Chùa Trúc Lâm Rừng Tam Đảo là kho tài nguyên quí giá, nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật đặc hữu quí hiếm, là nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn
Trang 1Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
Trường Cao Đẳng Tài Nguyên và Môi Trường TP.Hồ Chí Minh
Trang 2I – VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:
Vườn quốc gia Tam Đảo (VQG Tam Đảo) là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm
trọn trên dãy núi Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80 km, rộng 10-15 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Vườn trải rộng trên ba tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái Nguyên (huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương), cách Hà Nội khoảng 75km về phía
Bắc
- Vườn Quốc Gia Tam Đảo: có diện tích 34.995 ha
- Tọa độ địa lý :21°21'-21°42' vĩ Bắc 105°23'-105°44' kinh Đông.
- Vườn hiện có 26.163 ha rừng; chủ yếu là rừng tự nhiên mưa ẩm thường xanh, độ che phủ chiếm trên
Dãy núi Tam Đảo: Đây
là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu,
Núi Tam Đảo có 3 đỉnh , khi có sương mù nhìn nổi lên
như 3 hòn đảo : đỉnh giữa có tên Bàn Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m
Trang 3Thị Trấn Tam Đảo
Rừng Tam Đảo có vai trò điều tiết nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của
gần 200 ngàn người thuộc 27 xã của vùng đệm và các xã lân cận Khu nghỉ mát Tam Đảo (thị trấn Tam Đảo) nằm ở độ cao 900m, hàng năm thu hút hàng vạn khách du lịch trong nước và quốc tế vào mùa hè
Khu danh thắng Tây Thiên với nhiều đền chùa nổi tiếng là nơi gặp gỡ của hàng chục ngàn khách thập phương đến hành hương và vãn cảnh vào mùa xuân (tháng 1 - 3 âm lịch) và
du lịch sinh thái vào mùa hè
Chùa Trúc Lâm
Rừng Tam Đảo là kho tài nguyên quí giá, nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật đặc hữu quí hiếm, là nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn gen phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, học tập cho các nhà khoa học và sinh viên trong nước cũng như quốc tế
Rừng Tam Đảo còn có nhiều cây thuốc quí hiếm và do vậy là nguồn dược liệu hữu ích cho nhân dân quanh vùng
- Ngày 24/1/1977, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 41/TTg công nhận việc thành lập Khu rừng cấm Tam Đảo thuộc địa giới 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với tổng diện tích 19.000 ha
- Ngày 09/8/1986, Khu rừng cấm Tam Đảo có tên chính thức trong quyết định số
194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về hệ thống các khu rừng cấm của Việt Nam và giao trách nhiệm cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh có khu rừng cấm điều tra, quy hoạch và xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật
3
Trang 4- Ngày 06/3/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 136/TTg phê duyệt
Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo
- Ngày 15/5/1996, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ra quyết định số
601-NN.TCCB/QĐ về việc thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo trực thuộc Bộ
- Đến ngày 15/6/1996, Vườn quốc gia Tam Đảo đã chính thức được thành lập với tổng diện tích là 36.883ha, ranh giới từ độ cao 100m trở lên vòng quanh núi Tam Đảo và trụ sở văn phòng Vườn đặt tại Km 13 (trên quốc lộ 2B từ thị xã Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo) thuộc xã Hồ Sơn - huyện Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc
- Ngày 01/4/ 2008, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ra quyết định số BNN-TCCB về việc chuyển giao Vườn quốc gia Tam Đảo cho Cục Kiểm lâm quản lý
975/QĐ-B – Nhiệm Vụ:
Vườn quốc gia Tam Đảo có các nhiệm vụ chính như sau:
− Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo
− Bảo vệ nguồn gen các loài động, thực vật rừng quý hiếm Đặc biệt là các loài động, Thực vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên
− Thực hiện công tác nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và dịch vụ khoa học; tạo môi trường tốt phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, du lịch và nghỉ mát
− Tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục phổ cập cho nhân dân lòng yêu thiên nhiên
và ý thức bảo vệ rừng
− Thực hiện vai trò giữ và điều tiết nước của khu vực đầu nguồn, góp phần cải thiện môi sinh cho vùng đồng bằng, trung du bắc bộ và thủ đô Hà Nội
− Tham gia tổ chức việc tham quan du lịch và nghỉ mát
− Góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng đệm
Vườn quốc gia Tam Đảo được chia thành 3 phân khu chức năng sau đây:
* Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
+ Diện tích 17.295 ha,
+ Ranh giới: Tính từ độ cao 400 m (so với mặt nước biển) trở lên;
+ Chức năng: Bảo vệ nghiêm ngặt, cấm mọi tác động làm ảnh hưởng đến động vật, thực vật rừng và cảnh quan thiên nhiên trong phân khu
(Quy hoạch khu du lịch sinh thái Tam Đảo II nằm toàn bộ trong phân khu này)
* Phân khu phục hồi sinh thái:
cả diện tích đất thị trấn Tam Đảo )
+ Nằm ở sườn núi Tam Đảo
thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phú
(nay là Vĩnh Phúc), bao quanh thị
trấn Tam Đảo
+ Chức năng: Tạo điều kiện
thuân lợi để phát triển khu du lịch sinh
thái, thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước đến nghỉ ngơi và tìm hiểu
thiên nhiên Việt Nam
Trang 5(Trụ sở VQG Tam Đảo, xã Hồ Sơn, Huyện Tam Đảo)
III – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
A – Địa Hình:
Vườn Quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ
sộ, nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng tây-bắc – đôngnam.Cả khối núi
có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dầy
Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại
Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành bốn kiểu địa hình chính:
5
Địa giới hành chính Vườn Quốc gia được giới hạn như sau:
- Phía bắc là đường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo Khế.
- Phía đông-bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ
13A tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ.
- Phía nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên.
- Phía tây-nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ Đường 13A tại xã
Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã
Mỹ Khê bên hồ Đại Lải.
Trang 6- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối <100m, độ dốc cấp
I (<7)o Phân bố dưới chân núi và ven sông suối
- Đồi cao trung bình: Độ cao tuyệt đối 100-400m Độ dốc cấp II (8o – 15o) trở lên Phân
bố xung quanh chân núi và tiấp giáp với đồng bằng
- Núi thấp: Độ cao tuyệt đối 400 – 700m Độ dốc trên cấp III (16o – 26o) Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình
- Núi trung bình: Độ cao tuyệt đối >700m – 1590m Độ dốc >cấp III Phân bố ở phần trên của khối núi Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn
Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp dần về
hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theo hướng tây-bắc – đông-nam
nên nó như một bức bình phong chắn gió mùa đông-bắc tràn về đồng bằng và trung du
Bắc Bộ, Vì vậy ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn trong vùng
(Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo)
B – Địa Chất:
Theo tài liệu của Tổng cục Địa chất, tuổi tuyệt đối mẫu cục lấy ở khu nghỉ mát Tam Đảo là 267 triệu năm, hơi cao hơn rionit ở dãy Phiabioc có tuổi từ 230 đến 240 triệu năm Như vậy rionit Tam Đảo có tuỏi Triat giáp Nori
Ở phần phía tây của vùng (mỏ thiếc), các thể xâm nhập granit kết hợp chặt chẽ với rionit kết tinh khá cao (giống ở dãy núi pháo Đồng Hỷ) chỉ có các đá granit chứa thiếc chắc chắn có tuổi trẻ hơn (ở cuối chân núi xuất hiện cuội kết thuộc trầm tích kỷ Jura),
Trong quá trình phát sinh và phát triển của địa hình và lịch sử địa chất đã tạo nên một
số loại khoáng sản có nguồn gốc nội sinh như thiếc, vonfram Hiện nay (1992) mỏ này đang được khai thác Diện tích mỏ lên đến hàng nghìn hecta, nằm ở phía bắc khu bảo tồn
Nhìn chung các lọai đá này rất cứng Thành phần khoáng vật có nhiều thạch anh,
mouscovit khó bị phong hóa và hình thành các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp
hạt thô, dễ bị xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có độ dốc cao hơn 35 o Đất bị xói
mòn rất mạnh để trơ lại tầng đá gốc cứng rắn Nếu vì một lí do nào đó làm lớp phủ
rừng bị phá hoại trên lập địa này, thì dù có đầu tư cao cũng khó phục hồi lại lớp phủ
rừng như xưa.
(Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo).
Khu vực Tam Đảo 2 cấu tạo chủ yếu từ đá riolit có nhiều mạch thạch anh, bị ép
“Vùng Tam Đảo 2” là phần đất bằng phẳng được phát hiện muộn hơn
(Tam Đảo 2) bao gồm cả phần đất ngập nước, thường xuyên hoặc tùng
thời kì (Ao Dứa) và vùng rừng cao hơn cho đến sát địa giới Vĩnh Phúc –
Thái Nguyên, kéo dài về phía đông đến quèn núi đi sang xã Ký Phú
(huyện Đại Từ, Thái Nguyên) Vùng này được người dân gọi là Rừng ma
Trang 7mỏng Tầng mùn và thảm mục khá dày
và chỉ xuất hiện nơi có đọ dốc nhỏ Nơi độ dốc lớn tầng đất bị xói mòn trơ lại đá gốc.
Phân bố từ độ cao 700- 1600m Chiếm hầu hết các đỉnh của dãy Tam Đảo.
2 Đất feralit có
mùn vàng đỏ
trên núi thấp
9292 ha 17,8% Phát triển trên đá kết tinh chua Tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, Tầng
mùn mỏng hoặc không còn vì bị xói mòn
Tầng đá lộ đầu trên 75%.
Phân bố xung quanh sườn Tam Đảo ở độ cao 400-700m.
3 Đất feralit đỏ
vàng phát triển
trên vùng đồi
24641 ha 47,0%
Đất feralit điển hình vùng đồi, phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau Do lớp thực bì bị mất nhưng độ dốc thấp nên tầng đất có dày hơn hai loại đất trên Đất
ít đá nổi đá lẫn Thành phần cơ giới trung bình đến nặng
Phân bố trên các đồi cao và trung bình, cao 100- 400m xung quanh dãy núi Tam Đảo.
4 Đất phù sa
và bồi tụ sông
suối
9794 ha 18,1% Đất phù sa và dốc tụ do sông suối và sườn tích, mầu nâu đen, tầng dày Thành
phần cơ giới trung bình, mầu mỡ, độ ẩm cao Đã được sử dụng để trồng lúa và hoa màu.
Phân bố trong các thung lũng hẹp giữa núi và ven các sông suối lớn.
( (Đặc trưng các loại đất VQG Tam Đảo)
(Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo).
C – Khí Hậu:
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sự phân hóa
theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậu toàn vùng không phải là vấn đề đơn giản Nhưng dựa trên các số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Đại Từ) các nhà nghiên cứu có thể để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:
7
Trang 8(Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng)
- Nhiệt độ không khí: Bình quân nhiều năm khoảng 18,3oC, nhiệt độ không khí trung bình cao nhất nhiều năm là 21,4oC nhiệt độ không khí trung bình thấp nhất nhiều năm
là 16,4oC Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 33,4oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 0oC Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khá lớn, khoảng 10-15oC
- Lượng mưa năm: Trung bình nhiều năm là 2355mm, cao hơn nhiều so với lượng
mưa bình quân cả nước (1960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1500-1800mm/năm).Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 318,6mm Bình quân hàng năm có khoảng 203 ngày mưa, tập trung chủ yếu trong tháng 6 Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài hơn so với các nơi khác của tình Vĩnh Phúc (5 tháng) Mỗi năm xuất hiện bình quân 60 ngày có dông Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá
- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối bình quân nhiều năm là 87,7%; độ ẩm tương đối trung bình
thấp nhất bình quân nhiều năm là 76,2%; độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối là 6%
Độ ẩm tuyệt đối trung bình là 19,1%
- Sương mù: Hàng năm bình quân có 118 ngày có hiện tượng sương mù.
- Số giờ nắng: Một năm bình quân có 1212 giờ.
- Tổng lượng bốc hơi: Bình quân nhiều năm là 512mm, là khá thấp so với bình quân
bốc hơi toàn quốc
- Tốc độ gió: Bình quân là 3,0m/s; tốc độ gió cực đại đến 30m/s Nhìn chung các đặc
trưng khí hậu Tam Đảo 2 tương tự khu Tam Đảo 1 Sự khác nhau chút ít về nền nhiệt
độ và độ ẩm là do mức cao địa hình gây nên
(Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2).
Tam Đảo 1 là vùng được phát hiện
đầu tiên và người Pháp đã xây dựng ngay vào đầu thế kỉ trước thành Khu nghỉ mát, sau này được gọi là Thị trấn Tam Đảo.
Trang 9(Thị Trấn Tam Đảo quanh năm bao phủ bởi mây)
D – Thủy Văn:
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính, đó là sông Phó Đáy ở phía tây (Tuyên
Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía đông (Thái Nguyên) Đường phân thủy rõ rệt nhất của hai hệ thống sông này là đường dông nối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực nam đến Đèo Khế ở điểm cực bắc
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống hai hệ thống sông này có
dạng chân rết khá dày đặc và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân
núi Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khá
bằng phẳng, tương ứng với dạng địa hình đã tạo ra nó
Mật độ sông suối khá dày (trên 2km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều
ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém, chúng là kết quả của quá trình xâm
thực
Do đặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa dài, lượng bốc hơi ít (ở đỉnh Tam Đảo)
nên cán cân nước dư thừa Đó là nguyên nhân làm cho các dòng chảy từ đỉnh Tam Đảo
xuống có nước quanh năm
Nhưng chế độ thủy văn lại chia thành hai mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn
Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ thường tập trung nhanh và rút cũng
nhanh Sự phân phối dòng chảy rất không đều giữa hai mùa (xem bảng)
(Sự phân phối dòng chảy theo mùa của hai hệ thống sông)
Như vậy lưu vực sông Phó Đáy lớn hơn sông Công và tổng lượng nước chảy cũng lớn hơn sông Công Độ chênh lệch lượng nước chảy mùa lũ và mùa cạn cũng rất lớn Mô đun dòng chảy các mùa cũng thay đổi rất đáng kể
(Mô đun dòng chảy hai hệ thống sông Phó Đáy và sông Công)
- Lưu lượng dòng chảy lớn nhất tuyệt đối là 331m3/s, so với lưu lượng nhỏ nhất tuyệt đối 3,7m3/s thì lớn gấp 90 lần
- Độ đục lớn nhất 541g/m3, gấp 100 lần độ đục nhỏ nhất
- Lượng bùn cát lơ lửng 3,2kg/s với tổng lượng bùn cát là 101.000T/năm
- Môđun xâm thực trên sông Phó Đáy tới 84,8T/km2
9
Modun dòng chảy: Lưu lượng
nước sinh ra trung bình trên một đơn vị diện tích lưu vực trong đơn
vị thời gian 1 giây (s) Đơn vị tính
là l/s.km 2 (đối với lượng dòng chảy năm hay lượng dòng chảy mùa) hay m 3 /s.km 2 (đối với dòng chảy lũ) Ở Việt Nam, MDC năm lớn nhất đạt tới 70 - 80 l/s.km 2 (lưu vực sông Tả Trạch), nhỏ nhất chỉ đạt 5
Trang 10Dòng chảy mùa cạn do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông hoàn toàn là
do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất và lượng mưa phùn mùa đông) Cả hai sông đều có dòng chảy rất nhỏ Như vậy khả năng cung cấp
nước cho mùa đông là rất hạn chế
Các dòng sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy, chỉ có thể dùng làm nguồn thủy điện nhỏ cho từng gia đình dưới chân núi
Trong vùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như Hồ Núi Cốc, Hồ Đại Lải, các hồ cỡ trung bình hoặc nhỏ như Hồ Xạ Hương, Khôi kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai, Hồ Sơn,…Đó là nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong vùng
(Nguồn: FIPI, 1992, 1995: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo+Luận chứng khả thi xây dựng VQG Tam Đảo).
IV – ĐA DẠNG SINH HỌC:
Đa dạng sinh học là giá trị to lớn đã đưa Tam Đảo thành một trong các địa danh nổi
tiếng được cả thế giới biết đến trong nghiên cứu sinh học…
Khu hệ động thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo rất giàu loài và có sức cuốn hút mạnh
mẽ đối với các nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế Rất nhiều nghiên cứu về động thực vật Tam Đảo đã được tiến hành từ đầu thế kỷ 20, cho đến nay vẫn được lại đi lặp lại liên tục, nhiều loài mới vẫn còn được phát hiện
A – Động Vật Xương Sống:
A.1: Lưỡng cư:
Lưỡng cư là nhóm động vật đặc sắc đối với Vườn quốc gia Tam Đảo Loài động vật đặc hữu hẹp, chỉ của Tam Đảo là loài Sa dông (Cá cóc Tam Đảo) đã được phát hiện
từ năm 1934, là biểu trưng được thể hiện trên logo của Vườn Quốc gia Tam Đảo
Trong phạm vi dãy núi Tam Đảo Cá cóc sống chủ yếu trong các suối nhỏ trong vùng rừng tự nhiên ở sườn tây, suốt từ Xã
Kháng Nhật (Sơn Dương, Tuyên Quang)
cũng gặp loài này Phần lớn các loài khác gặp được chủ yếu ở vùng thấp dưới 900m Số lượng loài Lưỡng cư được ghi nhận tại Vườn Quốc gia Tam Đảo ngày càng tăng Khi lập Dự
án khả thi xây dựng VQG Tam Đảo (1992-1995) mới chỉ biết đến 19 loài thuộc 7 họ, 2 bộ;
1993 Nguyễn Văn Sáng đã phát hiện tới 27 loài, và hiện nay đã lên tới 57 loài thuộc 8 họ, 3
bộ (Lê Vũ Khôi 2006) Điều này có thể hứa hẹn rằng vẫn còn khả năng phát hiện thêm các loài mới thuộc nhóm động vật này, nhất là ở các sinh cảnh trên độ cao như vùng Ao Dứa (Tam Đảo 2), vùng này thực ra vẫn còn rất ít được quan tâm
Vùng Tam Đảo 2, theo các số liệu của Lê Vũ Khôi (2006) thì; Tam Đảo 2 có các đại diện thuộc cả 3 bộ Ếch nhái: không chân, có đuôi và không /đuôi Có 7/8 họ có mặt ở Tam Đảo
Tỷ lệ số loài của một số họ có ở Tam Đảo 2 so với số loài trong toàn vùng như sau:
Cá cóc Tam Đảo
Trang 11- Họ Cá cóc (Salamandridae) 1/1 loài, họ Ếch giun (Ichthyophidae) 1/1 loài, họ Ếch nhái (Ranidae) có 12/20 loài, họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 7/15, họ Cóc bùn
(Megophryidae) có 7/10 loài, họ Nhái bén (Hylidae) có 3/3 loài và họ Cóc (Bufonidae) có 1 /
2 loài (tổng cộng của 5 họ trên là 30/50 loài = 60% số loài của các 5 họ trên)
- Hai loài đặc hữu hẹp cho Tam Đảo là Cá cóc bụng hoa (Cá cóc Tam Đảo,
Paramesotriton deloustali) và Ếch giun (Ichthyophis bananicus) đều có ở Tam Đảo 2 Ngoài
ra còn có 6 loài đặc hữu rộng cho Việt Nam Như vậy tổng số các loài đặc hữu là 8
(Nguồn: Lê Vũ Khôi 2006: Khu hệ Lưỡng cư, đánh giá những giá trị bảo tồn tại Khu vực Tam Đảo 2 )
Loài đại diện tiêu biểu:
ẾCH GIUN
Ichthyophis bannanicus Yang,1984
Ichtyophis glutinosus (Linnaeus,1754) Coecilia glutinosa Linnaeus, 1754
Họ: loài ếch giun Coecilidae
Bộ: Không chân Gymnophiona
Mô tả:
Loài ếch giun có cơ thể hình giun song cỡ lớn hơn Chúng khác giun ở chỗ: Đầu có mắt như hai chấm đen Đầu nhỏ hơi dẹp, mõm tương đôí nhọn và có hàm rõ Lưng ếch giun có màu đỏ xám, bụng nhạt hơn Phần giữa lưng và bụng có một dải màu trắng đục hay vàng chạy dài từ góc hàm tới góc đuôi Chiều dài cơ thể ếch giun
có thể tới 100mm
Sinh học:
o Loài ếch giun ăn giun đất Chúng đẻ trứng ở gần chỗ có nước Số lượng trứng trong một lứa có chừng 20 quả được nối với nhau bằng chất nhày và cá thể cái cuốn lấy để bảo vệ trứng khỏi khô mà người ta thường gọi không đúng là hiện tượng “ấp trứng”
Nơi sống và sinh thái:
o Loài ếch giun thường sống ở những nơi có độ cao có thể lên tới 900 - 1000 như
ở dãy Tam Đảo Chúng sống chui luồn trong đất, hang chúng ở thường gặp ở những nơi đất xốp sâu khoảng từ 20 - 30cm gần ao hồ
11
H ọ Ế c h G i u n
Trang 12Phân bố:
o Việt nam: Thái nguyên (chân núi Tam Đảo), Vĩnh phú (Tam Đảo, độ cao 900m), Kontum (Tân Cảnh), Gia Lai (SơKlang), Đắc Lắc (Yookdon), Tây Ninh (Tây Ninh), Kiên Giang (Hà Tiên), Cà Mau (rừng tràm U Minh)
o Thế giới: Ấn Độ: Xirillanca, Thái Lan, Lào, Malaixia, Inđônêxia
Giá trị:
o Ếch giun có giá trị thẩm mỹ và khoa học
Tình trạng:
o Số lượng ít.Mức độ đe doạ: bậc V.
Đề nghị biện pháp bảo vệ: Cấm săn bắt.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 227
( Theo http://www.vncreatures.net/chitiet.php?page=1&loai=1&ID=5094 )
Loài đại diện chính cho Tam Đảo:
CÁ CÓC TAM ĐẢO
Paramesotriton deloustali (Bourret,19340)
Mesotriton deloustali (Bourret, 1934 )
Họ: Cá cóc
Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata Lớp: Lưỡng cư
Mô tả:
Cá cóc Tam Đảo có cơ thể dài giống như thằn lằn, chúng có đuôi đẹp và da thiếu vảy Trên da cá cóc Tam Đảo có nhiều mụi xù xì và tiết chất nhầy, những mụn cóc này thường làm thành dãy dọc sống lưng kéo dài tới đuôi lưng cá cóc Tam Đảo
có màu đen Bụng màu đỏ có những đường xám đen nối với nhau tạo thành hình mạng vân đỏ Chiều dài cá cóc Tam Đảo khoảng 144 - 206, 5mm
Sinh học:
o Cá cóc Tam Đảo ăn sâu bọ, nhện giun, nòng nọc, ếch nhái con và rong rêu chúng giao phối vào tháng 3 - 4 bằng cách cuốn đuôi và ép lỗ sinh dục vào nhau
Trang 13Nơi sống và sinh thái:
o Cá cóc Tam Đảo sống ở các suối chảy chậm và hồ nước ở vùng núi vườn quốc gia Tam Đảo chúng ưa sống ở những vực nước sâu và trong Chúng hoạt động
và kiếm ăn ban ngày
Phân bố:
o Việt Nam: Bắc Thái (chân núi Tam Đảo), Vĩnh Phú (Tam Đảo, độ cao 900m)
o Thế giới: Chưa có số liệu
Đề nghị biện pháp bảo vệ: Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 226.
(Theo http://www.vncreatures.net/chitiet.php?ID=5093&loai=1&page=1 )
Hiện trạng: Cá Cóc hiện này trong tự nhiên rất hiểm, có nguy cơ bị tuyệt
chủng Nhưng các nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã thành công thử nghiệm nuôi và cho đẻ tại một trường nuôi giống cá cóc Tam Đảo và các nhà khoa học hiện đang tiến hành đưa cá cóc con nuôi thử nghiệm trong môi trường bán tự nhiên tại các suối, hồ vùng núi Tam Đảo, giúp chúng thích nghi dần với điều kiện môi trường sống tự nhiên…Với thành công này, cá cóc có thể ra khỏi Sách Đỏ trong tương lai gần…
A.2: Bò sát:
Nhóm động vật này rất được quan tâm trong công tác bảo tồn vì Rùa là một trong số
các động vật là nạn nhân của nạn buôn bản động vật hoang dã qua biên giới Tính đa dạng các loài bò sát VQG Tam Đảo đứng vào loại thứ hai trong các động vật có xương sống của Vườn, hiện nay đã phát hiện còn tồn tại tới 124 loài thuộc 16 họ, 2 bộ Con số này cũng cao hơn so với khi mới thành lập Vườn (1995), khi ấy chỉ biết được 46 loài thuộc 13 họ, 2 bộ Sự tăng số lượng này chắc chắn là do mức độ nghiên cứu sâu hơn và sự duy trì của các sinh cảnh sống đặc trưng của chúng trong VQG Trong số các loài thống kê được có đến 3 loài đặc hữu, 23 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và 12 loài được ghi trong Danh lục
đỏ IUCN
Khu vực Tam Đảo 2, chỉ chiếm khoảng chưa đến 1% (0,813%) tổng diện tích củatoàn bộ VQG Tam Đảo, 1,7346% diên tích vùng bảo vệ nghêm ngặt (320/17295=1,7346%) nhưng ở đây chứa đựng được số loài Bò sát chiếm tới 83/124 (66,93%) tổng số loài Bò sát ở VQG, 11/16 họ (68,75%) Số loài quý hiếm và có giá trị bảo tồn cũng rất cao: 3/3 loài đặc hữu VN, 8/24 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam; 6/12 loài ghi trong Danh lục đỏ IUCN
(Nguồn: Lê Vũ Khôi 2006: Khu hệ Bò sát, đánh giá những giá trị bảo tồn tại Khu vực Tam Đảo 2)
Loài đại diện tiêu biểu:
RÙA SA NHÂN
Pyxidea mouhoti (Gray, 1862)
Cyclemys mouhoti Gray, 1862
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata
13
Trang 14
Mô tả
o Loài rùa cỡ trung bình này có mai dài 18cm, lưng phẳng có 3 gờ nổi rõ (nhưng không có vệt xám đen).1 gờ ở giữa lưng 2 gờ chạy dọc từ tấm vẩy 1 đến 4 trên mai Mai màu vàng hoặc nâu sáng; bờ sau mai có riềm răng cưa Con đực đuôi dài và dầy hơn con cái
Sinh học:
o Tuy chưa có số liệu về sinh sản của loài này nhưng thức ăn chính của chúng được biết đến là thực vật (cỏ) thích ăn nhất là giun đất
Nơi sống và sinh thái:
o Loài này sống trong rừng, thường ẩn mình dưới các lớp lá mục, cỏ khô, gỗ mục
Phân bố:
o Việt Nam: Lào Cai (Bảo Hà), Bắc Thái (Thái Nguyên), Vĩnh Phú (Tam Đảo),
Hà Tây (Ba Vì) Hoà Bình, Hà Bắc,Ninh Bình, Thanh Hoá (Quan Hoá), Nghệ
An (Tân Kỳ)Thế giới: Đông ấn Độ, Trung Quốc, Lào
Tài liệu dẫn: Nhận dạng động vật hoang dã bị buôn bán - trang 35 Danh lục bò
sát và ếch nhái Việt Nam trang 169
(Theo: http://www.vncreatures.net/chitiet.php?page=1&loai=1&ID=5076 )
A.3: Chim:
Chim là nhóm đa dạng nhất trong các động
vật có xương sống ở VQG hiện nay đã phát hiện
được 186 loài thuộc 45 họ, 17 bộ (Lê Vũ Khôi,
2006) Các họ nhiều loài nhất là họ Khướu
(Tamaliidae), họ Chích chòe (Turdidae), họ Chim
chích (Sylviidae), họ Chào mào (Pycnonoidae)
Nhưng đáng chú ý nhất là họ Gà lôi
(Phasianidae), họ này có đến 5 lòai được ghi nhận
tại Tam Đảo, trong đó có những loài quý và đẹp như Gà lôi trắng (Lophura nychthemera), Gà
tiền (Polyplecton bicalcaratum) Sự hiểu biết về tính đa dạng các loài chim Tam Đảo cũng tăng dần theo các hoạt động nghiên cứu bảo tồn tại VQG Căn cứ vào Dự án khả thi xây dựng VQG, lúc đó mới chỉ ghi nhận được 158 loài thuộc 43 họ, 15 bộ với 7 loài có giá trị bảo tồn, thì hiện nay đã lên tới 186 loài, 45 họ, 17 bộ và 8 loài có giá trị bảo tồn ở các cấp trạng thái khác nhau Ở vùng Dự án Tam Đảo 2 đã ghi nhận được 135 loài, 38 giống, 13 bộ đạt 72,58% số loài, 84,44% số họ và 76,47% số bộ so với toàn bộ VQG Tam Đảo Số loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam cũng rất cao (7/8=87.5%) so với toàn VQG Các loài có giá trị bảo tồn được ghi nhận là:
Gà tiền (Polyplecton bicalcaratum)
Trang 15Gà lôi trắng (Trĩ bạc, Lophura nychthemera, E), Gà tiền (Polyplecton bicalcaratum, E), Dù dì phương đông (Ketupa zeulanensis, T), Cú hoang cổ (Otus bakkimoena, V), Niệc hung (Pyilolaemus tickelli, T), Ác là (Pica pica, V), Chim khách (Kitta formosae, R).
(Nguồn: Lê Vũ Khôi, 2006: Tính đặc hữu địa-động vật, đánh giá những giá trị bảo tồn tại Khu vực Tam Đảo 2)