1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật

84 1,3K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Lai Tạo Cá Chép Nhật
Tác giả Phan Tấn Phước, Diệp Thị Quế Ngân
Người hướng dẫn Lê Thị Bình
Trường học Nong Lam University
Chuyên ngành Thủy Sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 5,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHAN TẤN PHƯỚC

DIỆP THỊ QUẾ NGÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2005

Trang 2

KỸ THUẬT LAI TẠO

CÁ CHÉP NHẬT (Cyrinus carpio)

Thực hiện bởi

Phan Tấn Phước Diệp Thị Quế Ngân

Luận văn được đệ trình hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Lê Thị Bình

Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 3/2005

Trang 3

iii

TÓM TẮT

Đề tài “Lai Tạo Cá Chép Nhật” được thực hiện từ 25/3/2005 - 30/7/2005 tại trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp HCM

Thí nghiệm được bố trí làm hai phép lai tương ứng với hai công thức (CT)

CT I: đực màu vàng gấm × cái màu vàng gấm

CT II: đực hai màu đen trắng × cái hai màu đỏ đen

- Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

Sau thời gian bố trí thí nghiệm với bốn đợt cho cá sinh sản đã thu được một số kết quả như sau:

Sức sinh sản thực tế dao động trong khoảng 16.200 – 51.000 trứng/con

Cá đẻ tốt ở nhiệt độ nước 29 – 310C với sự kích thích nước chảy và thả giá thể Ở nhiệt độ nước 27 – 300C trứng nở sau 29 – 31 giờ ấp Tỉ lệ thụ tinh ở mức 47,3 – 73,5% Tỉ lệ nở từ 62,67 – 92,8%

Cá hai ngày tuổi tiêu hết noãn hoàn và bắt đầu cho ăn moina, cá năm ngày tuổi được bố trí ương nuôi trong giai và ở bể kính

- Ương nuôi cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

Sau 60 ngày ương, cá ương trong giai (NT I) tăng trưởng tốt hơn ương trong bể kính (cá có chiều dài giao động từ 4,58 – 4,95cm và trọng lượng từ 1,5 – 2,66g Cá ở bể kính có chiều dài 3,9 – 3,99cm, trọng lượng 0,88 – 0,97g Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá thì ngược lại, đối với cá ương trong giai tỷ lệ sống đạt 48,05 – 67,64% Tỷ lệ ở bể kính từ 72 – 72,3%

Khả năng lên màu Cá ở (CT I) đạt 100% màu vàng gấm, trong khi đó cá ở (CT II) tỷ lệ màu cả trong giai và bể kính tương đương nhau: cá ba màu 42,47% – 43,64, hai màu 29,08 – 29,85%, một màu 24,32 – 28,37% Cá ở giai có màu sặc sở Cá ở bể kính tỷ lệ ba màu 41,28 – 49,6%, hai màu 25,38 – 27,23%, một màu 23,15 – 33,32% Cá ở bể kính trổ màu sớm hơn một sớm hơn một ít so với ở giai ( 13 ngày so với 15 ngày)

Trang 4

iv

ABSTRACT

A study “Hybridization of Japanese Carp (Cyprinus carpio) was carried out

from March to July, 2005 at Experimental Farm for Aquaculture belonging to Nong Lam University in HCM city The study was divided into two parts such as:

The trial was conducted by cross – breeding in order to create new varieties such as:

Formula I: dark – yellow male x dark – yellow female

Formula II: black – white male x black – red female

_ Technique of cross – breeding japanese (Cyprinus carpio)

The result of the trial showed that:

Real fecundity ranged from 16,200 to 51,000 eggs/female

The suitable temperature for maturing and breeding of fish was 29-31oC Hatching time was 29-31 hours at 27-30oC Fertilization rate oscillated from 47.3 to 73.5% Hatching rate was 62.67-92.8%

_ Technique of nursing japanese (Cyprinus carpio)

The trial was divided into two treatments such as treatment I (nursing in hapa) and treatment II (nursing in glass tank) The result of the trial showed that After 60 – days nursing, the fish nursed in hapa was much growth than these of in glass tank

For growth of fish:

The fish of treatment I was 4.58-4.95cm in length and 1.5-2.66g in weight The fish treatment II was 3.9-3.99cm in length and 0.88-0.97g in weight

For survival rate of fish:

Survival rate of treatment I was 48.05-67.64%

Survival rate of treatment II was 72-72.3%

For creating body color:

The fish of formula I gained 100% of dark – yellow Meanwhile, the fish of formula II was divided into three groups: group of 3 – color fish (42,47-43,64%), group of 2 – color fish (29.08-29.85%), and group of 1 – color (24.32-28.37%)

The fish of treatment II (glass tank) was also divided into three groups such

as group of 3 – color fish (41,28-49,6%), group of 2 – color fish (25,38-27,23%), and group of 1 – color (23.15-33.32%)

Besides, the fish of treatment I (hapa) was much showy and pretty than these

of treatment II (glass tank)

Trang 5

v

LỜI CẢM TẠ

Tác giả xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản

- Quý Thầy Cô, Cán Bộ Công Chức của Trường và Khoa Thủy Sản đã hết

lòng dạy dỗ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt xin cảm ơn đến:

- Cô Lê Thị Bình

- Chú Võ Văn Sanh, chủ trại cá cảnh Thanh Đa quận Bình Thạnh

Đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các anh Kỹ Sư và Nhân Viên của Trại Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm, cùng các bạn đã giúp đỡ và động viên tác giả trong quá trình học tập và thời gian thực hiện đề tài Do trình độ còn giới hạn và thời gian thực tập đề tài ngắn nên tác giả không thể giải quyết một cách hoàn chỉnh các vấn đề đặt ra Do đó, luận văn này không tránh khỏi những sai sót, kính mong sự chỉ bảo của quý Thầy Cô và sự đóng góp ý kiến của các bạn Tác giả xin chân thành cảm

ơn

Trang 6

vi

MỤC LỤC

2.1 Tình Hình Nghiên Cứu Trong Trong Di Truyền và Chọn Giống Cá 2

2.3 Một Số Thành Tựu Nghiên Cứu Sự Di Truyền về Bộ Vẩy và Màu Sắc ở Cá

2.3.1 Di truyền bộ vẩy ở cá chép (Cyprinus carpio) 6

2.4 Thức Aên Dùng Nuôi Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio) 8 2.4.1 Một số loại thức ăn tự nhiên ảnh hưởng đến sự lên màu ở cá cảnh 8 2.4.2 Một số loại thức ăn chế biến dùng ương nuôi cá chép Nhật 10

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài 11

Trang 7

vii

3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Nghiên Cứu 11

3.3.1 Kỹ thuật cho lai tạo cá chép Nhật (Cyprinus carpio) 12

3.3.2 Ương nuôi cá chép Nhật (Cyprinus carpio) 14

PHẦN I: KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ CHÉP NHẬT (Cyprinus

4.1 Kỹ Thuật Bố Trí cho Cá Chép Nhật Sinh Sản 18

4.1.2 Công tác chuẩn bị cho cá sinh sản 18

4.2 Kết Quả cho Cá Chép Nhật Sinh Sản 23

4.2.1 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ 23

4.2.2 Kết quả sinh sản của cá ở NT I (đực màu vàng gấm × cái vàng gấm) 24

4.2.3 Kết quả sinh sản của cá ở NT II (đực hai màu trắng đen × cái màu đỏ đen) 25

4.3 Kết Quả Aáp Trứng Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio) 27

PHẦN II: KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ CHÉP NHẬT (Cyprinus carpio) 33

4.4 Yếu Tố Môi Trường trong Quá Trình Thí Nghiệm 33

4.5 Tốc Độ Sinh Trưởng, Tỉ Lệ Sống và Khả Năng Lên Màu của Cá Chép Nhật 34

4.5.1 Tăng trưởng của cá chép Nhật (Cyprinus carpio) 34

4.5.2 Tỷ lệ sống của cá chép Nhật 60 ngày tuổi 42

4.5.3 Khả năng lên màu của cá chép Nhật 44

Trang 8

viii

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Kết quả cho sinh sản nhân tạo cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

Bảng 1 kết quả sinh sản nhân tạo cá chép Nhật Bảng 2 kết quả ấp trứng cá chép Nhật

Phụ lục 2 Chỉ tiêu môi trường trong thời gian thí nghiệm

Bảng 3 kết quả nhiệt độ và pH trong thời gian thí nghiệm

Phụ lục 3 Tăng trưởng của cá chép Nhật (NT I)

Bảng 4 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 15 ngày tuổi Bảng 5 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 30 ngày tuổi Bảng 6 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 45 ngày tuổi Bảng 7 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 60 ngày

Phụ lục 4 Tăng trưởng của cá chép Nhật ở (NT II)

Bảng 8 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 15 ngày tuổi Bảng 9 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 30 ngày tuổi Bảng 10 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 45 ngày tuổi Bảng 11 kết quả kiểm tra tăng trưởng của cá chép nhật 60 ngày tuổi

Phụ lục 5 Một số hình ảnh minh họa cá chép Nhật

Hình 1 cá 15 ngày tuổi của CT I Hình 2 cá 15 ngày tuổi của CT II Hình 3 cá 30 ngày tuổi của CT I Hình 4 cá 30 ngày tuổi của CT II Hình 5 cá 45 ngày tuổi của CT I Hình 6 cá 45 ngày tuổi của CT II Hình 7 cá 60 ngày tuổi của CT I Hình 8 cá 60 ngày tuổi của CT II

Phụ lục 6 Cá chép Nhật (Cyprinus carpio) có giá trị kinh tế rất cao trên thị

trường hiện nay

Trang 9

ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả phép lai thứ nhất (CT I) 24 Bảng 4.2 Kết quả phép lai thứ hai (CT II) 25 Bảng 4.3 Kết quả ấp trứng cá chép Nhật 29

Bảng 4.4 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm 33 Bảng 4.5 Chiều dài trung bình của cá chép Nhật qua các lần kiểm tra 35 Bảng 4.6 Trọng lượng trung bình cá chép Nhật qua các lần kiểm tra 36 Bảng 4.7 Chiều dài trung bình của cá NT II qua các lần kiểm tra 41 Bảng 4.8 Trọng lượng trung bình của cá NT II qua các lần kiểm tra 42 Bảng 4.9 Tỷ lệ sống của cá 60 ngày tuổi ở NT I 43 Bảng 4.10 Tỷ lệ sống của cá 60 ngày tuổi ở NT I 44

Trang 10

x

DANH SÁCH ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Sức sinh sản thực tế của cá chép Nhật qua bốn đợt sinh sản 26 Đồ thị 4.2 Tỉ lệ thụ tinh của cá chép Nhật qua bốn lần sinh sản 30 Đồ thị 4.3 Tỉ lệ nở của cá chép Nhật qua bốn lần ấp trứng 31

Đồà thị 4.4 Sự tăng trưởng chiều dài cá ở CT I và CT II trong thí nghiệm 36

Đồ thị 4.5 Sự tăng trưởng trọng lượng cá ở CT I và CT II trong thí nghiệm 37 Đồ thị 4.6 Tỷ lệ sống của cá chép Nhật giữa CT I và CT II trong thời gian thí

Trang 11

xi

DANH SÁCH HÌNH ẢNH

Hình 4.1 Bố trí bể cho cá chép Nhật sinh sản 20

Hình 1.3 Cá bố mẹ hai màu đỏ đen và đen trắng 22 Hình 4.4 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ vàng gấm 23 Hình 4.5 Hoạt động s sản của cá bố mẹ hai màu đỏ đen và đen trắng 24

Hình 4.8 Chiều dài cá 15 ngày tuổi của CT I 37 Hình 4.9 Chiều dài cá 15 ngày tuổi của CT II 38 Hình 4.10 Chiều dài cá 30 ngày tuổi của CT I 38 Hình 4.11 Chiều dài cá 30 ngày tuổi của CT II 39 Hình 4.12 Chiều dài cá 45 ngày tuổi của CT I 39 Hình 4.13 Chiều dài cá 45 ngày tuổi của CT II 40 Hình 4.14 Chiều dài cá 60 ngày tuổi của CT I 40 Hình 4.15 Chiều dài cá 60 ngày tuổi của CT II 41

Trang 12

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu nuôi cá cảnh giải trí ngày càng được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước Nuôi cá cảnh không chỉ thể hiện là lòng yêu thiên nhiên, ngưỡng mộ cái đẹp do thiên nhiên tạo ra Được tiếp xúc với cái đẹp con người sẽ giảm bớt được sự căng thẳng của đời thường, sống nhân ái hơn, thư thái, thanh thoát hơn, thoải mái hơn Có thể nói “việc nuôi cá cảnh đã mang lại niềm vui cho mọi gia đình”

Từ việc thưởng ngoạn những loài cá đã nuôi được, người ta luôn ra sức tìm kiếm những loài cá quí hiếm đang tồn tại trong thiên nhiên Trong số các loài cá nước ngọt được nuôi ở Việt Nam hiện nay, cá chép là loại cá được xếp vào nhóm có giá trị kinh tế và nhiều loài được chọn để nuôi cá cảnh Sự lựa chọn này trở nên phổ biến đối với người nuôi cá cảnh Việt Nam và một trong số đó là cá chép Nhật Với sự phối hợp giữa các màu đỏ, vàng, đen, trắng, cá chép Nhật đã thu hút được sự chú ý của những người nuôi cá cảnh bởi sự đa dạng về màu sắc về kiểu vây, vẩy và cũng rất dễ nuôi Do đó, chúng đã được du nhập vào Việt Nam và được rất nhiều người ưa chuộng

Với thị hiếu của người chơi cá cảnh ngày càng đa dạng, họ đòi hỏi đối tượng được nuôi phải thật độc đáo, màu sắc đẹp, lạ mắt, có giá trị Không chỉ bằng lòng với những cái đẹp mà thiên nhiên đã tạo ra, những cái kỳ lạ, những cái đẹp hiện hình trên cơ thể các loài cá, mà chúng ta cần phải biết cách vận dụng những kiến thức khoa học trong lai ghép tạo màu làm đa dạng màu sắc cũng như tạo dáng, … từ đó cung cấp cho thị trường những sản phẩm ngày một phong phú hơn

Để đáp ứng nhu cầu này, vấn đề chọn và lai tạo các loài cá chép Nhật với nhau để tạo ra ưu thế lai, sản xuất ra thế hệ con lai mang màu sắc và nét độc đáo riêng là vấn đề đặt ra cho các nhà chọn giống cá

Trước tình hình đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài”Kỹ Thuật Lai Tạo

Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio)” nhằm từng bước góp phần vào công tác chọn

giống cho thị trường cá cảnh trong và ngoài nước

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Bố trí một số phép lai nhằm tạo ra thế hệ con lai có màu sắc đẹp

Theo dõi sự thể hiện màu sắc của con lai qua từng giai đoạn ương nuôi

Trang 13

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình Hình Nghiên Cứu Trong Di Truyền và Chọn Giống Cá

Riêng đối với nghề nuôi cá, công tác chọn giống nói chung và ứng dụng ưu thế lai nói riêng phát triển tương đối chậm Tuy vậy, ngay từ năm 1935 Kiapisnikôp và Bankasina nhận thấy con lai có sức sống cao, lớn nhanh khi cho lai cá chép đốm với cá chép hoang dại ở sông Vôn ga Ngày nay, nhiều thực nghiệm về lai cá hồi, cá tầm, cá mặt trời, … cũng đem lại kết quả rõ rệt Như vậy, ứng dụng ưu thế lai trong nghề nuôi cá đã trở nên khá phổ biến

Vậy bản chất ưu thế lai là gì ? Danh từ “ưu thế lai”(heterosis) ngày nay được chỉ những ưu việt của con lai (hybrid) trong sự phát triển cơ thể hay sự thể hiện các tính trạng so với bố mẹ chúng khi giao phối giữa các nhóm, các quần đàn, các dòng các phẩm giống, các nòi, các loài phụ, các loài hoặc các đơn vị phân loại xa hơn với nhau Ưu thế lai thường thể hiện ở chỗ con lai có sức sống cao, tốc độ tăng trưởng mạnh hơn, màu sắc đẹp hơn

Trang 14

và sau khi nhập nội cá chép kính Châu Aâu (Hungari) đã cho lai giữa cá chép kính Hungari với cá chép Trắng Việt Nam

Phạm Mạnh Tường và Trần Mai Thiên, (1979) đã tiến hành đề tài “Lai kinh tế cá chép” nhằm ứng dụng các kết quả đạt được vào sản xuất

2.2 Đặc Điểm Sinh Học của Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio.)

2.2.1 Nguồn gốc

Cá chép màu có nguồn gốc từ cá chép hoang dại ở Nhật Bản và được gọi là cá“koi” Nhật Bản có một từ đặc biệt để gọi cá hoang dại là “Magoi”chép màu và con lai “magoi” gọi là “koi” Những con chép “koi” này được lai tạo để tạo màu gọi là Nishiki

Tất cả có hàng trăm vạn cá”koi”có màu sắc khác nhau nhưng đều có tên khoa

học là Cyprinus carpio Theo “Manual to Nishikikoi” của Takio kuroki thì cá chép

Nhật xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc cách đây 2.500 năm Có thể người trung quốc tạo ra màu sắc đốm trên cơ thể cá, còn người Nhật thì phát hiện ra chúng và cũng là người gọi chúng bằng cái tên Nishikigoi

Người Nhật là người đầu tiên tạo ra những thay đổi tự nhiên và phát triển chúng xa hơn Những người nông dân trồng lúa ở đây sử dụng chúng làm thức ăn như các loài cá khác Nhưng vào các năm 1820, 1830 họ bắt đầu cho đẻ một vài con cá chép theo sự hấp dẫn về thẩm mỹ, đa dạng về màu sắc và giữ chúng trong nhà như những vật cưng Từ đó niềm yêu thích cá “koi” lan rộng ra nhiều vùng và cả nước Nhật Niềm yêu thích cá “koi” ở Nhật càng tăng cao hơn khi mà Hoàng đế Hirohito được tặng cá “koi” vào năm 1914 Hầu hết những ai có cùng sở thích là cá “koi” đều xem Niigata là nơi sinh ra cá Nishikigoi Ngày nay, có hơn 100 loài có màu sắc khác nhau ở cá “koi”

Nhưng theo Mills, 1993 và Võ Văn Chi, 1993 cho rằng cá chép Nhật có nguồn gốc từ Nhật Bản được du nhập vào Việt Nam những năm gần đây, là giống cá nuôi hồ lý tưởng.Vì vậy, ở Nhật người ta có cả nghề truyền thống lâu đời về các vườn cây thủy sinh (trích bởi Dương Hồng Nga, 2003) Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu nào thống nhất ghi nhận nguồn gốc xuất xứ của cá chép Nhật

Trang 15

Tên tiếng Anh: Common carp

Tên tiếng Việt: Cá Chép Nhật, hay người ta thường gọi loại cá này bằng tên Nhật

“Nishiki Koi” có nghĩa là cá chép có màu gấm (Mills, 1993)

2.2.3 Đặc điểm hình thái

2.2.3.1 Hình thái

Thân dẹp bên, đầu thuôn, có hai đôi râu Miệng hướng về phía trước khá rộng, khởi điểm của vây lưng nằm sau khởi điểm của vây bụng, vây hậu môn cao gần bằng vây lưng

Vây đuôi có hai thùy bằng nhau, tia cứng cuối cùng của vây lưng và vây hậu môn đều có răng cưa ở cạnh trong

Cá thiên, nhiên thường có màu trắng xám, lưng màu tối, bụng màu sáng, cạnh các vây màu đỏ

Tuy nhiên do điều kiện sống khác nhau nên loài cá chép ở các vùng khác nhau thể hiện biến dị rất rõ, nhất là về hình dạng và số lượng vây, màu sắc, kích thước và hình dạng toàn thân

Cá có màu vàng kim hay bạc gọi là Hariwaki

Cá chép Nhật ba màu Koi tricolore, trên thân có màu vàng cam, đen đốm vẩy lớn Doitsu gọi là loài cá chép Agasi, ba màu truyền thống, nhiều đốm đỏ và đen trên thân màu trắng gọi là Taisho sanke

Cá có màu vàng là Mongrel koi

Trang 16

2.2.3.3 Chia theo vẩy

Loại vẩy lớn là cá chép Doitsu

Loại vẩy với hoa văn giống trái thông là cá chép Matsuba

Loại vẩy có những ánh kim vàng là cá chép Kin-Rin hoặc có ánh kim bạc là cá chép Gin-Rin

Ngoài ra, những nhà nuôi cảnh có thể phân biệt cá chép theo các vây: cá chép đuôi dài còn gọi là cáù chép phụng có nguồn gốc từ Châu Âu và cá chép đuôi cụt có nguồn gốc từ Châu Á Cùng một kích cỡ và tuổi thì cá chép đuôi dài có các vây lưng, vây hậu môn, vây ngực và đuôi dài hơn so với chép đuôi cụt

2.2.3.4 Kích cỡ

Cá chép Nhật là loại cá cảnh đẹp nhất trong họ cá chép Cyprinidae Trong tự nhiên, những con đẹp nhất có thể dài đến một mét nhưng cá nuôi trong bể thường có kích thước nhỏ hơn (Võ Văn Chi, 1993) Axelrod, 1995 cho rằng kích thước tối đa của cá trưởng thành là 60 cm và Mills, 1993 cho rằng chiều dài trung bình cá là 25 cm (trích bởi Dương Hồng Nga, 2003)

2.2.4 Môi trường sống

Cá chép là loài phân bố rộng khắp thế giới Cá sống ở nước ngọt, trong các

ao, suối, sông, hồ Cá chép thường sống ở tầng giữa và tầng đáy bơi lội thành đàn

Môi trường nuôi sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tồn tại và tăng trưởng của cá Cá chép Nhật có thể sống trong môi trường nước có độ mặn 14o/oo, hàm lượng oxy thấp nhất trong bể nuôi là 2mg/L, độ pH từ 4 – 9, nhiệt độ nước 20 – 27oC (Võ Văn Chi, 1993) Nhưng theo Lê Thị Thanh Muốn, 2001 thì cá chép Nhật chỉ có thể chịu được độ mặn 2 – 6 o/oo với độ pH từ 6 – 7,5 và ngưỡng oxy là 0,245 mg/L

Môi trường nước thích hợp nhất cho cá là pH = 7,6 và có độ cứng là 12 (theo thang độ cứng của Đức), nhiệt độ 19oC, và cá có thể sống được ở mọi tầng nước (Axelrod, 1995)

Cá thích nước trong sạch và ngưỡng oxy cao, phân bố rộng, sống ở các vùng thuộc châu Á, trong các thủy vực (Lê Thị Bình, 2001) Tuy nhiên, do điều kiện sống khác nhau thể hiện biến dị rất rõ, nhất là về hình dạng toàn thân, số lượng vẩy, màu sắc, kích thước và một trong số đó là cá chép Nhật Do được thuần hóa nên theo các nhà nuôi cảnh, cá chép Nhật rất thích hợp với điều kiện nuôi tại Việt Nam và sinh trưởng tốt

Trang 17

2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá chép Nhật là loài cá ăn tạp thiên về động vật, cá ba ngày tuổi tiêu hết noãn

hoàng bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như Moina, Daphnia, Cyclops, … hay lòng đỏ

trứng nấu chín

Cá được 15 ngày tuổi bắt đầu chuyển tính ăn, ăn động vật đáy, do đó tỉ lệ sống

bị ảnh hưởng lớn, trong điều kiện nuôi chúng ta phải cung cấp thức ăn bên ngoài như trùn chỉ, cung quăng,

Cá khoảng một tháng tuổi trở đi ăn thức ăn giống như cá trưởng thành, ăn tạp thiên về động vật như giun, ốc, trai, ấu trùng côn trùng Trong điều kiện nuôi cá còn ăn phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép và các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng viên hoặc sợi (Võ Văn Chi, 1993)

2.2.6 Đặc điểm sinh sản

Cá chép 8 – 10 tháng tuổi bắt đầu đẻ được Cá đẻ tự nhiên trong ao nuôi

Mùa vụ sinh sản chính là mùa mưa nhưng hiện nay do cá chép đã được thuần hóa nên có thể sinh sản tốt quanh năm

Thời gian tái phát dục nhanh, khoảng 15 ngày đối với cá đực và 20 – 30 ngày đối với cá cái nhưng cũng tùy thuộc thức ăn, chế độ nuôi vỗ, nhiệt độ nước và các yếu tố môi trường khác như lượng oxygen hòa tan (DO), ánh sáng, độ pH,

Cá đẻ trứng dính vào cây cỏ thủy sinh chìm trong nước và có tập tính ăn trứng sau khi đẻ

Sức sinh sản thực tế của cá chép dao động từ 100.000 – 120.000 trứng/kg cá cái (Ngô Văn Ngọc, 2001)

2.2.7 Đặc điểm sinh trưởng

Cá chép là loài có sức sinh trưởng rất nhanh Theo Lê Thị Bình (2001), cá ngoài tự nhiên có thể dài đến 1m, trong điều kiện nuôi dưỡng cá dài 25 – 60cm

2.3 Một Số Thành Tựu Nghiên Cứu Sự Di Truyền về Bộ Vẩy và Màu Sắc ở

Cá Chép (Cyprinus carpio)

2.3.1 Di truyền bộ vẩy ở cá chép (Cyprinus carpio)

Bằng những công trình nghiên cứu của các nhà bác học Rudzinxki được tiến hành từ những năm 20, các nghiên cứu được tiến hành ở Liên xô của Kirpitsnikov

Trang 18

Balkasina và Golovinxkaia trong những năm 30 và cả một số thí nghiệm được thực hiện sau đó của nhà nuôi cá người Đức Probst mới tìm ra là: các kiểu vẩy của cá chép

bị chi phối bởi hai đôi gen không liên kết trong nhiễm sắc thể thường Đó là các gen

S – s và N – n Kiểu di truyền (Genotype) của các loại cá chép như sau:

Cá chép vẩy : SSnn hay Ssnn

Cá chép đốm : ssnn

Cá chép vạch : SSNn hay SsNn

Cá chép trần : ssNn

Vì N là gen nửa gây chết nên các đồng hợp tử theo nó là SSNN, SsNN, ssNN chết ở giai đoạn sớm, ngay cuối thời kỳ phát triển phôi

Hàng trăm phép giao phối theo toàn bộ 21 công thức giữa các nhóm cá chép, được thực hiện ở các nước khác nhau, đã cho ra kết quả phân ly hoàn toàn phù hợp với định luật Menđen Điều quan trọng là các nhà khoa học còn chứng minh được rằng hai đôi gen trên chẳng những quy định kiểu vẩy mà còn ảnh hưởng đến một loạt các tính trạng, hình thái, sinh lý và sinh hóa của cá chép (Phạm Mạnh Tường, Trần Mai Thiên, 1979)

2.3.2 Di truyền màu sắc ở cá chép

Một điều thường gặp là các kiểu màu sắc được xác định bởi sự có mặt hoặc vắng mặt ở cá một số ít gen đặc biệt: trội hoặc lặn

Đến nay đã xác lập được tính chất di truyền của một vài kiểu màu sắc cá chép Người ta đã nghiên cứu kỹ sự di truyền màu xanh da trời gặp không ít ở các trại nuôi cá chép Cá chép xanh da trời của Đức và Balan là đột biến dạng lặn và hầu như không khác gì cá chép thường về sức sống và tốc độ sinh trưởng Điều đáng lưu ý là cá chép xanh da trời của Balan trong năm đầu lớn nhanh nhưng qua năm thứ hai, thứ

ba thì tốc độ lớn giảm và sức sống giảm

Cá chép vàng, xám, tím của Đức cũng là những dạng đột biến nhưng hiện nay còn ít được nghiên cứu Các dạng cá chép có màu sắc khác nhau: vàng ánh (gen g), xám (gen gr) và xanh da trời (gen b) ở Ixraen được nghiên cứu kỹ Cả ba kiểu màu sắc đều được quy định bởi các gen lặn di truyền độc lập làm giảm sức sống của cá con một cách đáng kể

Có nhiều kiểu màu sắc ở cá chép Việt Nam và nhất là ở cá chép cảnh Nhật : màu đỏ, vàng gần như trắng, tím, nâu, đen và cả đốm nhiều màu Theo Kataxonov

Trang 19

thì cá chép Nhật có được màu là nhờ những tổ hợp của một số gen lặn mà người ta chưa nghiên cứu được quy luật di truyền, có hai gen trội di truyền kiểu Menđen là gen đốm vàng sáng đặc biệt trên lưng (D) và gen làm sáng toàn thân (L) Gen màu sáng khi là dị hợp tử đã làm giảm sức sống của cá chép con, những đồng hợp thử thì hầu như chết hoàn toàn Ở Việt Nam người ta hoàn toàn chưa nghiên cứu gì các kiểu màu cá chép, chỉ biết rằng một số trong chúng chậm lớn (Kirpitsnikov, 1977)

2.4 Thức Aên Dùng Nuôi Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio.)

2.4.1 Một số loại thức ăn tự nhiên ảnh hưởng đến sự lên màu ở cá cảnh

Sắc tố hiện diện trên da có vai trò rất quan trọng đối với các loài cá cảnh Cá không thể sinh tổng hợp các sắc tố nên phải được bổ sung vào thành phần thức ăn để cải thiện màu sắc cho cá, nhằm lôi cuốn thị hiếu người thưởng ngoạn

Các sắc tố có thể có sẵn trong một số nguyên liệu dạng tự nhiên hay nhân tạo Có nhiều loài động vật và thực vật chứa các sắc tố thiên nhiên tạo cho cơ, da của cá có màu vàng, đỏ, …

Carotenoid là một trong những nhóm sắc tố hiện diện nhiều trong thực vật và động vật, là loại chất màu không bền dễ bị oxy hóa, có màu vàng, cam, đỏ tan nhiều trong mỡ

Astaxanthin là nguồn sắc tố thiên nhiên hiện diện nhiều trong các loài giáp xác như: tôm, cua, tép Lutein và zeazanthin là các sắc tố có nhiều trong thực vật phổ biến là trong bắp vàng, bột cỏ, tảo Lutein tạo ra màu vàng trong khi zeazanthin tạo

ra màu vàng cam

Sự tích lũy các sắc tố trong cơ, da tùy thuộc vào sự hấp thu, chuyển vận, biến dưỡng các hợp chất này trong cơ thể động vật thủy sản, Astaxanthin được hấp thu và tích lũy dễ dàng khi ở dạng tự do hơn là ester hóa Trong các loài cá cảnh thì cá vàng có khả năng hấp thụ carotenid tốt nhất theo thứ tự sau: Zeazanthin > Astaxanthin > Lutein (vàng cam > đỏ thẩm > vàng ) Lê Thanh Hùng, 2000; trích bởi Mai Thị Thu Hiền 2005)

2.4.1.1 Tép bò

Tép bò là loại giáp xác có kích thước nhỏ, thân tròn, Khi còn sống cơ thể trắng trong Với đặc điểm cơ thể rắn chắc có mùi tanh đặc trưng, giá trị dinh dưỡng cao Nên tép bò không chỉ là nguồn thực phẩm cho con người mà còn là nguồn thức ăn rất hấp dẫn cho nhiều loài cá cảnh như: Tai Tượng Phi Châu, cá Chép Nhật, …

Trang 20

Theo Phạm Văn Trang (1983; trích bởi Lê Thị Thu, 1994; trích bởi Mai Thị Thu Hiền 2005) thì thành phần dinh dưỡng của tép bò được phân tích như sau:

Trùn chỉ (Tubifex) thuộc họ Tubificidae Trùn chỉ có màu đỏ, nhỏ trông như

sợi chỉ, thường dài khoảng 1-5cm Chúng sống ở nơi có nguồn nước bị nhiễm bẩn Chúng hay tụ lại thành từng đám nhỏ nổi trên mặt nước đầu cắm xuống bùn hơi động tới là chúng lẩn xuống bùn Thường được cào bắt và bán phổ biến ở các tiệm bán cá cảnh

Theo Phạm Văn Trang (1983; trích bởi Lê Thị Thu, 1994; trích bởi Mai Thị Thu Hiền, 2005) thì thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ được phân tích như sau:

Đạm : 8,92%

Lipid : 2,00%

Vật chất khô : 13,46%

Nhiệt lượng : 0,5 – 0,7 kcal/g trùn chỉ

Trùn chỉ là loại thức ăn nhiều dinh dưỡng và rất thông dụng cho các loài cá cảnh, từ các loài cá con mới vài ngày tuổi cho tới các loài cá lớn Tuy nhiên, việc bảo quản chúng trong thời gian lâu gặp không ít khó khăn do chúng khó tách hết các chất

dơ bẩn bám trên cơ thể có thể đây là nguyên nhân gây bệnh cho cá Vì vậy, nên xử lí

Trang 21

trước khi cho cá ăn bằng cách gạn sạch các chất bẩn và ngâm nước muối loãng có nồng độ 0,1%

2.4.1.4 Moina

Moina hay còn được gọi là bobo thuộc nhóm động vật không xương sống,

sống chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt như ao hồ, … Có kích thước nhỏ 0,7 – 1 mm hình bầu dục, có vỏ giáp xác bao bọc cơ thể, không phân đốt rõ rệt, sống lơ lửng, bơi

lội chậm chạp, tập trung thành từng đám Moina có giá trị dinh dưỡng cao nên rất

thích hợp làm thức ăn cho cá bột ở thời kỳ đầu

Moina là một loại thức ăn quan trọng không thể thay thế bằng các loại thức ăn

công nghiệp khác đối với hầu hết các loài cá ở giai đoạn cá mới biết ăn

2.4.2 Một số loại thức ăn chế biến dùng ương nuôi cá chép Nhật

2.4.2.1 Cám bắp

Gồm cám gạo và bắp xay, trong đó cám gạo có thành phần là lớp nội nhũ, một phần phối màu của hạt gạo, một ít tấm, gạo và trấu Cám gạo rất giàu các chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, vitamin nhóm B Chất béo trong cám giàu lecitine, vitamin E, K và khoảng 50% acid béo chưa no Hàm lượng protein trong cám khá cao 8-13%, chất béo 7-13% Chất béo trong cám chứa nhiều acid béo không no chủ yếu là oleic acid (Nguyễn Văn Thoa – Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996; trích bởi Mai Thị Thu Hiền, 2005)

2.4.2.2 Bột cá

Là nguồn nguyên liệu protein động vật phổ biến nhất dùng trong chế biến thức ăn chăn nuôi và thức ăn cho tôm cá Chẳng những nó có giá trị protein cao 40-60%, nó còn chứa đầy đủ các amino acid thiết yếu, đặc biệt là các acid béo không no, các vitamin như vit B1,vit B12, vit A, vit D, …

Bột cá cũng giàu muối khoáng, chiếm khoảng 15-20% trọng lượng Bột cá chứa các yếu tố kích thích tăng trưởng trên thủy sản và có vai trò quan trọng làm thức ăn ngon miệng và hấp dẫn (Lê Thanh Hùng, 2000; trích bởi Mai Thị Thu Hiền, 2005)

Trang 22

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài

Đề tài được thực hiện từ 25/3/2005 _ 30/7/2005 tại trại cá cảnh Thanh Đa và trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bị Nghiên Cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá chép Nhật ( Cyprinus carpio) bố mẹ được cung cấp từ trại sản xuất giống

cá cảnh ở Thanh Đa, Q Bình Thạnh

3.2.2 Dụng cụ thí nghiệm

Bể composite thể tích 1m3

Bồn lọc nước

Thau nhựa, vợt vớt cá

Hệ thống ống tạo mưa, ống siphon

Nhiệt kế 0oC – 40oC, 0oC – 100oC

Test đo pH

Giá thể cho cá đẻ là bèo

Cân điện, thước đo, giấy kẻ ô ly

Trang 23

3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu

3.3.1 Kỹ thuật cho lai tạo cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

3.3.1.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Do điều kiện còn hạn chế nên khâu nuôi vỗ cá bố mẹ được thực hiện tại trại cá cảnh Thanh Đa

Ao nuôi vỗ: Diện tích khoảng 1000 m2

Hình thức nuôi vỗ: nuôi chung đực cái, mật độ 20 – 25 cá thể/100 m2 (tương đương 10 – 15 kg/100 m2) Với tỷ lệ 1/2 hay 1/3

Thức ăn: bao gồm cám và bã đậu nành trộn chung và nấu chín, cho ăn với khẩu phần 5 – 7% tổng trọng lượng đàn cá nuôi, mỗi ngày cho ăn hai lần lúc sáng và chiều

3.3.1.2 Chọn cá bố mẹ nuôi vỗ

- Cách tuyển chọn

Chọn những con có ngoại hình đẹp, cân đối, khoẻ mạnh, không bị dị hình dị tật, màu sắc đậm nét vượt trội hơn so với các cá thể cùng lứa

- Phân biệt đực, cái:

Cá đực: vây ngực có nhiều nốt sần, xương nắp mang và vẩy rất nhám, lỗ sinh dục lõm

Cá cái: vây ngực, vẩy và xương nắp mang trơn láng, lỗ sinh dục hơi lồi

3.3.1.3 Chăm sóc cá bố mẹ

Cho ăn mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và chiều Định kỳ thay nước mỗi ngày một lần, mỗi lần thay 1/3 lượng nước cũ, nguồn nước lấy trực tiếp từ sông Sài Gòn thông qua cống dẫn nước Hằng ngày kiểm tra ao vào lúc sáng sớm và chiều mát để nắm vững tình hình hoạt động của cá Thường xuyên kiểm tra để sửa chữa hư hỏng kịp thời và định kỳ tẩy dọn ao

Trang 24

3.3.1.4 Thí nghiệm cho cá bố mẹ sinh sản

Thí nghiệm cho sinh sản cá chép Nhật được tiến hành tại Trại Thực Nghiệm

Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp HCM

a/ Thiết bị cho cá sinh sản

Sử dụng bể composit với thể tích 1m3cho cá sinh sản Trước khi bố trí cho cá sinh sản nên vệ sinh bể thật sạch, cấp nước vào bể, cho giá thể vào và kích thích mưa nhân tạo

b/ Chọn cá bố mẹ cho sinh sản

Đối với cá chép Nhật có thể căn cứ vào các dấu hiệu sau:

Cá đực: Có hình dạng thon dài, vây ngực nhám, nếu vuốt nhẹ ở bụng sẽ có tinh dịch màu trắng đục như sữa chảy ra

Cá cái: Bụng to, mềm đều nếu lật ngữa cá lên nghiêng về phía đuôi sẽ thấy hình hai buồng trứng sệ xuống hay dùng que thăm trứng ta thấy trứng có màu vàng, tròn căng và độ rời cao

c/ Công thức phối màu cá bố mẹ

Thí nghiệm được chia làm hai công thức, mỗi công thức được lặp lại hai lần

CT I: Cho lai cá chép Nhật có màu gấm vàng với nhau

CT II: Cho lai cá đực có hai màu đen trắng với cá cái có hai màu đỏ đen

Xác định sức sinh sản (SSS) thực tế, sức sinh sản thực tế tương đối

- Sức sinh sản thực tế tương đối: là số trứng cá đẻ ra trên một đơn vị trọng lượng cá cái (Pravdin, 1963)

SSS thực tế SSS thực tế tương đối = (trứng/kg hay trứng/g)

Trọng lượng cá

- Sức sinh sản thực tế

Cách tính SSS thực tế:

Xác định số lượng giá thể cho vào bể đẻ

Trang 25

Sau khi cá bố mẹ ngừng sinh sản, đếm số lượng trứng bám trên năm giá thể ở năm vị trí khác nhau của bể, chia trung bình rồi nhân với số lượng giá thể trong bể đẻ Trên cơ sở đó, ta tính được SSS thực tế cho từng đợt sinh sản

d/ Hình thức sinh sản

Sau khi chọn cá bố mẹ thành thục tốt bố trí vào bể composit có thể tích 1m3cho sinh sản theo hình thức đẻ tự nhiên kèm theo kích thích mưa nhân tạo và thả giá thể

e/ Aáp trứng

Cá Chép Nhật là loài đẻ trứng dính và có tập tính ăn trứng, nên sau khi sinh sản xong vớt cá bố mẹ ra khỏi bể đẻ, xiphon thay một phần nước trong bể và kích thích nước chảy nhẹ để đảm bảo đủ lượng oxy cần thiết cho quá trình phát triển của phôi

Xác định tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở, tỉ lệ sống của cá bột:

Số trứng thụ tinh

Tỉ lệ thụ tinh (%) = x 100

Số trứng thu được

Xác định tỉ lệ thụ tinh sau 10 – 12 giờ kể từ khi ấp trứng

Số cá nở

Tỉ lệ nở (%) = x 100

Số trứng thụ tinh

Số cá sau ba ngày tuổi

Tỉ lệ sống của cá bột (%) = x 100

Số cá mới nở

3.3.2 Ương nuôi cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

Cá chép Nhật được ương nuôi từ 3 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi theo 2 nghiệm thức

NT I: Bố trí ương trong giai lưới (2x2m) đặt trong ao, với mật độ 300 con /giai và được lặp lại 3 lần cho mỗi đợt sinh sản

Trang 26

Hình 3.1 Hệ thống giai ương nuôi cá

NT II: Ương trong bể kính, đối với CT II được lặp lại 3 lần cho mỗi đơät sinh sản với mật độ 100 con/bể, kích thước bể (80 × 40 × 60cm)

Hình 3.2 Hệ thống bể kính dùng ương nuôi cá

Trang 27

3.3.2.1 Thức ăn dùng trong thí nghiệm

Cá chép Nhật từ 3 – 5 ngày tuổi cho ăn Moina được vớt ở ao

Từ 5 – 10 ngày tuổi cho ăn trùn chỉ + Moina

Từ 10 – 60 ngày tuổi cho ăn trùn chỉ và thức ăn nấu chín gồm:

Bắp xay + cám gạo: 60% + Bột cá lạc: 40%

3.3.2.2 Chăm sóc và quản lý

a/ Cho ăn

Mỗi ngày cho ăn 2 lần lúc 7 giờ sáng và 4 giờ chiều, thường xuyên kiểm tra lượng thức ăn để điều chỉnh kịp thời, tránh cho ăn quá nhiều làm thức ăn dư thừa dễ gây ô nhiễm nguồn nước, tảo phát triển nhiều

b/ Chăm sóc

Cá ương trong giai phải thường xuyên kiểm tra và làm vệ sinh giai

Cá ương trong bể kính định kỳ thay nước mỗi ngày một lần, thay nước lúc sáng sớm, mỗi lần thay ½ lượng nước trong bể

Trong suốt thời gian làm thí nghiệm phải theo dõi chỉ tiêu chất lượng nước:

pH, nhiệt độ, tiến hành đo mỗi tuần một lần

3.3.2.3 Kiểm tra tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống, tỉ lệ màu sắc

a/ Chiều dài

Chiều dài cá được đo bằng giấy kẻ ôli, chiều dài toàn thân (L) được đo từ chót mõm đến hết vây đuôi

b/ Trọng lượng

Sử dụng cân điện để cân trọng lượng

Hai chỉ tiêu theo dõi về chiều dài và trọng lượng được kiểm tra định kỳ 15 ngày/lần cho mỗi nghiệm thức nuôi Đối với nuôi giai (NT I) cân, đo mỗi lần 20 cá thể/1 giai, đối với nuôi bể (NT II) cân, đo 10 cá thể/ mỗi bể

Trang 28

c/ Tỉ lệ sống

Được tính bằng tỉ lệ phần trăm giữa số cá thể thả nuôi ban đầu và số cá thể còn lại sau khi kết thúc thí nghiệm cá đã được 60 ngày tuổi

d/ Tỉ lệ màu sắc

Phân loại từng màu sắc, và xác định số lượng từng màu sau khi kết thúc thí nghiệm

Trang 29

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

PHẦN I: KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ CHÉP NHẬT (Cyprinus carpio)

4.1 Kỹ Thuật Bố Trí cho Cá Chép Nhật Sinh Sản

4.1.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Nuôi vỗ cá bố mẹ là khâu quan trọng có tính chất quyết định trong kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá giống Vì cá bố mẹ có nuôi vỗ tốt thì chúng ta mới có cơ sở vững chắc để thực hiện những bước tiếp theo của kỹ thuật sản xuất giống Chất lượng đàn cá nuôi vỗ sẽ ảnh hưởng đến SSS thực tế, chất lượng trứng và cá bột, …

Ao nuôi cá bố mẹ có kích thước khoảng 1000 m2, được chắn lưới xung quanh, mực nước trong ao từ 1,2 – 1,5 m Bờ ao cao hơn mặt nước khoảng 30 – 40 cm, ao nuôi được định kỳ tẩy dọn thường xuyên và còn tùy thuộc vào tình hình môi trường nước

Định kỳ tẩy dọn ao vì môi trường nuôi tốt hay xấu đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát dục của cá như nhận định của Nguyễn Hữu Trường (1993, trích bởi Dương Hồng Nga, 2003) “dọn tẩy ao là cải tạo điều kiện môi trường thích hợp với quá trình phát dục tuyến sinh dục của cá”

Do điều kiện ao hồ có giới hạn nên cá bố mẹ được nuôi chung với nhau, mật độ 20 – 25 cá thể/100 m2 (tương đương 10 – 15 kg cá/100 m2) Với tỉ lệ 1/2 hay 1/3 Thức ăn dùng nuôi vỗ cá bố mẹ là cám và bã đậu nành trộn chung với nhau (bã 60%, cám 40%) Tuy nhiên, để hỗ trợ cho việc tiêu hóa và phòng bệnh, thức ăn được nấu chín trước khi cho ăn, với khẩu phần 5 - 7% tổng trọng lượng đàn cá nuôi, mỗi ngày cho ăn hai lần lúc sáng và chiều Ngoài ra, cá chép Nhật là loài cá ăn tạp thiên về động vật nên có thể tận dụng được nguồn thức ăn có sẵn trong ao như giun, ấu trùng côn trùng, tảo, mùn bã hữu cơ, …

Sau 15 – 20 ngày nuôi vỗ kéo cá lên kiểm tra, thông qua việc xem xét các dấu hiệu dinh dục phụ, ngoại hình, sờ và vuốt nhẹ bụng cá Chọn những con thành thục tốt đem bố trí cho sinh sản

4.1.2 Công tác chuẩn bị cho cá sinh sản

Trong sản xuất giống việc chuẩn bị đầy đủ dụng cụ và trang thiết bị đã góp một phần quan trọng vào sự thành công

Trang 30

Trước khi bố trí cho cá sinh sản chúng ta cần phải thực hiện một số công việc như sau:

4.1.2.1 Bể đẻ

Sử dụng bể composite thể tích 1m3 cho sinh sản cá chép Nhật, với ưu điểm là kích thước vừa phải, phù hợp với công thức lai từng cặp Thành và đáy bể trơn láng tạo điều kiện tốt cho cá bố mẹ không bị trầy xước trong thời gian động hớn và sinh sản

Trước khi bố trí cho cá đẻ nên vệ sinh bể thật kỹ, nguồn nước phải trong, sạch, độ sâu của nước từ 60 – 80cm Nếu bể và nguồn nước dơ sẽ tạo điều kiện tốt cho mầm bệnh phát triển, đồng thời gây ảnh hưởng đến trứng và tỷ lệ sống của cá bột

4.1.2.2 Giá thể

Đối với cá cảnh nói chung thì hình thức sinh sản rất phong phú, có loài đẻ con, có loài đẻ trứng nổi, đẻ trứng dính hay có loài làm tổ đẻ trứng, … nhưng đối với cá chép Nhật thì đẻ trứng dính trên giá thể mềm, đặc biệt là bám trên cây cỏ thủy sinh

Do đó, một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu trong điều kiện sinh sản là giá thể Giá thể dùng cho cá chép Nhật sinh sản được chúng tôi chọn là bèo lục bình Nên chọn những chùm lục bình còn tốt, rễ dài và trắng, cắt bỏ bớt phần lá và cọng chỉ chừa lại một đoạn khoảng 20cm rồi ngâm vào nước muối có nồng độ 5% để sát trùng và loại bỏ các loài động vật bám bên trong rễ tránh gây hại cho cá bột sau này

4.1.2.3 Tạo mưa nhân tạo

Trong tự nhiên, cá chép nói chung, cá chép Nhật nói riêng, khi điều kiện nhiệt độ mát mẻ thích hợp, có nước mới hoặc trời mưa nếu cá thành thục tốt là chúng sẽ đẻ ngay Do đó, để tạo điều kiện sinh sản giống với môi trường tự nhiên chúng tôi sử dụng ống nhựa có đục lỗ làm hệ thống ống dẫn tạo mưa nhân tạo

Trang 31

Hình 4.1 Bố trí bể cho cá chép Nhật sinh sản

4.1.3 Chọn cá bố mẹ cho sinh sản

Lựa chọn cá bố mẹ cho sinh sản là một khâu quan trọng, góp phần vào sự thành công của công tác sản xuất giống Tùy theo loài mà có sự biểu hiện mức độ thành thục khác nhau như: độ mềm của bụng, sự thay đổi màu sắc của lỗ sinh dục; một giải pháp là dùng que thăm trứng để quan sát mức độ thành thục như: nhân có sự cực hóa, kích thước trứng đặc trưng của loài, độ rời, độ căng bóng của trứng, thao tác chọn cá cho sinh sản phải nhanh, nhẹ nhàng tránh làm cá bị mệt sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả sinh sản

Trên cơ sở kiểm tra độ thành thục của cá chọn ra những cá thể phát dục tốt và màu sắc như mong muốn Tiêu chuẩn để chọn lựa cá bố mẹ cho sinh sản:

4.1.3.1 Đối với cá cái

Bụng to, mềm đều, khi lật ngửa cá và hơi nghiêng về phía đuôi thấy có dạng hình của hai buồng trứng hơi sệ xuống, lỗ sinh dục hơi đỏ hồng và hơi lồi Những con này có thể cho sinh sản ngay Nhưng những con cá cái có bụng to quá mức bình thường (bụng cóc) thì rất khó cho sinh sản

Trang 32

4.1.3.2 Đối với cá đực

Cá đực có hình dáng thon dài, nắp mang và vây ngực rất nhám, nếu dùng tay vuốt nhẹ bụng từ vây ngực dần xuống lỗ sinh dục sẽ có tinh dịch màu trắng đục hơi sệt chảy ra, nhưng không nên vuốt nhiều lần sẽ làm cho lượng tinh dịch giảm ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh

4.1.4 Hình thức sinh sản

Chúng tôi cho cá chép Nhật sinh sản nhân tạo theo hình thức bố trí cho đẻ tự nhiên Cá bố mẹ được bố trí từng cặp cho mỗi lần sinh sản

4.1.5 Bố trí phép lai

Đối với nghề sản xuất giống cá cảnh, ngoài việc áp dụng các biện pháp nâng cao sức sinh sản, việc phối màu cá bố mẹ là cần quan tâm hàng đầu Đó là hai yếu tố quan trọng quyết định giá trị và sự tồn tại của cá cảnh trên thị trường Cá có màu sắc đẹp luôn được ưa chuộng, sự phối hợp các màu sắc chuẩn trên cá là do sự di truyền chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác, cá thể con được thừa hưởng từ bố mẹ những nhóm màu đặc trưng của loài Tuy nhiên, chúng ta không nên phối hợp màu sắc một cách bất kỳ, đặc biệt đối với một số loài cá có màu đặc trưng quý hiếm Bên cạnh đó, còn phải chọn phối màu cho phù hợp với nhu cầu thị trường

Trong thí nghiệm, chúng tôi tiến hành bố trí hai phép lai đối với việc tạo màu cho thế hệ cá con

Mỗi công thức bố trí với tỉ lệ 1 đực và 1 cái

- Phép lai 1 : cá đực màu vàng gấm × cá cái màu vàng gấm (CT I)

- Phép lai 2 : cá đực màu trắng và đen × cá cái màu đen và đỏ (CT II)

Phép lai 1: thử nghiệm với mục đích khẳng định lại mức độ thuần về màu sắc của cá bố mẹ thể hiện ở thế hệ con lai

Phép lai 2: tạo ra thế hệ con lai với các tỉ lệ màu khác nhau, nhằm từng bước khẳng định ưu thế lai về khía cạnh di truyền màu sắc

Trang 33

Hình 4.2 Cá bố mẹ màu vàng gấm

Hình 4.3 Cá bố mẹ hai màu đỏ đen và đen trắng

Trang 34

4.2 Kết Quả Cho Cá Chép Nhật Sinh Sản

4.2.1 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ

Tương tự như cá chép thường, cá chép Nhật bố mẹ sau khi lựa chọn phối màu thích hợp được bố trí vào bể, dưới sự kích thích của điều kiện môi trường sau một thời gian 10 – 11 giờ cá bắt đầu động hớn, cường độ cá rượt đuổi nhau càng lúc càng mãnh liệt, cá đực luôn bơi bám sát theo cá cái Thời gian cá động hớn kéo dài khoảng

1 – 2 giờ thì sinh sản, cá cái và cá đực bơi song song vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào giá thể, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng cá sẽ đẻ dễ dàng Cá cái quẫy mạnh phun trứng vào giá thể cũng là lúc cá đực tiết tinh dịch thụ tinh trứng vừa tiết ra Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái Thời gian sinh sản kéo dài 4 – 5 giờ thì kết thúc, cá bơi lội trở lại bình thường

Hình 4.4 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ màu vàng gấm

Trang 35

Hình 4.5 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ hai màu đen trắng và đỏ đen

4.2.2 Kết quả sinh sản của cá ở CT I (đực màu vàng gấm × cái màu vàng gấm)

Như chúng ta đã biết trong quy trình sản xuất giống nhân tạo các loài cá nói chung, khâu nào cũng hết sức quan trọng nhưng trong đó nuôi vỗ cá bố mẹ là quan trọng nhất Chất lượng cá bố mẹ sẽ quyết định đến năng suất, sức sống, sinh trưởng của cá con “Cha còi con cọc”, bố mẹ tốt thì con cái có sức sống và sinh trưởng tốt Đó là quy luật tất yếu của sự di truyền

Riêng đối với cá cảnh thì ngoài nuôi vỗ việc phối màu cho cá là hết sức quan trọng, đòi hỏi người làm công tác chọn giống phải đặc biệt quan tâm Màu sắc của bố mẹ sẽ quyết định màu cho thế hệ con lai

Bảng 4.1 Kết quả sinh sản của cá ở CT I (đực vàng gấm × cái vàng gấm)

T (giờ)

Nhiệt độ (0C)

SSS (trứng)

Trang 36

Với kết quả thu được cho thấy lần sinh sản thứ nhất của CT I cho lai cặp cá bố mẹ đều có màu vàng gấm, với trọng lượng cá cái và cá đực tương đương nhau, đã cho kết quả khả quan, sức sinh sản thực tế rất cao đạt 51.000 trứng Trong khi đó sức sinh sản thực tế của lần sinh sản thứ hai của CT I lại thấp chỉ đạt 35.924 trứng, mặc dù trọng lượng cá cái ở lần sinh sản thứ hai lớn hơn

Điều này cho thấy, trong quá trình phát triển và thành thục thì sự trao đổi chất

ở mỗi cá thể không hoàn toàn giống nhau Ngoài ra, trong quá trình nuôi vỗ thì cường độ bắt mồi và hấp thụ thức ăn để chuyển hóa thành sản phẩm sinh dục ở mỗi cá thể là khác nhau, điều đó dẫn đến sức sinh sản thực tế của hai lần có sự chênh lệch rất lớn Sức sinh sản còn bị ảnh hưởng bởi kích cỡ đực cái tham gia sinh sản, ở lần sinh sản thứ nhất cặp cá bố mẹ có trọng lượng tương đương nhau, cá cái có bụng to, mềm đều đã cho kết quả rất cao, trong khi lần sinh sản thứ hai thì trọng lượng đực cái tương đương nhau nhưng cá cái chưa thật sự thành thục tốt Tuy có trọng lượng thân lớn nhưng bụng lại nhỏ, lượng trứng ít dẫn tới sức sinh sản bị thấp hơn lần thứ nhất

Với nhiệt độ sinh sản là như nhau nhưng thời gian động hớn giữa hai lần sinh sản lại chênh lệch nhau (lần sinh sản thứ nhất thời gian bắt đầu động hớn là 10 giờ trong khi lần sinh sản thứ hai là 11 giờ) sự chênh lệch này là do mức độ thành thục của hai cặp cá cho tham gia sinh sản không đồng đều

4.2.3 Kết quả sinh sản của cá ở CT II (cá đực màu trắng đen × cá cái đen đỏ)

Bảng 4.2 Kết quả sinh sản của cá ở CT II (cá đực màu trắng đen × cá cái đen đỏ)

T (giờ)

Nhiệt độ (0C)

SSS (trứng)

II

Chú thích

P : Trọng lượng cá cái tính bằng (g)

T : Thời gian động hớn (giờ) SSS : Sức sinh sản thực tế (trứng)

Ở công thức lai thứ hai, chúng tôi cho sinh sản giữa cá đực có hai màu đen trắng vơí cá cái có hai màu đỏ đen, bố trí tỉ lệ đực cái giữa hai lần sinh sản là như nhau Nhưng trong lần sinh sản thứ nhất của CT II thì sức sinh sản thực tế là 36.400 trứng cao hơn lần sinh sản thứ hai của CT II là 16.200 trứng, điều này đã cho thấy mức độ thành thục của cặp bố mẹ lần thứ nhất tốt hơn lần thứ hai, qua quan sát chúng tôi nhận thấy: cá cái có bụng to mềm đều, lỗ sinh dục ửng hồng và có trọng lượng lớn, trong khi đó cá đực cũng thành thục tốt nhưng trọng lượng lại quá nhỏ không đủ

Trang 37

sức bắt cặp cho cá cái sinh sản hết trứng (sau khi sinh sản tiến hành vuốt bỏ trứng) nhưng sức sinh sản lại rất cao Điều này đã thể hiện mức độ thành thục của cá

Với sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai lần sinh sản, lần sinh sản thứ nhất nhiệt độ cao hơn lần sinh sản thứ hai thì thời gian động hớn giữa hai lần sinh sản là khác nhau Vì nhiệt độ càng cao thì thời gian động hớn càng ngắn (Ngô Văn Ngọc, 2001)

Lần sinh sản

Đồ thị 4.1 Sức sinh sản thực tế của cá chép Nhật qua bốn đợt sinh sản

Qua Đồ thị 4.1 cho thấy sức sinh sản thực tế ở lần sinh sản thứ nhất của CT I là đạt kết quả cao nhất Kế tiếp là lần sinh sản thứ hai của CT I và lần sinh sản thứ nhất của CT II tương đương nhau, cuối cùng là lần sinh sản thứ hai của CT II cho kết quả thấp nhất

Như vậy, theo chúng tôi thì sức sinh sản thực tế bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mùa vụ và sự phát triển của tuyến sinh dục Từ đó cho thấy chế đô nuôi vỗ là rất quan trọng, vì theo từng thời điểm mà có chế độ nuôi vỗ khác nhau nhằm tiết kiệm chi phí trong sản xuất, cá được nuôi vỗ tốt khi có nhu cầu sinh sản, thời gian còn lại chỉ cho ăn với lượng vừa đủ để duy trì sự sống không đủ dinh dưỡng để chuyển hóa thành sản phẩm sinh dục

Trang 38

4.3 Kết Quả Aáp Trứng Cá Chép Nhật (Cyprinus carpio)

4.3.1 Hình thức ấp trứng

Cá chép Nhật là loài có tập tính ăn trứng, nên sau khi cá kết thúc sinh sản phải vớt cá bố mẹ ra khỏi bể đẻ Đồng thời xiphon thay bớt một phần nước trong bể để loại bỏ bớt các sản phẩm phụ được thải ra trong quá trình sinh sản như: tinh dịch, trứng hư, rễ lục bình bị đứt gãy Nếu không được xiphon các chất bẩn sẽ làm cho môi trường nước trong bể ấp bị xấu đi, tiêu hao hàm lượng oxygen trong nước và sinh ra các khí độc như NH3, H2S, tác động xấu đến quá trình phát triển của phôi Đồng thời các chất dơ sẽ bám trên bề mặt vỏ trứng ngăn cản sự hấp thu oxygen của trứng Do đó, trong suốt quá trình ấp trứng nên tạo dòng nước chảy nhẹ nhằm cung cấp thêm lượng oxygen cần thiết cho quá trình phát triển bình thường của trứng

Hình 4.6 Aáp trứng cá chép Nhật

Trứng sau khi ấp được 10 – 12 giờ thì có thể phân biệt được trứng thụ tinh hay trứng bị hư, trứng thụ tinh luôn giữ được độ trong suốt và căng bóng, ngược lại trứng không thụ tinh sẽ có màu trắng đục và đây là môi trường thích hợp cho nấm thủy mi

(Saprolegnia carpio) phát triển

Trong các lần thí nghiệm cho ấp trứng chúng tôi đều thấy có sự xuất hiện của nấm thủy mi, mật độ phát triển của nấm nhiều hay ít còn phụ thuộc vào số lượng trứng được sinh ra, tỉ lệ thụ tinh Nếu mật độ trứng quá dầy thì khi bị nấm thủy mi tấn

Trang 39

công sẽ lây lan qua các trứng không bị hư, nhưng một yếu tố môi trường quan trọng góp phần thuận lợi cho nấm thủy mi phát triển là nhiệt độ, nếu nhiệt độ bể ấp quá thấp nấm thủy mi dễ phát triển, dẫn đến kết quả là làm giảm tỉ lệ nở

Hình 4.7 Trứng sau khi ấp được 10 giờ

Sau 24 giờ ấp trứng, nếu quan sát kỹ sẽ phân biệt được điểm mắt, từ thời gian này trở đi phôi vận động càng mạnh cần rất nhiều oxygen, nhất là trước và sau khi trứng nở Vì theo Lê Thị Thanh Muốn (2001; trích bởi Dương Hồng Nga, 2003) thì cơ thể cá chuyển từ trạng tháy phôi bất động sang trạng tháy vận động, quá trình trao đổi chất tăng Mặt khác, các enzyme được tiết ra phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxygen, nếu thiếu oxygen thì enzyme bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp

4.3.2 Kết quả ấp trứng

Trong quá trình ấp trứng chúng tôi luôn theo dõi nhiệt độ và cung cấp thêm oxygen bằng cách tạo dòng nước chảy vào bể, vì đó là yếu tố quan trọng góp phần quyết định đến thời gian phát triển phôi Ngoài ra tỉ lệ thụ tinh, thời gian phát triển phôi, tỉ lệ nở cũng được chúng tôi ghi nhận

Trang 40

Bảng 4.3 Kết quả ấp trứng cá chép Nhật (Cyprinus carpio)

Tt (giờ)

TLTT (%)

TLN (%)

Tỉ lệ cá sống năm ngày tuổi (%)

Thời gian phát triển phôi kéo dài khi nhiệt độ giảm có thể giải thích như sau: sự phá vỡ màng trứng là do quá trình vận động của phôi và tác động của enzyme nở, khi nhiệt độ giảm trong giới hạn cho phép thì hoạt tính của enzyme nở giảm, thời gian phát triển phôi dài dẫn tới kéo dài thời gian ấp trứng, như ở hai lần ấp trứng của

NT I ta thấy nhiệt độ chênh lệch nhau 1 – 2 0C thì thời gian phát triển phôi giữa hai lần ấp khác nhau rõ rệt nhưng ở mức độ không đáng kể Còn ở NT II ta thấy nhiệt độ bể ấp giữa hai lần là như nhau nhưng thời gian phát triển phôi lại khác nhau Điều này chứng tỏ thời gian phát triển phôi không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nhiệt độ

Thời gian trứng nở nhanh hay chậm cũng phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường nước rất lớn Ngoài ra, theo Ngô Văn Ngọc, 2001 đối với hình thức ấp trứng bằng bình weise thì khi trứng ở giai đoạn sắp nở nếu giảm bớt lưu tốc nước sẽ làm cho trứng nở nhanh hơn do có hiện tượng hơi bị thiếu oxygen, làm cho cá vận động mạnh hơn dễ làm vỡ vỏ trứng Tương tự, ở cá chép Nhật cũng vậy

Khi trứng nở nhiều phải thay bớt nước, vì vỏ trứng dễ bị phân hủy sinh ra các khí độc như NH3, H2S, … đồng thời làm giảm lượng oxygen hòa tan trong nước

Ngày đăng: 19/03/2013, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1  Hệ thống giai ương nuôi cá - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 3.1 Hệ thống giai ương nuôi cá (Trang 26)
Hình 3.2  Hệ thống bể kính dùng ương nuôi cá - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 3.2 Hệ thống bể kính dùng ương nuôi cá (Trang 26)
Hình 4.1  Bố trí bể cho cá chép Nhật sinh sản - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.1 Bố trí bể cho cá chép Nhật sinh sản (Trang 31)
Hình 4.3  Cá bố mẹ hai màu đỏ đen và đen trắng - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.3 Cá bố mẹ hai màu đỏ đen và đen trắng (Trang 33)
Hình 4.2  Cá bố mẹ màu vàng gấm - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.2 Cá bố mẹ màu vàng gấm (Trang 33)
Hình 4.4  Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ màu vàng gấm - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.4 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ màu vàng gấm (Trang 34)
Hình 4.5  Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ hai màu đen trắng và đỏ đen - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.5 Hoạt động sinh sản của cá bố mẹ hai màu đen trắng và đỏ đen (Trang 35)
Đồ thị 4.1  Sức sinh sản thực tế của cá chép Nhật qua bốn đợt sinh sản - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
th ị 4.1 Sức sinh sản thực tế của cá chép Nhật qua bốn đợt sinh sản (Trang 37)
Hình 4.6  Aáp trứng cá chép Nhật - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.6 Aáp trứng cá chép Nhật (Trang 38)
Hình 4.7  Trứng sau khi ấp được 10 giờ - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.7 Trứng sau khi ấp được 10 giờ (Trang 39)
Đồ thị 4.2  Tỉ lệ thụ tinh của cá chép Nhật qua bốn lần sinh sản - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
th ị 4.2 Tỉ lệ thụ tinh của cá chép Nhật qua bốn lần sinh sản (Trang 41)
Đồ thị 4.3  Tỉ lệ nở  của cá chép Nhật qua bốn lần ấp trứng - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
th ị 4.3 Tỉ lệ nở của cá chép Nhật qua bốn lần ấp trứng (Trang 42)
Bảng 4.4  Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm  Nghieọm - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Bảng 4.4 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm Nghieọm (Trang 44)
Đồ thị 4.4  Sự tăng trưởng chiều dài cá ở CT I và CT II  trong thời gian thí nghiệm - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
th ị 4.4 Sự tăng trưởng chiều dài cá ở CT I và CT II trong thời gian thí nghiệm (Trang 47)
Hình 4.8 Chiều dài cá 15 ngày tuổi của CT I - Kỹ thuật lai tạo cá chép Nhật
Hình 4.8 Chiều dài cá 15 ngày tuổi của CT I (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN