Cũng như tìm hiểu những giá trị của những loài cây quý bản địa phục vụ công tác nghiên cứu bảo tồn, ứng dụng và phát triển nguồn gen quý, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đoàn Văn Đ
Trang 11.2 Đặc điểm sinh thái học và giá trị của đối tượng nghiên cứu 4
1.2.3 Vấn đề bảo tồn loài Trà hoa vàng trong nước và trên thế giới 7
1.4 Thực trạng khai thác, sử dụng trà hoa vàng ở Việt Nam và trên thế giới 15 1.4.1 Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng ở Việt Nam 15 1.4.2 Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng trên Thế giới 15
Chương II Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 17
2.4.4 Tìm hiểu công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học nói chung ở
Trang 22.4.5 Thử nghiệm nhân giống Trà hoa vàng Hakoda bằng Hom 22
3.2 Xác định phạm vi phân bố của loài trà hoa vàng Hakoda (Camelia
3.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của loài trà hoa vàng
hakoda (Camelia Hakodae ninh) tại vườn quốc gia tam đảo 35
3.3.2 Tình hình tái sinh của loài Trà hoa vàng Hakoda 38
3.3.3 Đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên có loài Trà hoa vàng Hakoda phân bố 40
3.4 Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên (các yếu tố tích cực và tiêu cực chi
3.4.3 Xác định tính chịu bóng hay ưa sáng của loài Trà hoa vàng Hakoda 51
3.5 Đánh giá tác động của người dân địa phương đến tình hình bảo tồn loài trà
3.6 Công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học nói chung ở VQG Tam Đảo 55
3.7 Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài trà hoa vàng Hakoda (Camelia
Trang 4DANH MỤC BẢNG
3.3 Kết quả đo đếm D00, Hvn, Dt, Hdc bình quân 36
3.4 Kết quả đánh giá sinh trưởng loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia
3.5 Kết quả điều tra tái sinh loài Trà hoa vàng Hakoda 39
3.10 Độ tàn che, che phủ của thảm tươi cây bụi và thảm khô 51
3.11 Mức độ khai thác hoa, lá Trà hoa vàng phục vụ sinh hoạt và đem
3.12 Ảnh hưởng của các loại thuốc kích thích ở các nồng độ khác nhau
3.13 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc đến chất lượng rễ của hom Trà hoa
Trang 5DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
3.3 Trạng thái rừng có Trà hoa vàng Hakoda phân bố 35
3.2 So sánh các cấp sinh trưởng chiều cao Trà hoa vàng Hakoda 40 3.3 Biểu đồ Gausen – Walter tại khu vực nghiên cứu 45 3.4 Mức độ khai thác hoa,lá Trà hoa vàng phục vục sinh hoạt và đem
3.5 Mức độ khai thác hoa, lá Trà hoa vàng phục vụ cho sinh hoạt và đem
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá hiện trạng phân bố của các loài cây rừng, đặc biệt là các loài cây bản địa để làm cơ sở khoa học cho việc quản lý rừng bền vững, phát triển và kinh doanh rừng Không chỉ các loài cây lấy gỗ mà còn tập trung nghiên cứu sử dụng và ứng dụng các giá trị lâm sản ngoài gỗ, đảm bảo việc phát triển kinh doanh rừng bền vững, toàn diện Giúp người dân bản địa hiểu rõ hơn, hạn chế những thiếu sót
về kiến thức, hiểu biết làm mất đi những giá trị thực của các loài cây, tránh được những hoạt động khai thác sai mục đích gây ra những hậu quả đáng tiếc
Trà hoa vàng, với những kiểm nghiệm dược lý đầu tiên tiến hành trên đối tượng là động vật đã cho kết quả hết sức khả quan Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi y học cho rằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư Ngoài ra, nó giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu mà nếu dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2% Hơn thế, Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36,1% lượng lipoprotein trong máu, cao hơn 10% so với các liệu pháp chữa trị sử dụng tây dược hiện nay Đối với những biểu hiện xơ cứng động mạch do lượng mỡ trong máu cao thì sử dụng các chế phẩm từ Trà hoa vàng là một cách chữa trị rất có hiệu quả Sau khoảng 20 ngày những biểu hiện bệnh lý sẽ giảm hẳn Trà hoa vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả
năng làm giảm và điều hoà huyết áp của nó Pha 1-2 ml tinh chất từ Camellia chrysantha trong 100 ml nước, uống như chè hàng ngày có thể chữa được rất nhiều bệnh
Báo cáo tổng kết trên đối tượng là người tình nguyện cho thấy thức uống này có thể chữa được chứng táo bón nếu sử dụng trong vòng 1 tuần; uống liên tục trong khoảng 3 tháng có thể giúp hạ đường huyết, giảm lượng đường trong máu đối với bệnh nhân bị tiểu đường Nó có thể thay phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư như ung thư tuyến bạch huyết ngay cả ở giai đoạn cuối đem lại kết quả hết sức khả quan Bên cạnh đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết
Trang 7quả Sở dĩ Trà hoa vàng có nhiều công dụng như vậy là vì trong thành phần của
nó có chứa các nguyên tố như Se, Ge, Mo, Mn, V, Zn và một số nguyên tố khác
có tác dụng trong việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa ung thư, củng cố tính đàn hồi của thành mạch, điều hoà các enzyme hoạt hoá cholesterol…
Để góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết đúng cho người dân bản địa Cũng như tìm hiểu những giá trị của những loài cây quý bản địa phục vụ công tác nghiên cứu bảo tồn, ứng dụng và phát triển nguồn gen quý, được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đoàn Văn Điếm, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài Trà Hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh)”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và khả
năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh)
Từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài Trà hoa vàng
3 Yêu cầu của đề tài
Từ các nội dung nghiên cứu cần phân tích được sự ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Trà hoa vàng Hakoda ở khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững loài Trà hoa vàng Hakoda này
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong công trình nghiên cứu “To demonstrate the medical treatment and health protection value of GOLDEN CAMELLIA”, giáo sư Chen Jihui và Wu Shurong đã đưa ra các kết luận, bằng chứng chứng minh cho tác dụng chữa bệnh của Trà hoa vàng dựa trên các thí nghiệm lâm sàng được tiến hành trong một thời gian dài Công trình của các ông đã được báo cáo ở Hội nghị UNESCO thế giới
về hoá sinh học vô cơ ứng dụng, đồng thời được in trong tập ISHBC và xuất bản trên khắp thế giới Năm 1994 điều này đã được hơn 120 nhà khoa học và các học giả trên toàn thế giới khẳng định một lần nữa tại Hội nghị toàn cầu về Chrysantha
ở Nam Ninh, Trung Quốc (Ninh, T & Hakoda, 1998)
Nhưng giá trị lớn nhất và dễ nhận thấy nhất của các loài thuộc chi
Camellia là làm cây cảnh Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài
thuộc chi Camellia có hoa rất đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng, đỏ,
hồng…và nhiều màu sắc lạ mắt, độc đáo được tạo ra do lai tạo đã thu hút sự quan tâm của những nhà chơi cây cảnh Trong số đó, các loài Trà hoa vàng rất hiếm chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc ( Ngô Quang Đê, 1996)
Cho đến nay, giới khoa học chuyên về Trà của thế giới chỉ phát hiện Trà
hoa vàng (tên khoa học là Camellia) ở Việt Nam và một số khu vực hẹp thuộc
vùng Nam Trung Quốc Trong khi Trung Quốc ngoài việc sử dụng, khai thác các loài Trà trong nghệ thuật cây cảnh, thức uống hàng ngày và đã xuất khẩu sản phẩm dược liệu và thực phẩm chức năng làm từ Trà hoa vàng thì loài cây đặc biệt quý này vẫn chưa được quan tâm đúng mức tại Việt Nam (Chu Tương Hồng, 1993)
Việt Nam nói chung và VQG Tam Đảo nói riêng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi cho sự triển của các loài thực vật Tam Đảo đã trải qua một quá trình phát triển tạo nên sự đa dạng sinh học và tồn tại qua hàng nghìn năm Song chỉ trong khoảng thời gian vài trăm năm con người đã làm cho thiên nhiên vùng Tam Đảo biến đổi nhiều, đa dạng sinh học bị thất thoát và suy giảm (Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dung, 1992)
Trang 9Rất đáng mừng trong nhiều thập kỷ gần đây các vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu sinh học chú ý Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học tại Tam Đảo được công bố Các kết quả liên quan đến nhiều đối tượng thuộc các ngành sinh học khác nhau
và được công bố trong nhiều công trình khác nhau Theo ước tính của nhiều nhà thực vật khu hệ thực vật VQG Tam Đảo gồm khoảng 1200 loài thực vật bậc cao thuộc 478 chi của 176 họ Tuy nhiên các công trình nghiên cứu thực vật ở VQG Tam Đảo chỉ dùng ở mức thống kê các loài, phân bố của một số loài có giá trị chứ chưa có một công trình nào đề cập chi tiết của một đơn vị phân loại cụ thể nào Từ năm 1997 đến nay có đề tài đã tiến hành nghiên cứu các loài Trà hoang dại của Việt Nam nói chung và Vườn quốc gia Tam Đảo nói riêng, phát hiện nhiều loài Trà mới cho khoa học chỉ gặp ở VQG Tam Đảo Hơn thế nữa trong số các loài Trà mới gặp ở Tam Đảo lại có nhiều loài Trà hoa vàng, một nguồn gen
vô cùng quý hiếm chỉ gặp ở các tỉnh Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam Tuy nhiên hầu hết chưa được nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và khả năng tái sinh của chúng Vì thế việc khai thác, kinh doanh lợi dụng rừng còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các loài cây đặc hữu, quý hiếm và sự phong phú về đa dạng sinh học trong khu
hệ thực vật Tam đảo, điển hình trong đó là loài Trà hoa vàng Hakoda(Camellia hakodae Ninh) (Trần Ninh, 2000)
Ngày nay khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về giải trí, thẩm mỹ, thưởng thức về cái đẹp cũng được con người và xã hội chú trọng hơn và ngày càng trở nên cần thiết vì nó làm cho cuộc sống của con người trở nên tươi đẹp hơn và thỏa mãn nhu cầu thư giãn
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC VÀ GIÁ TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Đặc điểm sinh thái học
Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) là Cây gỗ nhỏ, cao 3-4 m
Cành non màu nâu nhạt, nhẵn Lá có cuống dài 8-15 mm, nhẵn, phiến lá hình bầu dục, bầu dục rộng hoặc thuôn, dài 23,5-29 cm, rộng 9-11,5 cm, xanh đậm và láng
ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới với nhiều điểm tuyến màu đen, cả hai mặt đều không lông, lá dạng da, dày, gốc lá hình nêm hoặc tròn, chóp lá có mũi nhọn,
Trang 10mép lá có răng cưa nhỏ cách đều nhau, hệ gân lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới, gân bên 12-16 cặp Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 6-8 cm Cuống hoa dài 1-1,2 cm mang 5-6 lá bắc hình móng hoặc hình vẩy, cao 1-4 mm, rộng 2-7 mm, mép và mặt trong lá bắc có lông Lá đài 5, hình vẩy đến gần tròn, cao 4-6 mm, rộng 7-12 mm, mép và mặt trong có lông Cánh hoa gồm 16-17 cánh, gần tròn đến bầu dục, dài 2-5,3 cm, rộng 2,3-3,5
cm, có lông ở mặt trong và thưa dần ở các cánh bên trong Bộ nhị nhiều, cao 4,5 cm, các chỉ nhị vòng ngoài, dính nhau 1,4 – 2,1 cm, chỉ nhị bên trong rời, có lông Bộ nhụy gồm 4 hoặc 5 lá noãn hợp thành bầu 4-5 ô, không lông, vòi nhụy 4 hoặc 5, rời, dài 3,2-3,5 cm, không lông Quả gần dạng cầu, đường kính 5-6 cm, cao 4-4,5 cm, 3-4 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 4,5-6,5 mm Hạt dài 2,2 cm, có lông (Trần Ninh, 2000)
4-Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) thích nghi và sinh trưởng
tốt nhất ở điều kiện khí hậu nhiệt đới mưa mùa (phân bố ở độ cao từ 200 đến 400 m) Nhiệt độ bình quân cả năm là 20,10C Lượng mưa bình quân năm là 2.594
mm Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86,5% Lượng bốc hơi nước bình quân năm là 561,5 mm, trong khi đó lượng mưa bình quân năm rất cao 2.594
mm, do độ che phủ của thảm thực bì và tầng thảm mục rất dày nên lượng nước
dư thừa tồn đọng lại trong đất, lớp thảm thực bì và tầng thảm mục nhiều có tác dụng rất quan trọng trong việc giữ nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, tạo điều kiện thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng, phát triển trong đó có cá thể Trà hoa
vàng đặc hữu của Tam Đảo và của Việt Nam (Camellia hakodae Ninh) Hiện nay
mới chỉ phát hiện loài này ở Vườn quốc gia Tam Đảo và là loài đặc hữu của Việt Nam (Trần Ninh, 2000)
1.2.2 Giá trị của đối tượng nghiên cứu
Trang 11Trà hoa vàng Hakoda là loài thuộc chi Chè, là loài cây có hình thái thân,
lá, hoa đẹp, lâu tàn lại nở đúng dịp xuân về nên người dân đã khai thác về trồng ở nhà làm cây cảnh, là những loài cây rất được ưa chuộng ở Trung Quốc, Việt Nam
và cho đến bây giờ là cả thế giới (Chu Tương Hồng, 1993)
* Giá trị kinh tế
Tài liệu nghiên cứu của nước ngoài đã xác định trong lá, hoa, quả của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như Germannium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn), … đặc biệt là Germannium (Ge)
và Selenium (Se) có hàm lượng tương đối cao Ge có hoạt tính sinh lý cao, có thể xúc tiến khả năng sinh lý, phát huy, tăng cường năng lực hấp thụ O2 của tế bào đảm bảo cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất Germannium hữu cơ làm tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu sinh trưởng và khuếch tán, tăng khả năng miễn dịch, có khả năng phòng chống ung thư Selenium có tác dụng chống oxy hóa, có thể diệt trừ các gốc tự do
có hại trong cơ thể, nâng cao năng lực tự bảo vệ, từ đó mà kéo dài tuổi thọ (Lương Thịnh Nghiệp, 2000)
Tài liệu trên còn cho biết Công ty Hồng Phát (Quảng Tây, Trung Quốc) đã chế biến thành công chè uống từ Trà hoa vàng, tinh trà, dịch uống,… hàng loạt
đồ uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường Đông Nam Á rất được hoan nghênh,
mở ra hướng sử dụng Trà hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và đặc biệt có lợi đối với con người
Theo “Camellia International Journal” – tạp chí chuyên nghiên cứu về Trà
hoa vàng của thế giới, các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư; giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2% Một số công trình nghiên cứu cho thấy Trà hoa vàng giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ, điều hòa huyết áp, hạ đường huyết; chữa kiết
lỵ, đại tiện ra máu (Chu Tương Hồng, 1993)
* Giá trị về mặt sinh thái
Ngoài tác dụng làm cảnh, Trà hoa vàng có thể trồng thử nghiệm làm cây tầng dưới tại các đai rừng phòng hộ đầu nguồn Nó là loài cây chịu bóng ở tầng
Trang 12dưới Nếu thử nghiệm thành công thì sẽ góp phần tích cực vào trồng rừng hỗn loài, nhiều tầng trong các đai rừng phòng hộ đầu nguồn đang có yêu cầu hiện nay Cây này lá nhiều, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt (Chu Tương Hồng, 1993)
1.2.3 Vấn đề bảo tồn loài Trà hoa vàng trong nước và trên thế giới
* Trong nước
PGS - TS Trần Ninh (giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cùng các cộng sự phát hiện một loài trà hoa sắc vàng tươi trong khu rừng của TP Đà Lạt (hiện chưa thể tiết lộ vị trí cụ thể)
Cây hoa trà (Camellia) với sắc hoa màu vàng là loài quý hiếm (hiện mới
chỉ phát hiện được tại Việt Nam và Trung Quốc), có giá trị kinh tế và y dược rất cao Trà hoa vàng có nguy cơ tuyệt chủng nên việc phát hiện thêm những quần thể mới là tín hiệu vui không chỉ với giới nghiên cứu Sau khi chụp ảnh, thu mẫu
để giám định cho thấy loài trà hoa này có những đặc điểm khác biệt với các loài
đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới phát hiện, mô tả và công bố trước đây Loài trà hoa vàng quý hiếm ở xứ sở ngàn hoa này sẽ được đặt tên, công bố trong thời gian tới
Theo TS Ninh, tại thị trấn Mađagui (Đạ Huoai) có người đã sưu tầm được
cây trà hòa vàng thuộc loài Camellia Dormoyana – loài trà hoa vàng đầu tiên được phát hiện trên thế giới vào thập kỷ XX Điều thú vị là Camellia Dormoyana
được người pháp phát hiện ngay tại Việt Nam (tỉnh Đồng Nai) và đã được công
bố trên Thực vật chí Đông Dương (Trần Ninh, 2000)
Đến năm 2003, ông Nguyễn Thiện Tịch (ĐH KHTN ĐHQG TPHCM) cũng đã tìm thấy một loài trà có hoa màu vàng đậm rất đẹp tại Lâm Đồng Mới
đấy giới nghiên cứu cũng đã ghi nhận sự xuất hiện của Camellia Dormoyana tại
Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Tran Ninh, Hakoda Naotoshi Kirino Shuho, 2009).
Ở Việt Nam đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng công tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ - TS Ninh khuyến cáo không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong Sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài trà hoa vàng khác đều trong tình trạng nguy cấp Do đó nơi nào phát hiện được thì bảo tồn Không để xảy ra tình trạng khi những cây Trà hoa vàng quý hiếm
ở Phước Lộc bị người dân chặt phá trong quá trình khai hoang để trồng Ca Cao
Trang 13Bởi số cá thể trong tự nhiên còn rất ít và phạm vi phân bố hẹp nên các nhà khoa học rất quan tâm đến loài cây này, có rất nhiều nhà khoa học đã đến Việt Nam
dự hội thảo, nghiên cứu về trà hoa vàng và có người đã đề nghị hợp tác nghiên cứu bảo tồn
Theo TS Ninh, trước mắt chủ yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu
di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà Lạt, Vườn quốc gia Tam Đảo… về lâu dài, cần tập trung nhân giống (giâm cành…) để trồng với quy mô lớn. (Tran Ninh, Hakoda Naotoshi Kirino Shuho, 2009)
Tại hội thảo khoa học về bảo tồn và phát triển bền vững cây Trà hoa vàng tại vùng núi Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đồng chí Dương Thị Tuyến, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh giá trị to lớn về mặt dược học của cây Trà hoa vàng; đồng thời khẳng định, việc cần thiết phải xây dựng và triển khai một dự án quy mô lớn nhằm mục đích bảo tồn, phát triển nguồn gen quý Do vậy, trong tháng 4/2014 vừa qua, UBND tỉnh đã giao cho Sở khoa học và Công nghệ phối hợp với công ty cổ phần Đầu tư DIA tổ chức triển khai dự án Bảo tồn và Phát triển cây Trà hoa vàng trên diện tích 4.000 m2, tại 2 xã Tam Quan, Đại Đình (Tam Đảo) Sau 8 tháng triển khai, Dự án đã củng cố cơ sở vật chất, xây dựng vườn ươm đủ tiêu chuẩn và đã ươm được 6 loài Trà hoa vàng với số lượng hơn 2 vạn hom, trong đó,
có 3000 hom gốc, 5000 hom thân và 12000 hom cành Trong năm 2015-2016, những cây giống này sẽ được đưa ra trồng ở khu đồi 8,7 ha thuộc thôn Nhân Lý,
xã Tam Quan, huyện Tam Đảo để xây dựng vườn bảo tồn và vườn trồng giống gốc các loài Trà hoa vàng đầu tiên ở Việt Nam Trong tương lai, dự án sẽ cung cấp giống và hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc cây Trà hoa vàng cho các hộ dân ở Tam Đảo nhằm nhân rộng nguồn gen quý hiếm này, đưa Trà hoa vàng trở thành loài cây làm giàu cho các hộ dân ở đây (Việt Hưng, 2014)
* Trên thế giới
Hiện tại mới chỉ có Trung Quốc đã xây dựng Vườn Camellia Quốc tế;
trồng nhân tạo vùng trà hoa vàng nguyên liệu rộng hàng chục hécta; nghiên cứu thành công các chế phẩm và sản xuất, xuất khẩu hàng loạt dược liệu và thực phẩm chức năng làm từ trà hoa vàng như Superior tea, Golden Camellia (Trần Ninh,2000)
Trang 141.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY TRÀ HOA VÀNG
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu, đã
du nhập tập tính uống Trà của người Tàu về bản quốc Hàng tháng để kịp có Trà, nhiều cuộc đua gọi là Đua Trà, bằng thuyền buồm chở các loại Trà quý từ Trung Hoa sang London rất hào hứng
Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX nhà sưu tập G.Forest của vườn
thực vật Hoàng gia Anh vào Vân Nam đã thu thập hạt các loài Trà Camellia Resculata, Camellia Saluenensis, …về trồng (Chu Tương Hồng, 1993)
Tình hình nghiên cứu ở Châu Á:
Trung Quốc là nước đi đầu trong nghiên cứu ứng dụng cây Trà vào nghệ thuật cây cảnh, làm thuốc và đồ uống
Trong một công trình nghiên cứu về Trà hoa vàng, hai nhà khoa học khác của Trung Quốc là Chen Jihui và Wu Shurong đã đưa ra các kết luận và bằng chứng, chứng minh tác dụng chữa bệnh của Trà hoa vàng dựa trên các kiểm nghiệm lâm sàng được tiến hành trong một thời gian dài Công trình của hai nhà nghiên cứu đã được báo cáo tại hội nghị UNESCO thế giới về hóa sinh học vô cơ ứng dụng Vào năm 1994, hơn 120 học giả chuyên ngành của thế giới đã công nhận công trình này tại hội nghị toàn cầu về Trà được tổ chức tại Nam Ninh, Trung Quốc (Trần Ninh, 2000)
Theo Trương Hồng Đạt cho thấy ở Trung Quốc cây Trà có phân bố tự nhiên ở
16 tỉnh và có nhiều loài có giá trị thẩm mỹ cao Việc nghiên cứu về các loài Trà hoa được bắt đầu ở Trung Quốc từ những năm 40 của thế kỷ XX, kết quả của việc chọn giống và nhân gây tạo giống đã đưa số chủng loại Trà hoa từ 20 loài lên 120 loài
(Trương Hồng Đạt)
Đầu những năm 1950 ở Côn Minh (Trung Quốc) đã đưa việc nghiên cứu ứng dụng Trà hoa thành trọng điểm và đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc, phân loại, lai tạo ra các giống mới để phát triển Trà hoa, thiết lập các nguồn giống, xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyên liệu công nghiệp,
đồ uống và nghệ thuật cây cảnh
Trang 15Trình Kim Thủy và Trương Hồng Đạt đã tiến hành phân loại chi Camellia thành 4 chi phụ: Potocamelli, Camellia, Thea và Metacamellia Sau này nghiên cứu tiếp của Chung Hung Ta đã được giới thiệu trong cuốn “Camellius” xuất bản năm 1981 ở Trung Quốc vẫn thống nhất với cách chia chi Camellia thành 4 chi
phụ và đồng thời chia tiếp 4 chi phụ thành 20 chi nhánh Ngoài ra, trong công trình
nghiên cứu của ông cho thấy sự phân bố của chi Camellia tập trung ở một số tỉnh ở
miền Nam Trung Quốc và kéo xuống miền Bắc Việt Nam (Trình Kim Thủy và cộng sự, 1994)
Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Huimeng (638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Đại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (710-794) Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời Hoàng đế Shômu thế kỷ thứ VIII trà dùng phổ thông hơn Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) biến chế trà xanh (Matcha) thường dùng trong các Chùa và các Hiệp sĩ đạo (Samurai) Đến đời sư phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/ Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel (Trần Ninh, 1998)
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc: cây chè Suối Giàng
Lê Quý Đôn trong sách “ Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: “…Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên…”
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ (Lê Mộng Chân, 1992)
Trang 16Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923),
và Tây Nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết
“…những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương
Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam.” (Lê Xuân Trường, 1997)
Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất Cafein trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đã viết : “…Cây chè
cổ Việt Nam, tổng hợp các Cafein đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam… Từ
đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây ” Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ)” (Lê Xuân Trường, 1997)
Tháng 2 năm 1923, Alfred Petelot thầy thuốc người Pháp đã tiến hành thu thập một số loài thực vật của vùng núi Tam Đảo nay trở thành vườn Quốc gia Tam Đảo Dựa trên mẫu vật mang số hiệu 848 lưu giữ tại phòng tiêu bản thuộc trường đại học California (UC) nhà thực vật người Pháp Elmer Drew Merrill đã công bố loài mới
và đặt tên là Thea petelotii vào năm 1924 (in Univ Publi Bot 10:427) Theo luật danh pháp quốc tế, Robert Sealy một nhà thực vật người Anh đổi thành Camellia petelotii (Merr.) Sealy vào năm 1958 trong tác phẩm “Revesion of the genus
Camellia” Đây là loài Camellia đầu tiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo
Từ năm 1990 đến 1998 nhiều cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu thuộc Viện ĐTQH rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên, Trường đại học Lâm nghiệp Các kết quả nghiên cứu thực vật được thông báo hay đăng tải trên các kỷ yếu của các hội thảo Trong các bảng danh lục có đề cập đến một số loài thuộc chi
Camellia mà các nhà thực vật người Pháp đã thu được ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam (Ngô Quang Đê, 1996)
Nghiên cứu của GS.TS Ngô Quang Đê bằng phương pháp điều tra theo tuyến đã điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài Trà hoa tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Tây (nay là Hà Nội) đã cho
thấy ở Vườn quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần hóa làm
Trang 17cây cảnh Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm, chịu bóng nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt Tuy nhiên GS.TS Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis) và Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard)
Cohen Stuart) tại vườn ở Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về Hiện nay đó cũng là một trong số rất nhiều loài Trà hoa mà GS.TS Ngô Quang Đê đã thuần hóa trồng thành công tại vườn Trà của mình
Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng và Lê Sỹ Doanh với nghiên cứu khảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng tại Ba Vì – Hà Tây và Sơn Động – Bắc Giang
đã đánh giá được điều kiện sống cũng như các đặc điểm hình thái sinh thái đặc
trưng của hai loài Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) và Trà hoa vàng Sơn Động (Camellia euphlebia Merret Sealy var
microphylla) (Ngô Quang Đê, 1996)
Hoàng Minh Chúc và Bùi Văn Khánh đã nghiên cứu hình thái, sinh thái,
sinh trưởng của 2 loài Camellia hoa trắng và Camellia hoa vàng tại Vườn quốc
gia Ba vì – Hà Tây Tuy nhiên 2 tác giả mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổ thành loài cây, xác định quan hệ của loài với môi trường sống thông qua yếu tố khí hậu tại khu vực phân bố của loài nghiên cứu (Hoàng Minh Chúc, 1996)
Năm 1997, nghiên cứu của Lê Xuân Trường về đặc điểm hình thái, sinh
thái, sinh trưởng của loài Camellia hoa vàng tại Sơn Động – Bắc Giang Nghiên
cứu đã chỉ ra được các đặc điểm hình thái, sinh thái của cũng như các điều kiện môi trường tác động trực tiếp tới loài Trà hoa vàng Tuy nhiên đề tài chưa xác định chính xác được tên khoa học của đối tượng nghiên cứu, khả năng ứng dụng thực tiễn cũng như các biện pháp nhân giống bảo tồn, phát triển bền vững (Lê Xuân Trường, 1997)
Năm 2000, nghiên cứu của Đỗ Đình Tiến về đặc điểm hình thái, sinh thái,
và khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii (Merrill) Sealy) Tác giả đã đánh giá được các đặc điểm hình thái, sinh
thái, sinh trưởng của loài Trà hoa vàng Camellia petelotii cũng như các điều kiện
môi trường tác động tới sự sinh trưởng phát triển của loài, và thử nghiệm nhân giống vô tính thành công phục vụ trong công tác bảo tồn, phát triển trồng rừng và làm cảnh (Đỗ Đình Tiến, 2000)
Trang 18Tháng 1 năm 1998 trong đợt khảo sát sự đa dạng sinh học chi Camellia ở
VQG Tam Đảo, PGS.TS Trần Ninh cùng GS Taoshi Hakoda trường ĐHNN
Tokyo Nhật Bản đã công bố 3 loài mới trong đó có 2 loài Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda và Camellia rubiflora Ninh et Hakoda thu thập ở VQG Tam
Đảo Các loài mới này được công bố trong tạp chí trà quốc tế (International Camellia Journal) (Trần Ninh, 2000)
Năm 2002 PGS.TS Trần Ninh đã công bố trên tạp chí trà quốc tế 50 loài Trà ghi nhận có ở Việt Nam Trong số 50 loài có 12 loài Trà gặp ở VQG Tam Đảo Trong nhiều năm tiếp theo PGS.TS Trần Ninh đã tiến hành nhiều đợt khảo sát ở các địa điểm khác nhau của Vườn
Năm 2007 trong tạp chí khoa học của trường Đại học Quốc gia Hà Nội,
PGS.TS Trần Ninh đã công bố 2 loài Trà mới cho khoa học: Camellia hakodae Ninh và Camellia tamdaoensis Ninh et Hakodae
Năm 2008 PGS.TS Trần Ninh và đồng nghiệp đã thu thập được ở Tam Đảo
3 loài Trà trong đó có 2 loài Camellia hirsute Hakodaet Ninh; Camellia phanii Hakodaet Ninh lần đầu tiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo cùng với 1 loài Trà mới cho khoa học Tính đến nay 17 loài Trà được ghi nhận có ở VQG Tam Đảo
(Tran Ninh, Hakoda Naotoshi Kirino Shuho, 2009)
Nghiên cứu và tìm hiểu về Trà hoa vàng và chi Camellia ở Việt Nam còn
chưa được toàn diện và đồng bộ, chưa có một hệ thống phân loại đầy đủ và chi tiết đặc biệt với việc tìm hiểu về các đặc điểm, đặc tính sinh vật học của loài thì mới chỉ tiến hành được ở một số loài ở trên một số địa điểm nhất định Các nghiên cứu còn chưa sâu và đồng bộ, chưa đề cập đến biện pháp chọn giống, nhân giống để bảo vệ, bảo tồn ngồn gen của các loài có giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ cao Do đó việc nghiên cứu bổ sung về các đặc điểm sinh thái, phân loại, chọn giống và nhân giống để từng bước góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng
ngày càng tăng về các giá trị của Trà hoa vàng cũng như chi Camellia, bên cạnh
đó xác định biện pháp cụ thể trong việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý và phát triển bền vững Đặc biệt là đối với loài Trà hoa vàng đặc hữu quý hiếm của
Tam Đảo (Camellia hakodae Ninh) (Trần Thị Phương Anh, 1995)
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng thường mọc ở độ cao 300 - 800m so với mặt biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen
Trang 19giữa các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven khe suối cạn (Sơn Tùng, 2008)
Mặc dù đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ Không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp Trước mắt, chủ yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà Lạt, vườn Quốc gia Tam Đảo… Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý bền vững nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn
Trà hoa vàng là cây thân gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m, cành thưa, vỏ cây màu vàng xám nhạt Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn Hàng năm
cứ đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng Tháng 11 bắt đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau Hoa mọc ở nách lá mới mọc riêng
lẻ Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con người cảm giác nửa trong suốt Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hóa đa dạng và kiều diễm (Ngô Quang
Đê, 2001)
Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dược rất cao Lá có thể pha uống, làm thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét Hoa chữa tiêu chảy ra máu, cũng có thể dùng làm màu thực phẩm Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình và hàng mỹ nghệ Hạt có thể để ép lấy dầu
Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thường mọc dưới tán các cây khác trong rừng tự nhiên Do đó trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng dưới cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn Cây có nhiều lá,
dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt
Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ trung bình đến lớn, có đường kính 4 - 8cm Do có hoa đẹp, nhiều loài nở hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa vàng
dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được quan tâm đến, còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và khai thác (Trần Ninh, 2002)
Trang 201.4 THỰC TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TRÀ HOA VÀNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng ở Việt Nam
Trước đây người ta chỉ biết trà hoa vàng nấu lấy nước uống ngon, người khoẻ mạnh ăn được nhiều cơm, đêm ngủ ngon giấc Ngày nay, trà hoa vàng được các nhà khoa học chứng minh có khả năng kiềm chế được sự sinh trưởng của khối u, giảm cholesterol trong máu, chữa xơ cứng động mạch do lượng mỡ trong máu cao, giúp hạ đường trong huyết áp Bởi vậy giá hoa trà rất cao, hiện bán trên thị trường là 15 triệu đồng/kg hoa khô
Có một thời người dân các xã vùng cao ở Tam Đảo đổ xô vào rừng để tìm trà hoa vàng, họ đào rễ bán cả cây cho thương lái thu gom mang sang bên kia biên giới Để tránh người dân khai thác mang tính huỷ diệt, một số hộ ở các xã đã đứng ra bao tiêu thu mua cây trà để tránh thất thoát ra nước ngoài, mất giống trà quý ở Việt Nam
Chi Trà ở VQG Tam Đảo có 16 loài và 01 thứ chiếm 28,0% tổng số loài Trà hoa vàng của Việt Nam Trong đó có hai loài: Trà hoa vàng tam đảo
(Camellia tamdaoensis) và Trà hoa vàng pêtêlô (Camellia petelotii) là đặc hữu
của VQG Tam Đảo, đây là các loài có hoa to, màu vàng đậm, óng, rất đẹp Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa của hai loài Trà trên để buôn bán, với giá khoảng trên 1.500.000/1kg hoa tươi, thậm chí buôn bán cả cây tươi với giá 20.000đ/kg, Sau đó sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch Cùng một số nguyên nhân khác, hai loài Trà hoa vàng này đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên
1.4.2 Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng trên Thế giới
Năm 1610 người Hòa Lan (Hà Lan) mang trà từ Trung Hoa về Âu Châu Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Ðào Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có nửa kilô trà Chứng tỏ trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu (Chu Tương Hồng, 1993)
Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan bị Anh quốc chiếm làm thuộc địa, các thương gia Anh độc quyền nhập trà năm 1657 về các cảng Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London bán trà đen tại Âu Châu Trà nhập vào Âu
Trang 21Châu bằng đường thủy, trong thời gian này những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến bán cho Liên Xô Nhưng đến cuối thế kỷ XIX trà xanh tràn ngập thị trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho trà xanh không mất phẩm chất (Chu Tương Hồng, 1993)
Các Tổng thống Hoa Kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà Năm 1650 thương thuyền Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) Năm 1773 ở Boston vì tranh cãi về thuế trà, bị phản đối một phần trà nhập cảng bị ném xuống biển (Chu Tương Hồng, 1993)
Trang 22CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) tại vườn quốc gia Tam Đảo cùng với các yếu tố sinh thái tại vị trí
có phân bố tự nhiên của loài Trà hoa vàng này
ở khu vực quản lý của Vườn quốc gia Tam Đảo
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung tiến hành nghiên cứu với các nội dung sau:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu chi phối tới sự phân bố của cây Trà hoa vàng
- Thực trạng phân bố của loài trà hoa vàng Hakoda ở vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng
Hakoda (Cameliia hakodae Ninh) tại Vườn quốc gia Tam Đảo
- Khảo sát môi trường sinh thái phù hợp với loài Trà hoa vàng Hakoda
(Cameliia hakodae Ninh) Công tác quản lý bảo vệ đa dạng sinh học đối với nguồn
tài nguyên thực vật quý hiếm này
- Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) So sánh kết quả giữa các công thức thí nghiệm, đánh giá về khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển loài Trà hoa vàng Hakoda tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Trang 232.4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Cách tiếp cận
Để quá trình thực hiện đề tài đạt kết quả tốt thì cần phải có cách tiếp cận thích hợp Vì vậy phải căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, nội dung cần nghiên cứu và các điều kiện, phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu cùng với việc tiếp thu, tham khảo dựa trên nguyên tắc kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước
Nhiệm vụ sử dụng cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu phát triển nguồn gen bao gồm nhiều lĩnh vực và nhiều chuyên ngành Bên cạnh đó, có sự cùng tham gia của người dân, cán bộ địa phương, các nhà khoa học, doanh nghiệp, người tiêu dùng
Thừa kế các kết quả nghiên cứu đã có về khai thác, sử dụng các loài cây Trà hoa vàng hoang dại, kết hợp sử dụng kiến thức, kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng người dân ở các khu vực Mặt khác, tìm hiểu giá trị kinh tế của chúng, từ đó nghiên cứu xây dựng được các mô hình khai thác và phát triển Trà hoa vàng có hiệu quả cao
Đề tài nghiên cứu này thuộc lĩnh vực sinh học và đối tượng nghiên cứu là các thực thể cây rừng và môi trường sống của nó Nếu với môi trường nghiên cứu
là những cây có vòng đời ngắn, kích thước nhỏ bé thì có thể bố trí thí nghiệm trên diện tích nhỏ và có các thiết bị hiện đại để khống chế, điều chỉnh và tạo ra điều kiện hoàn cảnh đáp ứng với yêu cầu của công tác nghiên cứu Còn đối với đối tượng nghiên cứu là những loài cây có kích thước lớn, tuổi đời dài thì những công thức thí nghiệm trong phòng chỉ phù hợp với giai đoạn hạt – mầm, cây con Còn ở giai đoạn cây có kích thước lớn thì chỉ nghiên cứu nó trên các cây tiêu chuẩn, trong ô tiêu chuẩn định vị hoặc tạm thời
Đối với những cây gỗ sống lâu năm, để nghiên cứu đặc tính sinh thái và các yếu tố khác ở các giai đoạn tuổi của cây thì thời gian cần cho nghiên cứu có thể phải hàng chục năm mới có kết quả Để khắc phục hạn chế này, rút ngắn thời gian nghiên cứu người ta thường mở rộng không gian và cùng một lúc tiến hành nghiên cứu trên nhiều cá thể ở các giai đoạn tuổi khác nhau trong cùng một hoàn cảnh sinh thái Đây là phương pháp thường dùng trong lâm nghiệp để nghiên cứu rừng tự nhiên, phương pháp này cho kết quả nhanh chóng nhưng độ chính xác còn chưa cao phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên và quá trình thực hiện
Trang 24Hiện nay trên thế giới vẫn trong lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm sinh vật học các nhà khoa học vẫn dựa trên các quan điểm sau để nghiên cứu
− Quan điểm cá thể:
Đại diện cho trường phái này là các nhà khoa học như Ramenski (Nga), Fournier và Lenoble (Pháp), Whittaker và Brow (Anh), Negri (Ý), Curtis và Gleason (Mỹ),…cho “loài là thực thể duy nhất trong tự nhiên”, nên những nghiên cứu thường chỉ tập trung hướng vào cá thể loài, thậm chí là các cá thể trong loài Những đặc điểm chung của quần xã, hệ sinh thái được hình thành từ các đặc điểm cá thể loài dù chúng có tác động, ảnh hưởng hỗ trợ hoặc kìm hãm lẫn nhau nhưng trong quan điểm này nó không được đề cao
− Quan điểm quần thể:
Điển hình cho quan điểm này là các nhà khoa học như Sukasop (Nga), Walter (Đức), Braun và Blanquet (Pháp), Clement (Anh), Pavlovxki (Ba Lan),… Trong trường phái này lại nhấn mạnh tầm quan trọng của đặc điểm quần thể loài và hệ sinh thái, hướng nghiên cứu tập trung vào đặc trưng của quần thể loài tạo nên, không nhấn mạnh vào các đặc trưng cá thể
− Quan điểm trung lập:
Những nhà khoa học nghiên cứu trong trường phái này lại có tính dung hòa hai quan điểm cá thể và quan điểm quần thể, không nghiêng về quan điểm nào mà các nghiên cứu có sự kết hợp của cả 2 quan điểm đại diện cho quan điểm này có các nhà khoa học như Thái Văn Trừng (Việt Nam), Poniatovxkaia (Nga), Tensley (Anh),…
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu về phạm vi phân bố loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh); Đặc điểm sinh thái loài Trà hoa vàng Hakoda (Cammellia hakodae Ninh; mối quan hệ giữa các loài cây đó với điều kiện môi trường mà nó đang tồn tại, các nhân tố khí hậu, đất đai, sinh vật
2.4.3 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
2.4.3.1 Điều tra phỏng vấn:
Phỏng vấn người dân địa phương sống trong khu vực đệm VQG, điều tra
về tình hình khai thác, sử dụng, buôn bán các loài thực vật quý hiếm và ý kiến về
Trang 25vấn đề quản lý bảo tồn và phát triển loài cây Trà hoa vàng (Camelia hakodae
Ninh) tại Vườn quốc gia Tam Đảo Tổng số phiếu điều tra là 50, theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn
2.4.3.2 Điều tra thực địa:
Áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến trong điều tra thực vật rừng Trong phương pháp điều tra lâm học ta thu thập số liệu dựa trên cơ sở ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời Vì nó đại diện cho cả đối tượng nghiên cứu
Do không thể tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ khu vực Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu: ÔTC phải có tính đại diện cao, ít bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh không có đường mòn qua lại, không ảnh hưởng tác động của con người và gia súc Do đó trước khi lập ÔTC chúng ta tiến hành sơ thám toàn bộ khu vực điều tra để xác định địa điểm lập ÔTC ÔTC hình chữ nhật có 2 chiều, một chiều song song và một chiều vuông góc với đường đồng mức
Điều tra tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng
Hakoda (Cammellia hakodae Ninh) để thấy được sự sinh trưởng, phát triển của
loài Trà, từ đó có những biện pháp nghiên cứu bảo vệ tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho việc bảo tồn, phát triển nguồn gen của loài
* Điều tra tình hình sinh trưởng tự nhiên
Qua điều tra thực địa chúng tôi thấy cây Trà hoa vàng Hakoda phân bố nhiều ở các độ cao từ 200-400m vì vậy chúng tôi tiến hành lập 9 ô tiêu chuẩn đại diện cho khu vực nghiên cứu ở các độ cao khác nhau để đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng, mỗi ô có diện tích 1000 m2 (kích thước 25m
x 40m) tiến hành điều tra, đo đếm hết các cây
* Mô tả tình hình chung của ô tiêu chuẩn như số thứ tự ô tiêu chuẩn, loại rừng, đơn vị quản lý, độ dốc, độ cao, diện tích ÔTC.( Xem phụ lục 01)
* Điều tra cây trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) có trong ô tiêu
chuẩn: tiến hành đo đếm tất cả những cây Trà hoa vàng Hakoda có chiều cao lớn hơn chiều cao cây tái sinh ( Hvn >300cm) có mặt trên ô tiêu chuẩn Kết quả thu được ghi vào biểu
* Để đánh giá được khả năng sinh trưởng phát triển của loài Trà hoa vàng
Hakoda (Camellia hakodae Ninh) bên cạnh những cây bản địa xung quanh nó,
tôi tiến hành điều tra ô tiểu chuẩn 6 cây trong ô tiêu chuẩn nghiên cứu; chọn ra 3
Trang 26cây Trà hoa vàng đại diện trên ô tiêu chuẩn, mỗi cây Trà hoa vàng xác định 6 cây xung quanh có khoảng cách gần nhất với cây Trà hoa vàng tiến hành đo đếm đường kính D1.3, chiều cao Hvn Hdc, đường kính tán,…Phương pháp xác định các loài cây xung quanh chúng tôi nhận biết dựa vào quan sát tên loài cây, đặc điểm hình thái hoa, lá, quả, thân, rễ của chúng để phân biệt các loài cây sống gần loài Trà hoa vàng trong các ô tiêu chuẩn nghiên cứu
Kết quả đo đếm về các ô tiêu chuẩn 6 cây trong ô tiêu chuẩn nghiên cứu
thu được ghi vào biểu
* Điều tra tái sinh tự nhiên
Lập 5 ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn để điều tra cây tái sinh ở 4 góc và ở giữa ở ô tiêu chuẩn, mỗi ô dạng bản có diện tích 25 m2 (kích thước 5m x 5m)
Tiến hành đo đếm tất cả các cây Trà hoa vàng tái sinh có trong ô dạng bản
và chia theo cấp chiều cao, chất lượng (tốt, trung bình, xấu), nguồn gốc (hạt, chồi) Kết quả đo đếm cây tái sinh được nghi vào biểu
* Điều tra đất
Để phân tích đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu, tiến hành đào phẫu diện tại 3 điểm trong 3 ô tiêu chuẩn đầu tiên điều tra (01 phẫu diện/ ô tiêu chuẩn) Mỗi phẫu diện có kích thước 80x60 cm, nếu trong quá trình đào chưa đạt độ sâu 80cm nhưng đã tới tầng mẫu chất thì có thể dừng lại phân tích và lấy mẫu Ở mỗi phẫu diện tiến hành:
- Mô tả phẫu diện và lý tính của đất, Kết quả ghi vào biểu mô tả phẫu diện đất
- Lấy mẫu, mỗi mẫu lấy 0.5 kg 3 tầng 0-10 cm, 20-30 cm và 40-50 cm phân tích các chỉ tiêu PH Kcl, tỷ lệ mùn (% OM), tỷ lệ đạm, P205 và K20 dễ tiêu tại Phòng thí nghiệm, Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
- Cách đào phẫu diện đất
+ Trước khi đào cần chọn vị trí, đánh dấu và số thứ tự lên bản đồ
+ Hướng phẫu diện quay dọc theo hướng đông tây, mặt thành phẫu diện khảo sát phải hướng về phía mặt trời
+ Đối diện với mặt phẫu diện là các bậc để lên xuống
+ Kích thước phẫu diện tùy thuộc vào mục đích của các phẫu diện định đào Chọn vị trí, đánh dấu và số thứ tự lên bản đồ
Trang 27+ Chiều rộng phẫu diện từ 0,8 – 0,9cm, chiều dài khoảng 1,20 – 1,50 m Chiều sâu thì tùy đối tượng mà quy định
+ Đất đào lên phải đổ hai bên phẫu diện, đất trên mặt để riêng một bên Sau khi mô tả và lấy mẫu xong nên lấp lại theo trạng thái cũ
+ Không được giẫm ở phía trên bề mặt khảo sát vì sẽ làm mất đi trạng thái
tự nhiên của đất, hủy hoại cây cỏ, cũng không được đổ đất trên đấy vì chúng ta còn phải quan sát thực bì và đặt các thí nghiệm về lý tính nếu cần
+ Mặt phẫu diện phải thẳng đứng: dung mai hoặc xẻng vạt, tránh áp lưỡi mai miết đất làm mất trạng thái tự nhiên của đất
+ Đối với mặt phẫu diện nên đâò dạng bậc thang để tiện lên xuống khảo sát đào phẫu diện đất
2.4.4 Tìm hiểu công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học nói chung ở Vườn quốc gia Tam Đảo
- Tìm hiều công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Tam Đảo
- Thu thập các loại tài liệu, văn bản liên quan đến công tác quản lý bảo tồn
đa dạng sinh học ở VQG Tam Đảo
- Phỏng vấn cán bộ quản lý VQG về việc thực hiện công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
2.4.5 Thử nghiệm nhân giống Trà hoa vàng Hakoda bằng Hom
Thí nghiêm nhân giống Trà hoa vàng được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại với 7 công thức:
Trang 28* Cách lấy hom: hom được lấy của những cây mẹ đã thành thục phân bố trong tự nhiên, có thân và hình tán đẹp, cây sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, có hoa to đẹp (nếu có) Chọn các cành thứ cấp (cành cấp 2, 3), hoặc hom chồi vượt càng tốt, các cành có hom được chọn là cành bánh tẻ, mới ra trong mùa sinh trưởng, khoảng cách các đốt tương đối đều, mỗi hom sau khi về cắt phải được ít nhất 2 đốt (khoảng 3 lá)
* Cách cắt hom: dùng kéo thật sắc bén để cắt hom, vết cắt cần dứt khoát
để tránh dập và trầy xước, chiều dài hom từ 8 – 10 cm, cắt bỏ một phần lá của hom để giảm bớt sự thoát hơi nước cho hom (thường cắt bỏ 2/3 lá trên hom)
* Xử lý và cắm hom: hom cắt xong được thả ngay vào chậu nước sạch để tránh khô héo khi chưa xử lý kịp thời Trước khi xử lý hóa chất hom được ngâm vào dung dịch benlat 0,1 % trong 15 phút để diệt nấm Sau đó vớt ra và lần lượt xử lý chất kích thích sinh trưởng IBA, NAA theo những công thức có nồng độ khác nhau
là (100ppm, 150ppm và 200ppm) Sau khi xử lý hom thì tiến hành cắm hom Dùng que nhỏ chọc lỗ, tay kia cắm hom, cắm xong dùng ngón tay ấn cát chặt vào gốc hom, hom có thể cắm sát nhau (cách nhau 5 cm), cắm xong cần tưới nước giữ ẩm
* Thể nền để giâm hom: diện tích đất ở vườn để làm thí nghiệm phải được làm sạch cỏ dại, nhặt sỏi đá, dọn sạch, san bằng nền đất, sau đó đổ cát vàng (đã được sàng bỏ sỏi, rác, tạp chất và đã được phơi khô nhiều nắng để diệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh) Cát được lên luống cao khoảng 5 – 10cm
* Theo dõi chăm sóc hom: Chăm sóc hom giâm là công việc cực kỳ quan trọng, nó không thể thiếu được trong quá trình giâm hom Sau khi cắm hom, tưới
đủ ẩm cho đất nền (thể nền), chụp khung nilong Hàng ngày tưới ẩm 2 - 3 lần (những ngày trời nắng to thì phun 3 lần), 2–3 ngày thì tưới ẩm cho nền cát một lần, nền cát luôn giữ ẩm 60–70% Ở giai đoạn đầu, khi hom tách rời hoàn toàn khỏi cơ thể mẹ, hom bị mất nước rất nhanh nếu không tưới nước kịp thời và thường xuyên thì hom sẽ bị chết Tưới nước vừa đủ, nếu tưới nhiều sẽ dẫn đến hom dễ bị thối và chết, nếu tưới ít thì lượng nước này sẽ không cung cấp đủ cho mọi hoạt động sống của hom, dần dần hom mất nước nhiều sẽ dẫn đến chết Khi hom ra rễ thì tưới nước ít hơn
Trong khâu chăm sóc, ngoài việc tưới nước còn phải chú ý đến nhiệt độ
và ánh sáng trong cả quá trình giâm hom Hàng ngày đều theo dõi nhiệt độ, độ
ẩm của luống giâm Lồng Polyetylen có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho quá
trình ra rễ của hom giâm Theo nghiên cứu của Hudson T Hartmann và Dale E
Trang 29Kester thì màng Polyetylen có chiều dày từ 0,1 đến 0,15mm cho 85% ánh sáng đi qua và trong đó có tất cả các ánh sáng cần thiết cho sự phát triển của thực vật, đồng thời cho ôxy, cacbon đi qua nhưng lại ngăn cản sự bốc hơi nước Như vậy trong lồng Polyetylen có thể duy trì được độ ẩm cao
− Lập sổ theo dõi các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giâm hom theo mẫu biểu
− Sau 4 tháng giâm hom khi hom đã ra rễ được một thời gian có thể ra bầu được thì tiến hành ra bầu, thống kê mô tả hom loài Trà hoa vàng Hakoda, kết quả thu được ghi vào bảng
− Tính toán nội nghiệp: từ số liệu thu thập được tiến hành tính toán nội nghiệp theo các chỉ tiêu: số rễ trung bình, chiều dài rễ trung bình, tỉ lệ ra rễ, sử
dụng tiêu chuẩn X 2 với mức ý nghĩa 5 % ( số bâc tự do k = (m – 1)( n-1)) để so sánh tỉ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm
Từ các kết quả thu được so sánh, kết hợp với các chỉ tiêu theo dõi khác đưa ra công thức thí nghiệm thích hợp nhất để giâm hom loài Trà hoa vàng Hakoda
(Camellia hakodae Ninh)
• Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Thí nghiêm nhân giống Trà hoa vàng được tiến hành với 7 công thức là CT1: Cành cấp 2, không xử lý hóa chất kích thích ra rễ (Đ/C), CT2: Cành cấp 2, xử lý NAA 100 ppm, CT3: Cành cấp 2, xử lý NAA 150 ppm, CT4: Cành cấp 2, xử lý NAA 200 ppm, CT5: Cành cấp 2, xử lý IBA 100 ppm, CT6: Cành cấp 2, xử lý IBA 150 ppm, CT7: Cành cấp 2, xử lý IBA 200 ppm Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) cho từng tổ hợp, với 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 3 m2, giâm 15 hàng/ô, khoảng cách giâm cành là 5cm Cành cấp 2 được giâm trên nền cát Sau khi cắt cành cấp 2 thì tiến hành xử lí dung dịch NAA trong 30 phút, dung dịch IBA trong 30 phút Các thí nghiệm được bố trí riêng rẽ với từng chất sinh trưởng NAA, IBA
Thí nghiêm nhân giống Trà hoa vàng được bố trí theo các bước như sau:
- Bước 1: Chia ô thí nghiệm thành 3 khối bằng nhau Hướng biến động
Trang 30Khối 1 Khối 2 Khối 3
- Bước 2: Chia nhỏ khối đầu tiên thành 7 lô, đánh số thứ tự cho 7
lô này từ 1 -> 7 và gán ngẫu nhiên 7 công thức cho 7 lô như sau:
- Bước 3: Lặp lại bước 2 với các khối còn lại như sau:
Trang 31CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1: Bản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo
( Nguồn: Trung tâm giáo dục môi trường và dịch vụ - Vườn quốc gia Tam Đảo)
Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 21o 21’ đến 21o 42’ độ vĩ bắc, 105o 23’ đến 105o 44’ độ kinh đông
Địa giới hành chính Vườn quốc gia được giới hạn như sau: Phía Bắc là đường quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo Khế Phía Đông-
Trang 32Bắc bởi đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp quốc lộ 13A tại xã Phú Xuyên huyện Đại Từ Phía Nam bởi ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc; Phổ Yên, Đại Từ thuộc Thái Nguyên Phía Tây-Nam bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ Đường 13A tại xã Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã Mỹ Khê bên
hồ Đại Lải
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo Tam Đảo
Hình 3.2: Địa hình, địa mạo
Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ sộ, nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Cả khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dầy Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang
và Thái Nguyên Chiều ngang biến động trong khoảng 10-15km Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại
Trang 33Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành bốn kiểu địa hình chính:
- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối
<100m, độ dốc cấp I (<70) Phân bố dưới chân núi và ven sông suối
- Đồi cao trung bình: Độ cao tuyệt đối 100-400m Độ dốc cấp II (80 –
150) trở lên Phân bố xung quanh chân núi và tiấp giáp với đồng bằng
- Núi thấp: Độ cao tuyệt đối 400 – 700m Độ dốc trên cấp III (160 – 260) Phân bố giữa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình
- Núi trung bình: Độ cao tuyệt đối >700m – 1590m Độ dốc >cấp III Phân bố ở phần trên của khối núi Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn Như vậy có thể nói địa hình Tam Đảo cao và khá đều (cao ở giữa và thấp dần về hai đầu nhưng độ chênh không rõ), chạy dài gần 80km theo hướng Tây-Bắc – Đông - Nam nên nó như một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc tràn
về đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Vì vậy ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu và thủy văn trong vùng
3.1.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
3.1.1.3.1 Địa chất
Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệ tầng Tam Đảo (T2td) Thành tạo phun trào này kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài khoảng 80km, rộng khoảng 10km, có quan hệ kiến tạo với các thành tạo tuổi Devon ở phía Bắc và Tây Nam Các đá phun trào Tam Đảo
bị xâm nhập phức hệ Núi Điêng xuyên cắt
Hệ tầng phun trào axit Tam Đảo bao gồm chủ yếu là đá riolit, riolit pocphia, riodacit và tuf của chúng, bề dày tổng cộng khoảng 800m Đá riolit chứa các ban tinh fenspat và thạch anh cỡ nhỏ đến vừa, chiếm khoảng 5-10% khối lượng Thành tạo riolit Tam Đảo bị phân cắt bởi hệ thống khe nứt, tạo ra các khối kích thước khác nhau, bị ép thành tấm, đôi chỗ thành phiến, dập vỡ mạnh Lấp đầy các khe nứt trong đá là các mạch thạch anh
Theo tài liệu của Tổng cục Địa chất, tuổi tuyệt đối mẫu cục lấy ở khu nghỉ mát Tam Đảo là 267 triệu năm, hơi cao hơn rionit ở dãy Phiabioc có tuổi từ 230 đến 240 triệu năm Như vậy rionit Tam Đảo có tuổi Triat giáp Nori
Trang 34Ở phần phía tây của vùng (mỏ thiếc), các thể xâm nhập granit kết hợp chặt chẽ với rionit kết tinh khá cao (giống ở dãy núi pháo Đồng Hỷ) chỉ có các đá granit chứa thiếc chắc chắn có tuổi trẻ hơn (ở cuối chân núi xuất hiện cuội kết thuộc trầm tích kỷ Jura)
Trong quá trình phát sinh và phát triển của địa hình và lịch sử địa chất đã tạo nên một số loại khoáng sản có nguồn gốc nội sinh như thiếc, vonfram Hiện nay (1992) mỏ này đang được khai thác Diện tích mỏ lên đến hàng nghìn hecta, nằm ở phía bắc khu bảo tồn
Nhìn chung các lọai đá này rất cứng Thành phần khoáng vật có nhiều thạch anh, mouscovit khó bị phong hóa và hình thành các loại đất có thành phần
cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có độ dốc cao hơn 35o Đất bị xói mòn rất mạnh để trơ lại tầng đá gốc cứng rắn Nếu vì một
lí do nào đó làm lớp phủ rừng bị phá hoại trên lập địa này, thì dù có đầu tư cao cũng khó phục hồi lại lớp phủ rừng như xưa
3.1.1.3.2 Thổ nhưỡng
Về yếu tố đất đai, đã điều tra được 4 loại đất chính gồm:
− Đất Feralit mùn vàng, phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuất hiện ở độ cao từ 700m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tích của Vườn
− Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết tinh, loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích và xuất hiện ở độ cao từ 400m - 700m
− Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường thấy ở độ cao từ 100m - 400m, có diện tích là 17.606ha, chiếm 47,33% diện tích Vườn
− Đất dốc tụ và phù sa, loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích là 1017ha, chiếm 2,76% diện tích Vườn
Trang 353.1.1.4 Khí hậu, thủy văn
3.1.1.4.1 Khí hậu
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sự phân hóa theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậu toàn vùng không phải là vấn đề đơn giản Các nhà lâm học (FIPI) dựa trên các số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Đại Từ) để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:
Thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao Dựa vào các số liệu quan trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Tam Đảo (thị trấn Tam Đảo)
Bảng 3.1: Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng
Tuyên Quang
Trạm Vĩnh Yên
Trạm Đại Từ
Trạm Tam Đảo
( Nguồn: Trung tâm giáo dục môi trường và dịch vụ - Vườn quốc gia Tam Đảo)
Có thể nói rằng trạm Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây, trạm Đại Từ đặc trưng cho khí hậu sườn phía Đông; trạm Tam Đảo ở độ cao 897m trên mực nước biển đặc trưng cho khí hậu trên cao của VQG Tam Đảo Sườn tây có vũ lượng trên 1600mm/năm, vào loại trung bình Sườn đông
có vũ lượng trên 1900mm/năm, vào loại nhiều; Đó là sườn đón được gió mang hơi ẩm thổi từ biển vao Trên đỉnh còn có lượng mưa trên 2600mm/năm, vào loại mưa rất nhiều vì ngoài lượng mưa giống như vùng thấp nó còn được hưởng lượng nước do mưa địa hình mang lại
Trang 36Tổng lượng mưa trong mùa hè và thu rất cao (>90% tổng lượng mưa năm), mùa mưa kéo dài hơn 7 tháng (suốt từ tháng 4 đến tháng 10).Về mùa đông
và xuân, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm dưới 10% lượng mưa năm
Số ngày mưa khá nhiều, sườn tây trên 140 ngày/năm, sườn đông và vùng đỉnh trên 190 ngày/năm Cường độ mưa rất lớn, có nhiều trận mưa trên 350mm/ngày
Tần suất xuất hiện những trận mưa to và rất to trong mùa mưa trên 20%, tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9; cao nhất là các tháng 8 và 9 (đỉnh mưa đều nằm trong tháng 8), xói mòn và những trận lũ lớn đều xảy ra vào những thời gian này
Hàng năm có trên 60 ngày dông tại trạm và một trận bão đi qua với tốc độ gió trên cấp 8 Vì thế khi xây dựng các công trình trong vùng đều có hệ thống chống sét và gió giật cẩn thận, điển hình là cột phát sóng truyền hình trên đỉnh Tam Đảo
Do điều kiện địa hình, địa mạo đã chi phối mạnh mẽ đặc điểm khí hậu trong vùng nên nhiệt độ vùng thấp biến động từ 22,80C đến 23,5 0C, tháng lạnh nhất trên 150C (tháng 1), tháng nóng nhất trên 280C (tháng 7) Riêng vùng đỉnh
có nền nhiệt độ thấp hơn cả, bình quân 18oC, lạnh nhất là 10,8oC (tháng 1), nóng nhất 230C (tháng 7) Vùng thấp số giờ nắng đều trên 1600 giờ/năm, lượng bức xạ dồi dào; Riêng Tam Đảo chỉ có 1200 giờ/năm vì thường có mây che phủ trong mùa xuân – hè
Đầu mùa đông thường có dạng thời tiết khô hanh, cộng với gió mùa đông
- bắc mạnh làm cho lượng bốc hơi tăng Sang xuân có mưa phùn (vùng thấp có
20 ngày/năm, vùng cao số ngày mưa phùn lên đến trên 46 ngày) làm giảm đáng
kể lượng bốc hơi Lượng bốc hơi, vì vậy, có sự khác biệt rõ rệt giữa vùng thấp (xấp xỉ 1000mm/năm) và vùng cao (Tam Đảo chỉ có 560mm/năm)
Độ ẩm bình quân vùng thấp >80%, vùng cao >87% Mùa mưa, nhất là khi
có thời tiết mưa phùn độ ẩm lên tới trên 90%, nhưng mùa khô chỉ còn 70-75%,
cá biệt có ngày chỉ 6%, vì vậy thời tiết rất khô hanh, dễ gây ra cháy rừng
3.1.1.4.2 Thủy văn
Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông chính: ở phía Đông bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía Tây nam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Đáy Hầu hết các sông suối bên trong Vườn quốc gia Tam Đảo đều dốc và chảy xiết Tam Đảo có khí
Trang 37hậu nhiệt đới gió mùa; lượng mưa trung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với khoảng 90% tổng lượng mưa của năm Trong mùa khô, lượng mưa và độ ẩm ở các đai cao rất thấp làm cho những vùng này rất dễ bị cháy
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Dân số và dân tộc
Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trên địa phận của 23 xã, thị trấn thuộc 6 huyện của 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang Theo kết quả thống kê ngày 31/12/2013, tổng dân số là 148.706 người thuộc 29.598 hộ trong đó nam chiếm 44%, nữ chiếm 56%, dân bản địa của khu vực gồm 2 thành phần chính là người Kinh và nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu số trong đó người Kinh đông nhất chiếm 63%, 7 dân tộc còn lại chiếm 37% và xếp theo tỷ lệ giảm dần: Sán dìu, Sán chỉ, Dao, Tày, Nùng, Cao lan, Hoa Do sống lâu đời gần người Kinh và
có điều kiện thuận lợi để tiếp cận với các trung tâm văn hóa, kinh tế nên tập quán phong tục của đồng bào 7 dân tộc không khác nhau nhiều so với người Kinh
Bảng 3.2: Thống kê thành phần các dân tộc
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu thống kê của UBND các xã vùng đệm)
Hầu hết số dân trên sống ở các vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo với
số lượng là 148.706 người, số dân sống ở thị trấn Tam Đảo là 174 hộ với 616 người đây là khu vực thuộc địa giới Vườn quốc gia Tam Đảo ở độ cao 800 – 1000m tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình trong toàn vùng đệm Vườn quốc gia
Trang 38Tam Đảo là 1,66%, cao nhất là xã Hợp Châu (Tam Đảo – Vĩnh Phúc) 2,08%, thấp nhất là xã Tam Quan 1,33%
3.1.2.2 Đời sống kinh tế
Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá, đồi trọc đất nông nghiệp với tổng số 7.537 ha chiếm 4,38% trong tổng diện tích tự nhiên Cây lúa nước là cây lương thực chính của đồng bào, nhưng diện tích lại ít Diện tích đất canh tác bình quân cho một nhân khẩu là 776 m2, khá thấp so với yêu cầu tối thiểu của bộ phận cư dân nông nghiệp còn ở trình độ sản xuất thấp
do điều kiện thiếu thốn dẫn tới các hoạt động khai thác phá rừng để làm nương rẫy, săn bắn động vật,…tất cả các hoạt động tác động tiêu cực của người dân làm cho Vườn quốc gia Tam Đảo ngày càng suy thoái và khan hiếm động vật rừng, đặc biệt là các loài quý hiếm trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cùng với sự quản lý chặt chẽ khoa học của ban giám đốc Vườn quốc gia Tam Đảo đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, đưa những giống mới năng xuất cao vào sản xuất giúp cho nhân dân trong vùng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới phân phối điện tuy đã có ở hầu hết các xã trong vùng nhưng phân bố không đồng đều và chất lượng một số thôn bản sát chân núi Tam Đảo còn có nguồn thủy điện nhỏ do các hộ gia đình tự xây dựng cung cấp điện cho sinh hoạt hàng ngày: thắp sáng, quạt điện, ti vi,…
Với hệ thống giao thông phát triển gồm hệ thống đường bộ khá nhiều và quan trọng như các tuyến Quốc lộ 2B, 2C tỉnh lộ 35, 37, 302 và những tuyến đường thủy (sông Công, sông Phó Đáy), đường sắt Quán Triều – Đại Từ đi qua vùng là những tuyến đường trọng yếu giúp phát triển kinh tế xã hội trong vùng Ngoài ra còn những tuyến đường nội bộ khác phục vụ nhu cầu của nhân dân trong vùng được xây dựng khá tốt
Các xã trong vùng đệm đều có các trường tiểu học, trường trung học cơ
sở, tại cụm Tam Quan có trường trung học phổ thông Tam Đảo Cơ sở vật chất các trường học được cải thiện đáng kể, không còn các phòng học tranh tre, tình trạng học ca 3 Trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cũng được tăng cường như: sách cho thư viện, thiết bị dạy học, thí nghiệm, máy vi tính,
Trang 39Tất cả các xã đều có trạm y tế xã, mạng lưới y tế cơ sở cũng được chú ý đầu tư về cơ sở vật chất: nhà trạm, giường bệnh và trang thiết bị khám chữa bệnh khác Hầu hết các xã đều có 1 – 2 y sỹ và nữ hộ sinh, nhiều xã có bác sỹ Công tác chăm sóc sức khỏe đã có nhiều tiến bộ, thực hiện có kết quả các chương trình chăm sóc, bảo vệ bà mẹ trẻ em, tiêm chủng mở rộng,…
3.1.2.4 Những ảnh hưởng tác động đến rừng
Cư dân vùng đệm giữ một vai trò quan trọng và liên quan mật thiết đến sự suy giảm hay phát triển của các hệ sinh thái trong Vườn quốc gia Tam Đảo Tập quán của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở đây đều cho rằng toàn bộ rừng, tài nguyên thiên nhiên là của trời đất ban cho họ, là chung của làng Các chủ gia đình là người có quyền sở hữu, sử dụng trực tiếp
Tập quán canh tác nương rẫy với phương thức “phát, đốt, chọc, tỉa” tồn tại qua nhiều đời đã gây ảnh hưởng tới rừng, làm suy giảm nghiêm trọng diện tích rừng Tam Đảo Trước năm 1970 rừng Tam Đảo còn từ cốt 400m và đến nay, trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo dân đã phát đến cốt 500m, thậm chí
có chỗ lên tới cốt 600 – 700m Khai thác gỗ, săn bắn động vật hoang dã để buôn bán đã làm suy giảm đa dạng sinh học rừng Tam Đảo
Tháng 6 năm 1996, Vườn quốc gia Tam Đảo thành lập Đây là cơ quan quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Nhưng do đời sống của nhân dân trong vùng đệm vẫn còn khó khăn và do tập quán canh tác lạc hậu nên tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Tam Đảo không tránh khỏi bị tác động
3.2 XÁC ĐỊNH PHẠM VI PHÂN BỐ CỦA LOÀI TRÀ HOA VÀNG
Xác định phạm vi phân bố loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae
Ninh) là một khâu rất quan trọng trong công tác điều tra nghiên cứu
Theo PGS.TS Trần Ninh, người đã tìm ra loài Trà hoa vàng Hakoda này thì nó chỉ tìm thấy ở dãy núi Tam Đảo mọc trong thung lũng của rừng thường xanh , ở độ cao 200 – 400m, là loài Trà có hoa màu vàng tươi, đẹp Qua tiến hành điều tra hiện trạng tôi cũng nhận thấy loài Trà hoa vàng Hakoda cũng phân
bố nhiều ở độ cao 200 – 400m khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo
Trang 40Cho đến nay cùng với tất cả 17 loài Trà hoa vàng được tìm thấy ở Tam
Đảo, thì Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) chỉ xuất ở Vườn quốc
gia Tam Đảo được coi là loài đặc hữu của Tam Đảo cần được bảo vệ, phát triển nguồn gen phục vụ công tác nghiên cứu, trồng rừng và sử dụng hiệu quả hơn đối với loài đặc hữu quý hiếm này Do mùa ra hoa vào khoảng tháng 11 đến tháng 2 năm sau nên nó là loài cho hoa đẹp vào đúng dịp tết cổ truyền của Việt Nam, có thể sử dụng làm cây cảnh đẹp
Hình 3.3: Trạng thái rừng có Trà hoa vàng Hakoda phân bố
3.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG, TÁI SINH TỰ NHIÊN CỦA
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
3.3.1 Tình hình sinh trưởng
Mỗi một loài cây có đặc điểm sinh trưởng đặc trưng, có tính quy luật Để xem xét đặc điểm sinh trưởng của một loài cây rừng người ta thường phải xét đến đặc điểm sinh trưởng về đường kính, chiều cao, đường kính tán, tìm phân bố số cây theo đường kính, chiều cao từ đó tìm ra quy luật, chọn hàm lý thuyết mô phỏng các quy luật đó; lập các quan hệ giữa D và H
Trong đề tài này, đối tượng là loài cây gỗ nhỏ với mục đích là trồng làm cảnh và làm dược liệu chứ không phải lấy gỗ, do vậy với các vấn đề trên chúng tôi không đề cập đến mà chỉ đánh giá các chỉ tiêu D00, Hvn, Dt, Hdc bình quân, đánh giá sinh trưởng của loài qua quan sát tình hình sinh trưởng các cá thể có mặt trong ô tiêu chuẩn theo 3 cấp chất lượng sau: