.Giáo dục
2.Việc làm của thanh thiếu niên Việt Nam
3.Dậy thì-Sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam
4 Sức khỏe tâm thần của vị thành niên và thanh niên Việt Nam
5.Thanh thiếu niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phươngtiện truyền thông đại chúng
6 Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về một số vấn đề xã hội
7 chấn thương và bạo lực ở thanh thiếu niên Việt Nam
8 Sử dụng rượu bia và thuốc lá trong thanh thiếu niên Việt Nam
9 Kiến thức và thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hIV/AIDS vànhững người có hIV/AIDS
chúng tôi hi vọng rằng những phát hiện về cuộc sống xã hội, thái độ, hoàibão của vị thành niên và thanh niên Việt Nam và những khuyến nghị về chínhsách trong 9 báo cáo này sẽ góp phần hữu ích trong việc hoạch định và thựcthi các chính sách và chương trình nâng cao sức khỏe và phát triển toàn diệncủa thanh thiếu niên nước nhà
Tổng cục DS-KhhGđ trân trọng cảm ơn Ngân hàng phát triển châu á
đã tài trợ cho cuuộc điều tra chúng tôi xin trân trọng cám ơn Quỹ Dân sốLiên hợp quốc (uNFPA) đã hỗ trợ kỹ thuật cho việc xây dựng các báo cáochuyên đề và tóm tắt chính sách SAVy2; cảm ơn giáo sư Robert Blum, đạihọc Johns hopkins (Mỹ) và các chuyên gia Việt Nam đã hỗ trợ kỹ thuật vàđóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình phân tích số liệu và hoàn thiệncác báo cáo
chúng tôi đánh giá cao sự tận tâm và say mê của các tác giả của 9 báo cáo
là Ts.Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học); Ts.Nguyễn hữu Minh, Ths.Trần Thịhồng (Viện Gia đình và Giới); Ts.Nguyễn Thanh hương, Ts.Lê cự Linh (đạihọc y tế công cộng); Ts.Bùi Phương Nga (chuyên gia độc lập); Ths NguyễnThị Mai hương (Trung tâm Nghiên cứu phát triển y tế cộng đồng), Ths.Nguyễn đình Anh (Vụ Truyền thông và giáo dục- Tổng cục Dân số-KhhGđ), Ths Ngô Quỳnh An (đại học Kinh tế quốc dân), Ths.NguyễnThanh Liêm, Ths Nguyễn hạnh Nguyên, Ths.Vũ công Nguyên (Viện Xã hộihọc), Bs đào Xuân Dũng (chuyên gia độc lập)
Trang 7Dù đã có nhiều cố gắng song các báo cáo phân tích sâu theo chủ đề nàykhông tránh khỏi những thiếu sót Tổng cục DS-KhhGđ rất mong nhận được
ý kiến đóng góp quý báu của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước quantâm đến thế hệ trẻ Việt Nam để các báo cáo được hoàn thiện hơn
chúng tôi hân hạnh giới thiệu các báo cáo phân tích sâu theo chủ đề vàkhuyến nghị chính sách tới tất cả các nhà quản lý, các nhà khoa học, các tổchức trong nước và quốc tế quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và pháttriển toàn diện của vị thành niên và thanh niên Việt Nam
ts Dương Quốc trọng
Tổng cục trưởngTổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
Trang 8DaNh Sách BaN Điều hàNh Điều tra Quốc gia
Về Vị thàNh NiêN Và thaNh NiêN Việt Nam lầN thứ 2
ts.Nguyễn Bá thuỷ, Thứ trưởng Bộ y tế, Trưởng ban
ts.Dương Quốc trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá
gia đình, Phó trưởng ban
Ông Ngô khang cường, Nguyên Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục,
Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình, Phó trưởng ban
Bà trần thị thanh mai, Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục, Tổng
cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình
Ông Nguyễn Duy khê, Vụ trưởng Vụ bảo vệ Bà mẹ Trẻ em, Bộ y tế.
Bà Nguyễn thị hoà Bình, uỷ viên đoàn chủ tịch, Giám đốc Trung tâm
hỗ trợ phụ nữ phòng chống hIV/AIDS và chăm sóc sức khoẻ sinh sản hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
-Ông Phùng khánh tài, uỷ viên Thường vụ Trung ương đoàn Thanh niên
cộng sản hồ chí Minh
Ông Nguyễn Văn kính, Nguyên Phó cục trưởng cục Phòng chống
hIV/AIDS, Viện trưởng Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, Bộ y tế
Bà lê thị hà, Phó cục trưởng cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội
Ông Nguyễn Đình chung, Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Xã hội và Môi
trường, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch - đầu tư
Ông lã Quý Đôn, Phó Vụ trưởng Vụ công tác học sinh - sinh viên, Bộ
Giáo dục và đào tạo
Trang 9Nhóm tác giả Viết Báo cáo chuyêN Đề Và tóm tắt chíNh Sách Điều tra Quốc gia Về Vị thàNh NiêN Và thaNh NiêN Việt Nam
ths Ngô Quỳnh an,đại học Kinh tế Quốc dân
ths Nguyễn Đình anh, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục,
Tổng cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình
Bs Đào Xuân Dũng,chuyên gia độc lập
ths trần thị hồng, Viện Gia đình và Giới
ts Nguyễn thanh hương,đại học y tế công cộng
ths Nguyễn mai hương,Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển y
tế cộng đồng (ccRD)
Pgs.ts Vũ mạnh lợi,Trưởng phòng Xã hội học Gia đình, Viện Xã hộihọc, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Pgs ts.lê cự linh,đại học y tế công cộng
ths Nguyễn thanh liêm, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển
ts Nguyễn hữu minh,Viện trưởng Viện Gia đình và Giới
ts Bùi Phương Nga,chuyên gia độc lập
ths Nguyễn hạnh Nguyên,Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển
ths Vũ công Nguyên,Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển
chuyên gia quốc tế:
Giáo sư robert Blum, chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật, đại học Johns hopkins
Trang 10mục lục
1 giới thiệu chuNg 9
2 Dậy thì 9
2.1 có kinh /Xuất tinh lần đầu không phải là bắt đầu tuổi dậy thì 9
2.2 Nguồn và sự chia sẻ thông tin 11
3 hàNh Vi Và thái Độ Với tìNh Dục 12
3.1 Tuổi quan hệ tình dục lần đầu 12
3.2 Nơi quan hệ tình dục lần đầu 14
3.3 Quan hệ tình dục trước hôn nhân 15
3.4 Thay đổi ở quan hệ tình dục trước hôn nhân từ SAVy1- 2 18
3.5 Bạn tình 19
3.6 Sống thử, nên hay không nên ? 20
3.7 Mại dâm 21
3.8 Tình dục đồng giới và rối loạn bản sắc giới 23
3.9 Bạo hành tình dục 24
4 Sức khỏe SiNh SảN 25
4.1 hiểu biết về bệnh lây truyền theo đường tình dục 25
4.2 hiểu biết và thái độ đối với các biện pháp tránh thai 27
4.3 hiểu biết và thái độ đối với sử dụng bao cao su 28
4.4 Nhận thức về sinh lý thụ thai 32
4.5 Nạo phá thai 35
4.6 Tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS 35
tài liệu tham khảo 37
Trang 111 Giới thiệu chung
điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh
niên Việt Nam (tên viết tắt tiếng Anh là SAVy) là
cuộc điều tra lớn nhất và toàn diện nhất về thanh
thiếu niên Việt Nam SAVy 1 đã được tiến hành
vào năm 2003 và SAVy2 được thực hiện năm
2008 Mẫu điều tra của SAVy 2 bao phủ 63 tỉnh,
với 10.044 thanh thiếu niên tham gia cuộc điều tra
các câu hỏi điều tra trong SAVy2 được thiết kế để
đảm bảo khả năng so sánh giữa SAVy2 với SAVy
1, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, trong đó có
Dậy thì - Sức khoẻ tình dục - Sức khỏe sinh sản
Những dữ liệu thu thập được từ 2 cuộc khảo sát lớn chưa từng có ở nước ta là SAVy 1 và 2 vềDậy thì, Sức khoẻ tình dục (SKTD) và Sức khoẻ sinh sản (SKSS) sẽ là nguồn thông tin rất có ích
để đánh giá một giai đoạn phát triển quan trọng của đời người là tuổi vị thành niên và thanh niên
- nguồn nhân lực tiềm năng của đất nước Khoảng cách giữa 2 cuộc điều tra là 5 năm (2003 và2008) rất thích hợp để có thể so sánh những dữ liệu, nhận định những tiến bộ cũng như phát hiệnnhững vấn đề còn tồn tại, nhất là khi xã hội ta cũng đang diễn ra những biến đổi lớn ở thập kỷ thứ
2 của công cuộc đổi Mới
Mặc dầu bộ câu hỏi của SAVy 1 và 2 đã được thiết kế để thu thập một lượng lớn thông tin liênquan đến Dậy thì – Sức khoẻ tình dục – Sức khoẻ sinh sản nhưng vẫn nằm trong khung cảnh mộtcuộc điều tra toàn diện chứ không phải chuyên đề, vì vậy có những vấn đề chưa thể khai thác sâu(tuổi bắt đầu dậy thì, bản sắc giới…)
Dựa trên kết quả khảo sát của SAVy 2, báo cáo này trình bày nhiều vấn đề về SKSS và SKTD
mà thanh thiếu niên Việt Nam đang đối diện Tuổi dậy thì và sự trưởng thành thể chất chỉ được đềcập đến một cách ngắn gọn, trọng tâm của báo cáo tập trung đánh giá sự hiểu biết, thái độ và hành
vi liên quan đến SKSS, SKTD nhằm đề xuất được những chính sách và chương trình can thiệp Vìthế, báo cao tuân thủ những hướng dẫn sau:
1) Tôn trọng những thông tin quan trọng dựa trên kết quả của 2 cuộc khảo sát đem lại.2) So sánh kết quả khảo sát của SAVy1 và 2 khi có thể
3) Người viết báo cáo đưa ra những nhận xét/ bình luận với các chủ đề nêu ra
Trang 122 dấu hiệu này chỉ chứng tỏ nam nữ đã có khả năng sinh sản hơn là thời điểm bắt đầu dậy thì
vì có nhiều dấu hiệu khác còn xuất hiện trước cả 2 dấu hiệu nói trên mà vẫn được coi là những dấuhiệu đặc trưng của giai đoạn dậy thì Theo y văn, tuổi dậy thì (thường kéo dài vài năm) diễn ra theo
5 giai đoạn (phân loại Tanner) và thường bắt đầu khoảng tuổi 8 – 13 cho nữ và 9 – 14 cho nam, ví
dụ với nữ lớn phổng, cấu hình cơ thể thay đổi, mông đùi đã nở nang và vì thế vóc dáng đã có đườngcong Vú hình chũm cau rồi to dần, nhạy cảm đau nhận thấy sớm hơn nhiều so với sự ra kinh lầnđầu - dấu hiệu xuất hiện muộn của cả giai đoạn dậy thì
Theo phân loại của Tanner, tỷ lệ (incidence) có kinh lần đầu ở các giai đoạn dậy thì như sau:Giai đoạn I : 0%
Giai đoạn II : 0%
Giai đoạn III: 25%
Giai đoạn IV: 65%
Giai đoạn V : 10%
(Kulig JW Adolescent menstrual disorders In: Strasburger Vc, ed Adolescent
Gynecology: an office guide Baltimore: urban & Schwarzenberg; 1990)
Với nam giới cũng vậy, mộng tinh/xuất tinh lần đầu cũng diễn ra muộn ở giai đoạn dậy thì.Xác định các giai đoạn dậy thì của thiếu niên Việt Nam xứng đáng để có một nghiên cứu toàn diện
và sâu hơn: Những biểu hiện tuổi dậy thì ở thanh thiếu niên nước ta bắt đầu từ tuổi nào ? Dấu hiệunào xuất hiện sớm nhất để từ đó có những khuyến cáo về những gì bất thường
Phù hợp với văn liệu trên thế giới, các em gái sống ở thành thị bắt đầu hành kinh sớm hơn các
em gái ở nông thôn, nhất là các em gái dân tộc thiểu số, phần lớn số này cũng sống ở khu vực nôngthôn Trên thực tế, các em gái sống ở thành thị hành kinh lần đầu sớm hơn gần 1 năm so với các emgái người dân tộc thiểu số
Trang 13Sự khác biệt giữa các em nam thành thị và nông thôn cũng tương tự tuy nhiên không lớn nhưgiữa các em gái.
2.2 Nguồn và sự chia sẻ thông tin
Nguồn thông tin liên quan đến tuổi dậy thì, tính chung cả nước, Tivi (TV) chiếm tỷ lệ caonhất (58,5%) ở SAVy2 ; với các em gái, mẹ là nguồn thông tin quan trọng trong việc cung cấpthông tin về tuổi dậy thì nhưng đối với các em nam thì cả cha mẹ đều không phải là nguồn tin chính
TV và tiếp theo là thầy cô giáo, sách báo là những nguồn thông tin quan trọng khác đối với các emgái và là nguồn thông tin có ý nghĩa nhất đối với các em trai (bảng 2)
Khi thanh thiếu niên được hỏi có chia sẻ với người khác về nhiều vấn đề của tuổi dậy thì không(bảng 3) thì 3/ 4 trong số họ đều thừa nhận “có nói” với cả tình yêu và dậy thì Tuy nhiên, với cácchủ đề khác như thai nghén, kế hoạch hoá gia đình (KhhGđ), các phương pháp tránh thai, tìnhdục, hôn nhân thì dữ liệu thu được lại thể hiện sự dè dặt, kín đáo (bảng dưới đây).Và cán bộ y tếcũng không phải là nguồn tin cậy của họ.Tại sao ? có thể lý giải rằng những vấn đề thai nghén,tránh thai (các phương pháp KhhGđ), hôn nhân đã trở thành riêng tư và số đông đã có thể đủhiểu biết để tự tìm kiếm giải pháp/sự lựa chọn cho mình, không cần đến sự giúp đỡ/tư vấn củangười khác Ðiều này có cơ sở vì những dữ liệu về nguồn thông tin mà thanh thiếu niên tiếp cậnnhiều nhất và đã nâng cao được hiểu biết là TV, ấn phẩm (gồm sách, báo, tạp chí, sách nhỏ), tiếptheo mới là cha mẹ hay bạn bè
Thainghén/Kếhoạch hoá giađình
1 Sách do chương trình cung cấp (SAVY2), Việt Nam, bảng 5.2.1
cha mẹ là những người đầu tiên thanh thiếu niên chia sẻ, chiếm tỷ lệ cao nhất (45%), tiếptheo là bạn bè (12,8%), anh chị (4,39%) Những dữ liệu này chứng minh mối quan hệ gần gũi vàtin cậy giữa cha mẹ và con cái Từ lâu, các chuyên gia về giáo dục giới tính (GDGT) đã coi gia đình
là môi trường có ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách theo kỳ vọng của xã hội và cung cấp
Trang 14những hiểu biết về sinh lý sinh sản cho vị thành niên Không ai có thể làm tốt hơn người mẹ trongviệc giúp con gái hiểu biết về sự phát triển thể chất, cơ chế kinh nguyệt và cả những vấn đề về vănhoá ứng xử, giao tiếp Và người bố cũng có thuận lợi hơn người mẹ khi con trai đến tuổi dậy thì vàgặp những vấn đề về giới tính Mối quan hệ bố - con như “2 người đàn ông” được vun trồng từ nhỏđặt nền móng thuận lợi để đến tuổi vị thành niên (VTN), trẻ dễ dàng chấp nhận chia sẻ với bốnhững vấn đề về tình bạn, tình yêu hay lựa chọn nghề nghiệp
Ở SAVy2, tỷ lệ chia sẻ với cha mẹ về tuổi dậy thì ở các em gái cao hơn nhiều so với các emnam (80,4% và 6,47%)2 nhưng tỷ lệ nam chia sẻ với bạn bè lại cao hơn các em nữ ( 17,7% và 4,2%)
Ở 3 nhóm tuổi, cha mẹ vẫn là sự hỗ trợ cho con cái khi các em gặp khó khăn ở tuổi dậy thì (43,4%
; 42,9% và 41,3%) điều tương tự cũng nhận thấy ở vị thành niên dân tộc Kinh/hoa so với các emthuộc dân tộc khác, tương ứng là 44,2% và 34,5% Tỷ lệ các em vị thành niên không chia sẻ với aitính trên cả nước là 1/3 (29,4%), điều này đáng được các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ lưu ý.Nguyên nhân gì có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái (ví dụ các gia đình bấthòa hay cha mẹ quá bận bịu vì công việc làm ăn …).Tỷ lệ nam không chia sẻ với ai cao vượt trội sovới nữ (tương ứng là 54,5% và 3,4%) cho thấy điều khác thường, chính VTN nam lại “kín đáo” hơn
nữ khi đối diện với những vấn đề của lứa tuổi
Ở SAVy1, nữ cũng chia sẻ với cha mẹ nhiều hơn hẳn so với nam (80,6% so với 14,9%) Tỷ lệ
nữ nói chuyện với một người nào đó trong gia đình cũng nhiều hơn so với nam (91,1% so với24,2%) có nhiều cách lý giải: Nữ coi sự ra kinh lần đầu là bất ngờ, đáng lo và cần giúp đỡ hơnhoặc mối quan hệ mẹ - con gái gần gũi hơn?
Số liệu nêu trên cho thấy các nguồn thông tin có ý nghĩa nhất với tuổi vị thành niên Nângcao hiểu biết cho con gái về các vấn đề SKSS có vai trò đáng kể của người mẹ và bạn bè Thầy côgiáo cũng giúp nhiều cho cả VTN nam và nữ (tương ứng là 22,9% và 21,9%), điều này càng chứng
tỏ giáo dục giới tính có điều kiện thuận lợi để đưa vào nhà trường
3 hành vi và thái độ với tình dục
3.1 Tuổi quan hệ tình dục lần đầu
Những dữ liệu thu thập được từ SAVy 2 củng cố thêm nhận định rằng thanh thiếu niên có xuhướng hoạt động tình dục sớm Ở SAVy 2, trong số những người nói đã từng có quan hệ tình dục,tuổi trung bình của quan hệ tình dục lần đầu là 18,1 (18,2 với nam và 18 với nữ), giảm 1,5 năm sovới SAVy 1 (19,6 tuổi) Số liệu cho nam là 18,2 (giảm 1,8 năm so với SAVy 1) và nữ 18 (giảm 1,4năm so với SAVy 1)
Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh thiếu niên nông thôn là 18,0 hơi sớm hơn so vớithanh thiếu niên thành thị (tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh thiếu niên thành thị là 18,4)
2 Theo sách và dữ liệu do chương trình PMU cung cấp: SAVY2 Việt Nam, Bảng 3.1.2.1, 3.1.2.2 và 3.1.2.3
Trang 15Tuổi có quan hệ tình dục của người trẻ dân tộc thiểu số còn sớm hơn nữa so với người trẻ Kinh/hoa(tức là 17,9 so với 18,1, chỉ là 0,2 năm).
Khi nói về hoạt động tình dục, ta thường nghĩ rằng đó là quan hệ tình dục Ngoài hành vi này,thanh thiếu niên còn có nhiều hành vi khác như hôn (khoảng 70%, n= 1880) hay sờ mó cơ quansinh dục của nhau (30%) Những hành vi này không được đè cập nhiều ở cả 2 cuộc khảo sát nhưng
sự hiểu biết nhiều hơn về các kiểu hành vi tình dục ngoài giao hợp có thể giúp các nhà hoạt động
y tế tư vấn hiệu quả hơn cho thanh thiếu niên về phòng tránh thai và các bệnh lây truyền qua đườngtình dục hoặc những hành vi không được pháp luật và đạo đức cho phép như có nhiều bạn tình,cưỡng ép tình dục…Trong số những người có sờ mó khu vực kín của bạn tình và đã từng có quan
hệ tình dục (n=396) và những người cho biết đã từng có quan hệ tình dục thì một nửa (n=185) đãnói rằng họ có dùng bao cao su ở lần quan hệ tình dục đầu tiên Bảng sau đây mô tả những hành vitình dục đã phát hiện được ở SAVy 2 và tần suất của mỗi kiểu hành vi ở những người trẻ chưa baogiờ kết hôn (Bảng 4 dưới đây)
QHTD - Hành vi
Người chưa bao giờ QHTD - Đã kết hôn
Đã từng có bạn trai/bạn gái Chưa bao giờ có
(1076) (17) (832) (803)
(396) (406)
(190) (185)
Những người chưa lập gia đình và đã có quan hệ tình dục lần đầu, tỷ lệ ở SAVy 1 là 71,9% vớingười yêu, 10% với bạn và 9,1% với gái mại dâm Trong khi ở SAVy 2: với người yêu là 24%, vớibạn là 3,7%, với gái mại dâm là 0,8% Nếu tỷ lệ quan hệ tình dục lần đầu với gái mại dâm ở thanhniên chưa kết hôn đã giảm đi ở SAVy 2 thì đó là dấu hiệu thực sự đáng mừng, chứng tỏ giới trẻ đã
Trang 16có ý thức về tình dục an toàn càng đáng tin hơn khi có đến 87% số người ở SAVy 2 đã trả lời chỉ
có 1 bạn tình khi được hỏi ”đã có bao nhiêu bạn tình trong 12 tháng vừa qua?” (ở SAVy 1 là 85%)
có 2 bạn tình chỉ chiếm tỷ lệ 3,2%
Qua các số liệu đã nêu, thấy rõ từ SAVy 1 đến SAVy 2, tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm
đã giảm đi và tỷ lệ chỉ quan hệ tình dục với 1 bạn tình đã tăng lên có thể những nỗ lực tổng hợpcủa xã hội trong những năm qua đã đem đến kết quả này và cần được phân tích kỹ để có thể pháttriển những gì hiệu quả, bổ sung những gì còn khiếm khuyết
BảNg 5 Tỷ lệ phần trăm những người đã từng có QHTD hiện chưa có vợ/chồng
Bảng 5 nêu trên cho thấy, sau 5 năm, tỷ lệ phần trăm những người chưa kết hôn nhưng đã cóquan hệ tình dục ở đô thị và nông thôn đã tăng lên rõ rệt, nhất là với nam Tỷ lệ phần trăm quan
hệ tình dục theo nhóm tuổi cũng thay đổi theo số tuổi
3.2 Nơi quan hệ tình dục lần đầu
Với nhóm chưa lập gia đình, ở SAVy 1, quan hệ tình dục lần đầu ở nhà họ hoặc nhà bạn tìnhchiếm tỷ lệ 28%, trong khi ở SAVy 2 là 76,1% Sự chênh lệch về tỷ lệ phần trăm khá lớn, có thể chorằng sau 5 năm, mức sống nâng cao, thanh thiếu niên phần lớn đã có không gian riêng để học vàtiếp đón bạn, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để dẫn đến quan hệ tình dục Quan hệ tình dục lầnđầu tại khách sạn (kể cả nhà nghỉ) hay công viên ở SAVy 1 chiếm tỷ lệ tương ứng là 39,4% và 8%trong khi ở SAVy 2 tỷ lệ tương ứng 17,5% và 0,8% - cũng có thể giải thích rằng do đã có không gianriêng nên thanh thiếu niên không cần lui tới khách sạn, càng không cần ra công viên
Xét theo giới thì quan hệ tình dục lần đầu tại nhà của mình và nhà bạn tình cũng chiếm tỷ lệcao nhất, tương ứng là 42,1% và 15,8% cho nam và 33,4% và 59,2% cho nữ Quan hệ tình dục lầnđầu ở nữ xảy ra ở nhà bạn tình có tỷ lệ cao rõ rệt, điều này có thể là sự nhắc nhở có ích cho các bậc
Trang 17cha mẹ để đặt ra những giới hạn cho con gái (hộp thoại: Năm 1994 ở Mỹ đã có cuộc phỏng vấnqua điện thoại với học sinh lớp 9 đến 12 (503 người) và đã biết rằng có đến 3/ 4 học sinh nói cóquan hệ tình dục ở nhà bố mẹ, nơi các em sống chung3)
Trong điều kiện hiện nay, hầu hết các bậc cha mẹ không thể kiểm soát chặt chẽ con cái, lạivắng nhà thường xuyên (ít nhất cũng là 8 giờ hành chính), đồng thời cũng tôn trọng sự riêng tư củacon cho nên ngay cả khi có nhà cũng không tự động vào buồng con cái mà không đánh tiếng trước,
vì thế nhà riêng lại là nơi an toàn nhất đối với thanh thiếu niên, trong khi ra nhà nghỉ lại khôngtránh khỏi những con mắt dòm ngó của cộng đồng
Ở SAVy 1, phần lớn thanh thiếu niên tiếp tục có quan hệ tình dục sau lần đầu tiên, tỷ lệ là70% (nhóm còn độc thân), ở SAVy 2 là 83% Suy ra, số không tiếp tục có quan hệ tình dục ở SAVy
1 là 30% và chỉ còn là 15,4% ở SAVy 2 - sự cách biệt này cho thấy hành vi tình dục lần đầu ở thanhthiếu niên có xu hướng trở thành sự mở màn đời sống tình dục chứ không phải là hành vi ngẫuhứng Thừa nhận thực tế này là căn cứ quan trọng để có kế hoạch xây dựng hành trang hiểu biết vềSKSS cho thanh thiếu niên tốt hơn ngay từ trước tuổi 18 Mà một trong những việc cần hoàn thànhsớm là thiết kế chương trình giáo dục giới tính (bao gồm cả kiến thức về SKSS) cho các bậc cha
mẹ và nhà trường từ cấp 1
3.3 Quan hệ tình dục trước hôn nhân
cuộc khảo sát SAVy 2 khám phá những thái độ tình dục để tạo cơ hội so sánh với những khácbiệt so với SAVy 1 từ 5 năm trước Khởi đầu với những thái độ với tình dục trước hôn nhân, có 5câu hỏi đặt ra để tìm hiểu về sự chấp nhận với quan hệ tình dục trước hôn nhân các câu hỏi chỉyêu cầu trả lời đơn giản có hay Không và dựa trên số người trả lời có mà chia ra 2 thái độ: Thoáng(nếu trả lời có ở 4 hay 5 câu hỏi) và Bảo thủ (nếu trả lời không thoáng ở 3 câu hỏi trở xuống) Bảng
6 tóm tắt kết quả trả lời các câu hỏi
3 Roper Starch Worldwise, Inc Nói chuyện với vị thành niên về tình dục: Tình dục tuổi vị thành niên vào thập kỷ 90 New York: SIECUS 1994
Trang 18Mặc dù có sự thay đổi về nhận thức với quan hệ tình dục trước hôn nhân so với SAVy 1 (sau
5 năm) nhưng tới nay vẫn còn số đông chưa chấp nhận
Từ thang đo tổng hợp về mức độ chấp nhận tình dục trước hôn nhân đối với SAVy2 và SAVy1
Vũ Mạnh Lợi đã phát hiện 2 thái độ: Thiên về truyền thống (gọi tắt là thái độ truyền thống) và thái
độ hiện đại hơn Kết quả: ở SAVy 2 có 44% thanh thiếu niên có “Thái độ hiện đại” trong khi ởSAVy 1 chỉ có 36% Như vậy, số thanh thiếu niên có “thái độ hiện đại” đã tăng từ khoảng 1/3 vào
BảNg 6 Thái độ với tình dục trước hôn nhân phân theo dân tộc, vùng địa lý và giới
Khi 2 người đã trưởng thành, có hiểu biết về hậu quả 36% 45%
hiên nay, thanh thiếu niên có vẻ như thoáng hơn với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân.Bảng 7 dưới đây cho thấy tỷ lệ phần trăm số người được hỏi ở SAVy 1 và SAVy 2 đồng ý rằng quan
hệ tình dục trước hôn nhân có thể chấp nhận được ở 5 tình huống Ở những tình huống này, tỷ lệđồng ý với quan hệ tình dục trước hôn nhân ở SAVy 2 cao hơn ở SAVy 1 điều này cho thấy xu thếchấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân đang nổi lên ở giới trẻ
Trang 19cuối năm 2003 (năm
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến thái độ là cảm nhận của những người xung quanh
về những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân; giống như SAVy 1, SAVy 2 đã tìm hiểu vấn
đề này điều nhận thấy là có sự gia tăng về nhận thức (có thể hoặc không phản ánh sự thay đổi về
Trang 20hành vi) rằng thanh thiếu niên trong cộng đồng có xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân, tuy nhiên có tỷ lệ phần trăm tương đối lớn thanh thiếu niên ở SAVy 2 đã trả lời không biết về những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân (38%), điều đó có nghĩa là kết quả khảo sát cần được lý giải một cách thận trọng
BảNg 9 Tỷ lệ phần trăm ý kiến cho biết ở cộng đồng nơi họ sống nam/nữ thanh niên
chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục
Biết nam
có QhTD
Biết nữ có QhTD
Không có ai
Rất ít
Vài người
Nhiều người
hầu hết
Không biết
13%
19 %
17%
12% 1% 38%
16%
21%
15%
8%
0,4%
41%
25%
26%
17%
8%
1%
24%
29%
27%
16%
5%
0,3%
24%
Biết nam
có QhTD
Biết nữ có QhTD
SAVy1 (N=7584) SAVy2 (N=10044)
Bảng trên cho thấy nhận xét của thanh thiếu niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nơi mình cư trú là không nặng nề (số người trả lời là nhiều hoặc hầu hết có tỷ lệ thấp) hoặc tỏ ra ít quan tâm tới chuyện riêng tư của những người cùng độ tuổi trong cộng đồng (SAVy 2 có tỷ lệ trả lời
“không biết” cao nhất và hơn khá nhiều so với SAVy 1); những nhận định đó cũng giống như ở SAVy 1 Và cảm nhận về mức độ phổ biến của tình dục trước hôn nhân trong nam/nữ thanh niên chưa lập gia đình ở cả 2 cuộc điều tra về cơ bản không khác nhau nhiều lắm kể cả giữa nông thôn và thành thị, giữa người Kinh/hoa và người dân tộc
3.4 Những thay đổi ở quan hệ tình dục trước hôn nhân từ SAVY 1 đến SAVY 2.
Khi xem xét những thay đổi ở hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân sau 5 năm, kể từ SAVy
1, ta thấy có tăng về tỷ lệ phần trăm ở cả nam và nữ (bảng 10) Tuy nhiên, khi so sánh những số liệu này với các nước khác trong khu vực đông Nam á thì thấy vẫn thấp hơn nhiều hơn nữa, trong số những người có quan hệ tình dục trước hôn nhân, 3 / 4 nói rằng họ đã có quan hệ tình dục với người
vợ chưa cưới
Lưu ý, SAVy 1 nhận định về quan hệ tình dục trước hôn nhân (mục 4.6, sách điều tra quốc
gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, tr 42,) tỏ ra khắc nghiệt hơn, cho rằng các phương tiện thông tin đại chúng cộng với tư tưởng hay hoang mang của người lớn có thể là những tác nhân góp phần thổi phồng sự thực(về thanh thiếu niên có hoạt động tình dục và các hành vi
nguy cơ cao hơn nhiều so với các số liệu chính thức của cuộc điều tra) và cần có bằng chứng xác thực để bác bỏ các thông tin sai lệch
Trang 21Tuy nhiên, không cần tìm đâu xa, chỉ cần lướt qua các website trong nước cũng thấy khá nhiềuthông tin trái ngược với nhận định nêu trên và những thông tin ấy lại từ nhiều nguồn có uy tín(đoàn Thanh niên, Who, uNIcEF…)
cũng không phải không có cơ sở thực tế khi chiến lược quốc gia về SKSS của Việt Nam, giaiđoạn 2001 – 2010, Bộ y tế, đã chú trọng đến việc thông tin và tư vấn về phát triển tình dục an toàn,cung cấp dịch vụ có chất lượng để phòng ngừa thai nghén không mong muốn, nạo phá thai không
an toàn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
SAVy 1 và 2 là hai cuộc điều tra lớn về thanh thiếu niên, những dữ liệu thu được là đáng tincậy nhưng dù sao cũng cần xem xét những nhận định từ những nghiên cứu khác, nhất là khi cónhận định trái ngược vì có thể làm cho chiến lược sức khoẻ cho thanh thiếu niên bị lạc hướng đưa
ra những nhận định đúng trong một số vấn đề
luôn có tính thách thức, cần có sự hợp tác của
nhiều nhà khoa học, cũng cần cả những khảo
sát sâu rộng hơn trong tương lai
3.5 Bạn tình
Tỷ lệ có bạn tình không khác biệt nhiều
giữa SAVy 1 và 2 hay chỉ tăng ít nhưng điều
đó cũng phù hợp với xu thế toàn cầu là người
Trang 22Tính trên toàn mẫu của SAVy 2, 34% số người được hỏi đã trả lời có bạn tình nhưng số ngườisống chung với nhau chỉ có 16%; 92% đã từng hẹn hò Tuổi có bạn tình của thanh thiếu niên haytuổi hẹn hò chưa được xác định ở cả 2 cuộc khảo sát Vấn đề sống chung hay sống thử sẽ bàn luậnthêm ngay sau đây.
3.6 Sống thử, nên hay không nên ?
Vấn đề này đã có một số khảo sát và bàn luận Ví dụ: Tọa đàm “Sức khỏe sinh sản – hànhtrang của giới trẻ” do T.Ư hội sinh viên Việt Nam phối hợp với Bộ y tế tổ chức những ngày giữatháng 6 tại đại học y Dược TP.hcM, thu hút sự quan tâm của sinh viên các trường đại học cầnThơ, đà Nẵng, Tây Nguyên, y Dược TP.hcM
Nhóm điều tra đề tài “Sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên” cho biếttrong năm 2008 đã khảo sát hơn hơn 8.000 sinh viên tại Trường đại học cần Thơ và hơn 4.000sinh viên ở các trường đại học khác tại TP.hcM và các tỉnh Tây Nguyên
Kết quả cho thấy, tỷ lệ sinh viên đồng ý với việc sống thử và quan hệ tình dục trước hôn nhânngày càng cao, có xu hướng tăng lên ở một số khu vực nội thành đô thị lớn Với câu hỏi “Bạn cómuốn sống thử?”, 73% bạn nam được hỏi trả lời có, hơn 61% bạn nữ cùng quan điểm muốn sốngthử trước hôn nhân
Theo một khảo sát khác của Viện Khoa học Xã hội TP.hcM và T.Ư đoàn TNcS hcM tại
5 trường đh tại TP.hcM và 3 trường đh tại hà Nội, (thực hiện năm 2007), chỉ có khoảng gần30% sinh viên phản đối quan hệ tình dục trước hôn nhân Số còn lại chấp nhận, coi đó là việc bìnhthường hoặc đánh giá đó là việc không tốt, nhưng cũng không phản đối
Tại sao những cặp yêu nhau muốn "sống chung trước hôn nhân"?
Lý do kinh tế: Giải pháp "góp gạo thổi chung" giảm được nhiều chi phí (hẹn hò, đưa đón ) Lí
do trốn hẹn hò cũng chỉ nhằm mục đích kinh tế: điều này thực tế và quan trọng mà không thấycác nhà nghiên cứu xã hội học nói đến Vào quán, đến nhà nghỉ mãi thì tốn kém, ra công viên thìnhiều bất tiện…
Lý do tình cảm: được "bên nhau" mỗi ngày, động cơ "sống chung trước khi cưới" mạnh nhấtphía con trai đây là thời gian Test để xem có hợp nhau không Vậy trong thời gian này, tình yêu
sẽ nảy nở từ cuộc sống chung và từ sự hòa hợp tình dục hay ngược lại, phải