KÝ SINH TRÙNG TRÊN RAU SỐNG TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát sự hiện diện của các loài ký sinh trùngKST ký sinh trên rau sống tại các chợ trên địa bàn thành phố HCM bao gồm:1 khảo sát tỷ
Trang 1KÝ SINH TRÙNG TRÊN RAU SỐNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát sự hiện diện của các loài ký sinh trùng(KST) ký sinh
trên rau sống tại các chợ trên địa bàn thành phố HCM bao gồm:(1) khảo sát tỷ lệ nhiễm KST chung trên rau sống, (2) khảo sát tỷ lệ nhiễm KST trên từng loại rau sống, (3) so sánh tỷ lệ nhiễm KST chung trên rau sống khi rửa bằng nước thường lần 1, lần 2 và lần 3 và bằng nước Vegy
Phương pháp: mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên cứu: Rau sống được bán
tại các chợ thuộc Tp HCM Chúng tôi chỉ nghiên cứu KST trên những rau có nhiều khả năng người dân ăn sống và có bán phổ biến ở các chợ như: rau xà lách, cải bẹ xanh, rau má, xà lách xoong, rau đắng, rau gia vị, rau muống, rau tần ô.Tổng cộng 104 mẫu rau mua ở các chợ trong TP HCM
Kết qua và kết luận: Tỷ lệ nhiễm KST chung trên rau là 97,1% KST đơn
bào nhiễm chủ yếu là bào nang amip bao gồm E histolytica và E coli, KST đa bào là ấu trùng giun hình ống Rau tần ô, rau đắng, rau má, cải bẹ xanh và rau xà lách xoong nhiễm KST 100%, các loại khác nhiễm 92,3% Rau rửa nước thường
Trang 2lần 3 có tỷ lệ nhiễm KST thấp nhất, rau rửa nước thường lần 2 và nước rửa Vegy
có tỷ lệ nhiễm KST gần bằng nhau Sự khác biệt có ý nghĩa giữa rau rửa bằng nước thường lần 1, lần 2, lần 3, và bằng nước Vegy
ABSTRACT
Objectives: The investigation of parasites in fresh vegetable at the markets
in HCM city included: (1) Identifying parasitic prevalence in fresh vegetable (2) Identifying all kinds of parasitic prevalence in fresh vegetable (3) Comparing parasitic prevalence in fresh vegetable after washing in water: tap- water (in three times), Vegy solution (in one time)
Methods: Cross – sectional descriptive study Object of study: Vegetable at
the markets of HCM city We concentrated on the parasites on the common vegetable for raw Vegetable samples total: 104
Results and conclusions: Common parasitic prevalence in vegetable is
97,1% The infection is mainly in the form of cyst of amoeba (including E.histolytica and E.coli); metazoa are larva of nematode Parasitic prevalence 100% on coronarium, wild lettuce, centella, mustard green, watercress; 92,3% in the rest of sample The lowest parasitic prevalence on the vegetable after washing with tap-water in the third time, equal prevalence with tap-water in the second time and Vegy Significant difference between tap – water in the first, second, third time and Vegy
Trang 3Tuy nhiên, nếu rau sống không được đảm bảo vệ sinh (tưới bón phân tươi,
sử dụng thuốc trừ sâu không đúng quy định ) thì lại là món ăn chứa vô số tác nhân gây bệnh mà mắt thường không nhìn thấy được(5): vi khuẩn, trứng giun sán,
ấu trùng giun sán và các loại đơn bào như bào nang amip, trùng lông, trùng roi
Do đó, khi ăn rau sống, chúng ta có thể bị mắc phải các bệnh ở đường tiêu hóa như: viêm nhiễm đường tiêu hóa, các bệnh về giun sán Theo một nghiên cứu được tiến hành tại xã Vũ Phúc thành phố Thái Bình, tỷ lệ nhiễm các loại trứng giun trong rau được sản xuất tại xã Vũ Phúc là 50%, trong đó giun đũa là 48,8%, giun tóc là 42,2%, giun móc là 17,8%, và trong rau sống có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 60%(2)
Bệnh KST đã và đang là vấn đề nghiêm trọng của sức khỏe cộng đồng, gây
ra những tai hại không nhỏ đối với sức khỏe con người: rối loạn tiêu hóa, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng gây ra thiếu máu, thiếu vitamin A, B, C Theo tính toán
Trang 4của Venkatachalam và Patwardhan, một trẻ em chứa từ 13 – 40 con giun đũa
(Ascaris lumbricoides) thì chúng sẽ chiếm đoạt mất đi 4g protid trong 35 – 50g protid ăn vào Mỗi ngày, 20 con giun đũa (Ascaris lumbricoides) có thể tiêu thụ khoảng 2,8g glucid; 1 con giun móc (Ancylostoma duodenale và Necator
americanus) tiêu thụ từ 0,02 - 0,2ml máu Chúng làm người nhiễm bị suy nhược cơ
thể (8) Nghiêm trọng hơn nữa là gây tắc ruột, áp xe gan, bệnh nang ấu trùng sán gây
ra viêm màng nhện (7) là những bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng Dù vậy,
ở nước ta, do truyền thống cũng như do sở thích của người dân, thói quen ăn rau sống gần như có ở mọi nhà, nhất là một số món ăn không thể thiếu rau sống như: các món lẩu, gỏi cuốn, rau trộn để tăng thêm hương vị cho món ăn Do đó, lượng rau sống được tiêu thụ hằng ngày là khá lớn, đặc biệt ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những thành phố lớn nhất nước, với lượng dân nhập cư nhiều, mật độ dân cư cao và các chợ vẫn là nơi mua thực phẩm quen thuộc của đa số người dân
Mặt khác ý thức về vệ sinh thực phẩm của đa số người dân còn hạn chế Hơn nữa, hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát tình hình nhiễm KST trên rau tại các chợ Để góp phần tìm hiểu về tình trạng nhiễm ký sinh trùng trên rau, từ đó có thể giúp người dân ý thức hơn về việc sử dụng rau an toàn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát ký sinh trùng trên rau sống tại các chợ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 5Mục tiêu tổng quát
Khảo sát sự hiện diện của các loài ký sinh trùng ký sinh trên rau sống tại các chợ trên địa bàn thành phố HCM
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau
2 Xác định tỉ lệ nhiễm các loại ký sinh trùng trên từng loại rau
3 So sánh tỉ lệ nhiễm từng loại ký sinh trùng trên rau rửa nước thường lần
1, lần 2, lần 3 và bằng nước Vegy
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Công trình nghiên cứu được tiến hành từ 08/2006 đến tháng 02/2007 tại Bộ Môn KST, Trung Tâm Đào Tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế Tp HCM
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu
được tính theo công thức:(3)
Trang 6- Bước 1: Chọn địa bàn nghiên cứu là Tp HCM
- Bước 2: Xem danh sách các chợ trên địa bàn Tp HCM: tại Tp HCM có tất
cả 89 chợ
- Bước 3: Chọn các chợ lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn
Ở mỗi chợ, chúng tôi sẽ tiến hành lấy 8 mẫu rau ăn sống ( tương ứng với 8 loại rau: rau xà lách, xà lách xoong, rau muống, cải bẹ xanh, rau đắng, rau tần ô, rau gia vị, rau má ) Chia đều cỡ mẫu cho số mẫu cần lấy ở các chợ 104: 8 = 13 chợ
Trang 7Chọn ra 13 chợ trong danh sách 89 chợ bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên
Đối tượng nghiên cứu
Rau sống tại các chợ thuộc Tp HCM Chúng tôi chỉ nghiên cứu KST trên những rau có nhiều khả năng người dân ăn sống và có bán phổ biến ở siêu thị như: rau xà lách, rau cải, rau gia vị, rau đắng, rau má, rau muống, rau tần ô và rau xà lách xoong
KẾT QUẢ
Chúng tôi đã xét nghiệm tất cả 104 mẫu rau tai 13 chợ khác nhau ở Tp HCM, trong dó có 101 mẫu rau dương tính ( 97,12%) Kết quả cụ thể như sau:
Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trên rau (mục tiêu 1)
Bảng 1: Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trên rau
Rau sống
nhiễm
Trang 8Tần
số
(+) / 104
Trang 9Mẫu nhiễm Mẫu không
nhiễm Rau sống
Ký sinh trùng Tần
số
(+) / 104
Ấu trùng giun 82
Nhận xét: Ấu trùng giun được phát hiện trên rau sống chiếm tỷ lệ cao nhất
(78.8%), kế đến là amip (E.histolytica: 65.4%, E.coli: 50%) Ít nhất là bào nang
G.lamblia (8,6%)
Trang 10Tỉ lệ nhiễm các loại KST trên từng loại rau (mục tiêu 2)
Bảng 2: Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng chung trên từng loại rau
Trang 11ký sinh trùng là 92.3%
Bảng 3: Tỉ lệ nhiễm các loại KST trên từng loại rau
Trang 12Xà
lách
Xà lách xoong
Rau muống
Cải
bẹ xanh
Rau đắng
Rau tần ô
Rau gia vị
10 (76,9)
8 (61,5)
7 (53,8)
8 (61,5)
8 (61,5)
9 (69,2)
10 (76,9)
Bào
nang E coli
6 (46,1)
7 (53,8)
7 (53,8)
7 (53,8)
5 (38,5)
7 (53,8)
6 (46,1)
7 (53,8)
Bào
nang G
lamblia
1 (7,7)
2 (15,4)
1 (7,7)
0 (0)
1 (7,7)
1 (7,7)
2 (15,4)
1 (7,7)
Trứng
giun đũa
5 (38,5)
3 (23,1)
2 (15,4)
2 (15,4)
3 (23,1)
4 (30,7)
2 (15,4)
3 (23,1)
Trứng
giun móc
2 (15,4)
6 (46,1)
1 (7,7)
0 (0)
4 (30,7)
1 (7,7)
6 (46,1)
6 (46,1)
Trang 13Xà
lách
Xà lách xoong
Rau muống
Cải
bẹ xanh
Rau đắng
Rau tần ô
Rau gia vị
3 (23,1)
0 (0)
1 (7,7)
1 (7,7)
1 (7,7)
2 (15,4)
1 (7,7)
Ấu
trùng giun
9 (69,2)
13 (100)
6 (46,1)
12 (92,3)
11 (84,6)
10 (76,9)
11 (84,6)
10 (76,9)
(92,3)
13 (100)
12 (92,3)
13 (100)
13 (100)
13 (100)
12 (92,3)
13 (100)
Nhận xét: Bào nang E.histolytica phát hiện nhiều nhất trên rau má và rau xà
lách xoong (10 mẫu trên 68 mẫu E.histolytica (+)) Bào nang G.lamblia không tìm
thấy trên cải bẹ xanh Trứng giun đũa phát hiện nhiều nhất trên rau xà lách (5/24
mẫu phát hiện trứng giun đũa (+)) Trứng giun móc không tìm thấy trên cải bẹ
xanh, tỷ lệ cao nhất phát hiện trên rau xà lách xoong, rau gia vị và rau má (6/26
Trang 14mẫu phát hiện trứng giun móc (+)) Ấu trùng giun chiếm tỷ lệ cao ở hầu hết các
rau, ngoại trừ rau muống (6/82 mẫu phát hiện ấu trùng giun (+))
So sánh tỷ lệ nhiễm KST trên rau rửa nước thường của các lần rửa và
nước rửa Vegy
Bảng 4: So sánh tỷ lệ nhiễm KST trên rau rửa nước thường lần 1, lần 2, lần
Bào nang
E.his
Bào nang
E.coli
Bào nang
G.lamblia
Trứng giun đũa
Trứng giun móc
giun đ mèo
Nước
rửa lần 1
104
101 (97,1)
68 (65,4)
52 (50)
9 (8,6)
24 (23,1)
26 (25) (11,5)
Nước
rửa lần 2
104
81 (77,9)
55 (52,9)
35 (33,6)
9 (8,6)
10 (9,6)
13 (12,5)
Trang 1552 (50)
39 (37,5)
5 (4,8)
9 (8,7)
16 (15,4)
Nhận xét: Rau rửa nước thường lần 1 có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng cao nhất
Có sự giảm tỷ lệ ký sinh trùng qua các lần rửa rau Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên
rau rửa bằng Vegy thấp hơn rửa bằng nước thường lần 1 nhưng cao hơn nhiều so
với tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên rau được rửa lần 3
Bảng 5 Tương quan giữa từng cặp nước rửa
Các
cặp kiểm
định
Giá trị p
Trang 16Các
cặp kiểm
định
Giá trị p
Trang 17Qua khảo sát 104 mẫu rau tại các chợ trên địa bàn Tp.HCM, chúng tôi xác định được tỷ lệ nhiễm chung qua các loại KST trên rau là 97,1% Đây là tỷ lệ nhiễm KST rất cao
Theo bảng 1 thì trong nhóm đơn bào, nhóm trùng chân giả amip chiếm tỉ lệ
cao nhất (E.histolytica: 65.4%, E.coli: 50%); bào nang G.lamblia chiếm tỷ lệ ít
nhất 8,6% Với tỉ lệ này phản ánh được mức độ ô nhiễm trên rau Riêng bào nang
E histolytica được xem là dạng đơn bào nguy hại nhất cho sức khoẻ con người,
ngoài lỵ amip(9), còn gây những bệnh lý nguy hiểm hơn như apxe gan, phổi, não Chúng được lây nhiễm qua nhiều cách khác nhau, rau sống được xem là một trong
những nguyên nhân lây nhiễm loại bào nang E histolytica Sự hiện diện của bào nang E coli trong rau phản ánh sự ô nhiễm phân người trên rau sống
Cũng theo bảng 1, KST dạng đa bào có tỉ lệ nhiễm trên rau sống từ thấp đến cao Cao nhất là ấu trùng giun với tỷ lệ 78,8% Không chỉ có ấu trùng giun,
mà trứng giun đũa chó mèo cũng được phát hiện với một tỷ lệ đáng chú ý (11,5%) Đây là dạng đa bào có thể gây hại cho sức khoẻ con người Với tỉ lệ này chứng tỏ chúng sống rất thích nghi với môi trường bên ngoài Ngoài ra dạng đa bào ký sinh
trên rau sống còn có trứng giun móc chiếm tỉ lệ 25%, trứng giun đũa Ascaris
lumbricoides chiếm tỉ lệ 23,1% Mặc dù 2 loại KST này có tỉ lệ nhiễm thấp hơn
các loại KST khác, nhưng khi bị nhiễm vào người, chúng có thể gây một số bệnh nguy hiểm như: tắc ruột do giun, giun chui ống mật (7) Do đó cẩn thận khi sử dụng các loại rau sống là cần thiết Qua các tỉ lệ trên cho thấy tình hình nhiễm
Trang 18chung các loại ký sinh trùng trên rau sống là phổ biến và đa dạng, phù hợp với khí hậu nhiệt đới như nước ta Cần có quy trình quản lý chất lượng vệ sinh an toàn rau quả từ khi trồng trọt, chăm bón, thu hoạch, vận chuyển đến khi sử dụng Tuyệt đối không được để tiếp xúc với các nguồn có thể gây tái nhiễm Nếu phát hiện rau có màu sắc, hình dáng, mùi vị lạ thì không sử dụng để ăn sống(5)
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng: nhiều nơi trồng rau còn
sử dụng phân tươi để bón rau, rau sống được tưới nước ngọt và phát triển ở điều kiện khí hậu nhiệt đới Có lẽ đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình hình nhiễm
ký sinh trùng trên rau khá cao
Tỉ lệ nhiễm các loai ký sinh trùng trên từng loại rau
Bảng 2 cho thấy các loại rau xét nghiệm đều có tỉ lệ nhiễm các loại ký sinh trùng khá cao(97,1%) Đối với rau tần ô, rau đắng, rau má, và rau xà lách xoong
và cải bẹ xanh nhiễm ký sinh trùng 100%.Đối với rau xà lách, rau muống và rau gia vị (húng cây, tía tô, rau quế ) có tỉ lệ nhiễm thấp hơn 97,1 %
Với kết quả nhiễm ký sinh trùng như trên, nếu rau không được xử lý cẩn thận trước khi ăn, chắc chắn đây sẽ là một trong những cách lây nhiễm KST vào người một cách dễ dàng và thường xuyên nhất
Khi xét riêng từng loại ký sinh trùng trên từng loại rau nghiên cứu cho thấy:
+ Ký sinh trùng đơn bào
Trang 19Bào nang E histolytica hiện diện trên rau xà lách xoong và rau má với tỷ lệ cao nhất (76,9%) Bào nang E coli hiện diện thấp nhất là ở rau đắng (38,5%) và
cao tương đương ở các loại rau còn lại ( 53,8%) Qua đó cho thấy nhóm trùng chân giả amip dạng bào nang ký sinh khá phổ biến trên rau Riêng đối với bào
nang G.lamblia nhiễm thấp hơn nhiều trong rau so với bào nang amip Cao nhất là rau gia vị và xà lách xoong 15,4% và không tìm thấy bào nang G.lamblia trong cải
bẹ xanh
Các loại rau nghiên cứu hầu hết là rau sống ở nước ngọt, trong nước ngọt trứng và bào nang KST tồn tại rất lâu, do đó tỉ lệ nhiễm KST trên rau cao là hợp
lý
Qua các tỉ lệ nhiễm KST dạng đơn bào trên cho thấy bào nang E
histolytica và E coli rất thích hợp với môi trường bên ngoài (dạng sống tự do)
Qua đó giúp ta đánh giá được mức độ ô nhiễm nguồn rau sống
+ Ký sinh trùng đa bào
Ấu trùng giun hình ống chiếm tỉ lệ khá cao trên cả 8 loại rau, cao nhất là rau xà lách xoong(100%) và thấp nhất là ở rau muống(46,1%) Kế đến là trứng giun móc (25%) và trứng giun đũa (23,1%) Trứng giun móc không được tìm thấy
ở rau cải bẹ xanh và trứng giun đũa chiếm tỷ lệ cao nhất ở rau xà lách (38,5%) Riêng trứng giun đũa chó mèo không được tìm thấy ở rau muống và tỉ lệ trung bình nhiễm ở 8 loại rau là 11,5% Chứng tỏ trong cộng đồng dân cư, chó nuôi thả
Trang 20rong khá nhiều, phù hợp với một số bệnh cảnh do Toxocara và Strongyloides gặp
ở người, mà ăn rau sống không rửa kỹ là một trong những nguyên nhân gây nhiễm(4,6)
Ở bảng 4, dạng đơn bào, bào nang amip nhiễm trên rau rửa nước thường chiếm tỉ lệ cao ở nước rửa lần 1 và bằng nhau ở nước rửa lần 2 và Vegy Riêng
bào nang G.lamblia không tìm thấy ở nước rửa lần 3 và Vegy Tuy nhiên tỉ lệ KST
nhiễm trên rau giảm rõ rệt ở nước rửa lần 3 so với lần 1 Dạng đa bào, ấu trùng giun chiếm tỉ lệ khá cao ở cả 3 lần rửa bằng nước thường và Vegy (46,1% - 76,9%) Trứng giun đũa và trứng giun móc giảm rõ ở nước rửa thường lần 2 và 3
so với lần 1 Riêng trứng giun đũa không tìm thấy ở nước rửa thường lần 3 Ở nước rửa Vegy, trứng giun móc chiếm tỉ lệ khá cao (30,77%) so với nước rửa thường lần 2 (15,4%) và lần 3 (7,7%) Tuy nhiên, trứng giun đũa chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều ở nước rửa Vegy (7,7%) so với nước rửa thường lần 1 (23,1%) và lần 2 (25,4%)