1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf

65 312 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích kỹ thuật là gì Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, … dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để

Trang 1

Sưu tầm: Trần Thành Luân

CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

Lý thuyết toàn màu xám Cây đời vẫn mãi xanh tươi

Newton một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là một nhà đầu tư chứng khoán Kết quả kinh doanh của ông: phá sản với câu nói nổi tiếng của mình “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể đo được sự điên rồ của con người” Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh hồn của Newton Vậy bản chất phân tích kỹ thuật là gì và tại sao một thiên tài về cân đo đong đếm như Newton vẫn có thể thất bại trên thị trường?

Bài viết này sẽ giới thiệu tổng quan về phân tích kỹ thuật: khái niệm, các yếu tố liên quan và cách thức

sử dụng chung

1 Phân tích kỹ thuật là gì

Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên

dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương quan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các

dữ liệu về giá cả, khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tin trong quá khứ - phân tích kỹ thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cả của cổ phiếu Những kết luận thu được

từ các biện pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra Khoảng thời gian chênh lệch đó gọi là độ trễ

Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động

Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP

Trang 2

đó sự thất bại của Newton là một điều hợp lý bởi ông không thể dự đoán được tương lai chỉ bằng phép cân khối lượng của linh hồn

Trang 3

2 Các thuộc tính và tính chất

Một phép phân tích kỹ thuật thông thường có các thuộc tính và tính chất sau

- Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phân tích Trong ví dụ về trung bình động của DNP ở phần đầu, số phiên lấy dữ liệu là 5 phiên Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng chọn số phiên tính toán càng nhỏ bấy nhiêu

- Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khi phép phân tích chỉ ra được trạng thái đó Trong cùng 1 phương pháp phân tích, số phiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu

- Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thị trường Tính chất này ngược lại với độ trễ

- Độ chính xác: Tính ít sai xót trong phản ánh các biến động của thị trường Tuy nhiên độ chính xác và

độ nhạy lại đối nghịch với nhau

3 Vai trò của phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và dự đoán

Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn

(resistance và support: chúng ta sẽ tìm hiểu về hai khái niệm này trong các bài viết khác) và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ Đối với nhà đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời

Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn

Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá

cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt hơn Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và

Trang 4

chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ Tuy nhiên nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc a dua đám đông được hạn chế rất nhiều

Mỗi phương pháp kỹ thuật được áp dụng sẽ thể hiện các vai trò trên với các ưu nhược điểm khác nhau Chi tiết về các vai trò sẽ được nêu trong các bài viết trình bày cụ thể về từng phương pháp

4 Biến động giá, Resistance và Support

Giá một CP biến động liên tục trên thị trường theo thời gian trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trên quan điểm phân tích kỹ thuật, sự biến động giá trong một giai đoạn nhất định được chia làm 2 loại:

“dập dềnh” (trading market) và có xu thế (trending market) Biến động có xu thế được chia ra làm hai loại là biến động tăng và biến động giảm (trending up và trending down) Các loại biến động này đều

có thể nhận ra bằng mắt thường hoặc thực hiện thống kê

Biến động “dập dềnh” là giai đoạn giá CP thực sự tăng và không thực sự giảm Trong giai đoạn này, giá của CP liên tục dao động lúc lên lúc xuống nhưng xoay quanh một mức giá cố định Trong một vài phiên ngắn hạn giá cả có thể đi lên hoặc đi xuống nhưng nhìn chung trong cả thời kỳ giá không lên và cũng không xuống

Biến động có xu thế là giai đoạn giá CP đi lên hoặc đi xuống rõ ràng Mặc dù có sự tăng và giảm giá xen kẽ trong ngắn hạn một vài phiên nhưng nhìn chung trong cả giai đoạn giá theo xu hướng đi lên hoặc đi xuống Nếu giá đi lên ta gọi là giai đoạn biến động tăng, nếu giá đi xuống ta gọi là biến động giảm

Trang 5

Hình trên là ví dụ về các giai đoạn biến động giá các nhau Các dải nằm giữa hai đường màu xanh và màu đỏ là là các biến động dập dềnh không có xu hướng tăng hay giảm Mỗi giai đoạn biến động dập dềnh đều có hai giá trị ngưỡng là Resistance và Support (Tạm dịch là kháng cự và hỗ trợ) Hai giá trị ngưỡng này là phạm vi dao động giá của biến động dập dềnh Theo đó sự xuyên phá hai ngưỡng này đồng nghĩa với việc thị trường không còn ở giai đoạn biến động dập dềnh nữa mà đã chuyển sang biến động có xu thế Nếu giá vượt lên trên ngưỡng Resistance thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động tăng, phe bò tót thắng thế Nếu giá trị vượt xuống dưới ngưỡng Support thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động giảm, phe gấu đã thắng

5 Biến động giá và nhiệm vụ của phân tích

Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, giá của CP trải qua nhiều loại biến động Đối với mỗi giai đoạn biến động dập dềnh hoặc có xu thế, các câu sau hỏi được đặt ra đối với phân tích kỹ thuật:

• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh thì giai đoạn tiếp theo là biến động tăng hay biến động giảm?

• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì thời điểm hiện tại đã là lúc kết thúc chưa hay biến động có xu thế này vẫn còn tiếp tục và kéo dài trong bao lâu?

• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì sau khi kết thúc biến động này thì giai đoạn tiếp theo liệu có phải là giai đoạn biến động theo xu thế ngược lại không hay sẽ biến động dập dềnh?

Nếu giải đáp được các câu hỏi trên nhà đầu tư sẽ nhanh chóng có được quyết định mua vào hoặc bán ra đúng đắn, đặc biệt đối với các chuyên gia lướt sóng kiếm lợi nhuận bằng giá chênh lệch khi bán và khi mua:

• Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh mà giai đoạn tiếp theo là biến động tăng thì nên mua vào Khi giá đã lên cao hơn có thể bán ra để kiếm lời Ngược lại nếu giai đoạn tiếp theo là biến động giảm thì nên bán ra để tránh lỗ

• Nếu xu thế hiện tại là xu thế tăng và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên mua vào thuận theo xu thế để bán ra khi giá đã lên cao hơn Ngược lại nếu xu thế hiện tại là xu thế giảm và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên bán ra thuận theo xu thế để giảm lỗ Khi giá đã xuống thấp hơn có thể mua vào lại để bán ra khi thị trường phục hồi

Trang 6

Việc áp dụng một phép phân tích kỹ thuật cần phải giải đáp được một vài trong số các câu hỏi trên, cũng có khi phải phối hợp các phép phân tích kỹ thuật và phi kỹ thuật khác để trả lời được nhiều hơn một câu hỏi và tăng độ chính xác cho mỗi câu trả lời

6 Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật

a Phân tích tương quan (Leading Indicators)

Các phương pháp phân tích tương quan chỉ ra tương quan lực lượng giữa sự tăng giá và sự giảm giá, tương quan lực lượng giữa phe mua và phe bán trong một thời kỳ xác định Sự tương quan đó ánh xạ thành một giá trị đại diện xác định Nếu sự tăng giá là lớn hơn sự giảm giá thì giá trị này lớn, nếu sự tăng giá là nhỏ hơn sự giảm giá thì giá trị này nhỏ Sự tăng giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng lớn bấy nhiêu, sự giảm giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng nhỏ bao nhiêu Tên tiếng anh của nhóm phương pháp này là Leading Indicators – leading có nghĩa là dẫn dắt hàm ý chỉ ra sự tăng giá hay sự giảm giá đang giữ thế chủ đạo trên thị trường, dẫn dắt diễn biến của thị trường

Ví dụ điển hình của nhóm phương pháp này là phương pháp RSI Để tính RSI trên dữ liệu giá cổ phiếu DNP trong 5 phiên như ví dụ ở phần đầu:

Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên

AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100 Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên

AL = (3.500) / 5 = 700

Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quy chuẩn về thang 100 sẽ tính được RSI là:

RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75 Căn cứ vào tiêu chuẩn của RSI khi giá trị lớn hơn 70, có thể kết luận sự tăng giá đang dẫn dắt thị trường với sức mạnh nghiêng về sự tăng giá

Xét ví dụ về một phương pháp phân tích tương quan là đồ thị RSI của Công ty Cổ phần Nhựa Đồng

Trang 7

xu thế chung của thị trường: mua khi giá đang lên và bán khi giá đang xuống Chi tiến hơn về sử dụng phân tích tương quan sẽ được nêu trong các phần sau

b Phân tích xu thế (Lagging Indicators)

Các phương pháp thuộc nhóm này chỉ ra xu thế chung của thị trường trong một thời kỳ xác định Xu thế đó có thể là tăng giá, có thể là giảm giá hoặc trạng thái “dập dềnh” Theo cách đó nếu chỉ dựa vào 1 giá trị tính toán được của phương pháp này thì không đủ để nhận định xu thế của thị trường mà phải

Trang 8

dựa vào một dãy các giá trị của các thời kỳ khác nhau để vẽ nên đường xu thế của thị trường (Xem lại

ví dụ ở phần đầu về công ty cổ phần nhựa Đồng Nai)

Các phương pháp phân tích xu thế có tính chất trễ nghĩa là khi phát hiện ra dấu hiệu thị trường đang theo xu thế tăng hay giảm giá thì thực chất xu thế này đã xảy ra – vì vậy tên tiếng Anh của phương pháp này là Lagging Indicators với lagging có nghĩa là trễ

Phân tích xu thế không trực tiếp phát sinh các tín hiệu mua và bán cho các nhà đầu tư nhưng phân tích

xu thế xác nhận và bổ sung tính chất đúng đắn trong các quyết định mua và bán của nhà đầu tư Tuy nhiên Khi sử dụng phân tích xu thế cần chú ý khi thị trường biến động dập dềnh sẽ làm mất tác dụng của phân tích xu thế Chi tiết hơn về sử dụng phân tích xu thế sẽ được nên trong các phần sau

c Phối hợp sử dụng phân tích tương quan và phân tích xu thế

Phân tích tương quan cung cấp những tín hiệu cảnh báo sớm về tiềm năng của thị trường Những cảnh báo sớm này tỏ giúp cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa ra quyết định mua và bán phù hợp Phân tích

xu thế tuy không đưa ra được các tín hiệu nhanh chóng như phân tích tương quan nhưng phân tích xu thế là một công cụ xác thực tính đúng đắn của phân tích tương quan Phân tích tương quan chỉ có thể cảnh báo chính xác nhất nếu được kết hợp với phân tích xu thế, giảm thiểu các tín hiệu không chính xác, giảm rủi ro cho nhà đầu tư Chi tiết hơn về việc sử dụng phối hợp phân tích tương quan và phân tích xu thế sẽ được nêu trong các phần sau

7 Nghịch lý

Mong đợi của nhà đầu tư là có một phân tích nhạy cảm ánh xạ kịp thời các biến động của thị trường, đồng thời phải mô tả chính xác ý nghĩa của các biến động đó Tuy nhiên hai yếu tố nhạy cảm và chính xác không bao giờ song hành Nếu một phương pháp càng nhạy bén với các biến động của thị trường thì nó càng phản ánh thiếu chính xác trạng thái của thị trường Sử dụng phân tích kỹ thuật quá nhạy và thiếu chính xác, nhà đầu tư sẽ nhận được các kết luận sai lầm dẫn đến các quyết định sai lầm Ngược lại một phương pháp nếu muốn mô tả thị trường càng ít sai sót bao nhiêu thì nó càng phải ít nhạy với các biến động thị trường nghĩa là luôn đi sau sự biến động của thị trường Nếu sử dụng phân tích quá chính xác lại không nhạy cảm, nhà đầu tư sẽ chậm chân để mất cơ hội làm ăn vì kết luận chính xác được rút ra là quá muộn

Trang 9

Xét ví dụ về đường trung bình động Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre

Hình trên mô tả hai phân tích sử dụng trung bình động: đường màu tím (SMA – 5) là trung bình động trong 5 kỳ nhạy cảm với thị trường, đường màu đỏ (SMA – 20) là trung bình động trong 20 kỳ ít nhạy cảm hơn với thị trường

(1) Cho thấy SMA – 5 quá nhạy với xu thế của thị trường khi mô tả xu thế tăng của thị trường trong ngắn hạn, tuy nhiên xu thế đúng của thị trường lúc này là “dập dềnh” tăng nhẹ và SMA – 20 đã phản ánh chính xác

(2) Cho thấy SMA – 20 tuy đúng nhưng không kịp phản ánh xu thế tăng của thị trưởng: phải sau 12 phiên tăng giá liên tiếp SMA – 20 mới cho thấy xu thế tăng, trong khi SMA – 5 đã chỉ ra điều này từ phiên thứ tăng thứ 3 Lúc này nhà đầu tư đã để vượt mất quá nhiều cơ hội

8 Máy hiển thị giao động và phân tích tương quan

Do phân tích tương quan đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán chủ đạo, vì vậy cần nghiên cứu chi tiết hơn về phân tích tương quan với công cụ phổ biến của nó là máy hiển thị dao động

Máy hiển thị dao động là đồ thị các giá trị của một phân tích tương quan theo thời gian Mục này sẽ nêu các yếu tố phân tích sử dụng trong máy hiển thị dao động để phát hiện và củng cố các quyết định mua

và bán của nhà đầu tư

Trang 10

Các yếu tố phân tích sử dụng trong máy dao động

a Phân kỳ

Phân kỳ đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán hoặc giữ vai trò là một cảnh báo về sự thay đổi

xu thế Có 2 loại phân kỳ là phân kỳ dương và phân kỳ âm Phân kỳ dương là phân kỳ mà giá trị của phân tích tăng nhưng giá của chứng khoán đang có xu hướng giảm; phân kỳ dương báo hiệu về sự thay đổi xu hướng sắp tới của giá là tăng giá Phân kỳ âm là phân kỳ mà giá trị của phân tích giảm nhưng giá của chứng khoán tăng; phân kỳ âm báo hiệu về sự thay đổi xu thế sắp tới sẽ là giảm giá

Điều này không có nghĩa là tại thời điểm mà nhà đầu tư nhìn thấy chu kỳ dương hoặc chu kỳ âm thì xu thế giá sẽ thay đổi trong tương lai gần, rất khó xác định khi nào sự thay đổi xu thế sẽ xảy ra Vì vậy không thể ra quyết định mua hoặc bán chỉ dựa vào phân kỳ mà phải sử dụng với vai trò củng cố bổ trợ với các tín hiệu khác

b Siêu mua /Siêu bán

Siêu mua và siêu bán là hai ngưỡng giá trị của phân tích Mọi giá trị nằm trên ngưỡng siêu mua thì tại

đó nó thể hiện phe bò tót đang thắng thế áp đảo trên thị trường, giá CP tăng Mọi giá trị nằm dưới ngưỡng siêu bán là giá trị mà tại đó nó thể hiện phe gấu đang thắng thế áp đảo khiến giá CP giảm Phân tích việc xuyên phá các ngưỡng giá trị này nhằm chỉ ra khi giá CP đang biến động dập dềnh nhằm chỉ ra xu thế sắp tới của giá CP sẽ là tăng giá hay giảm giá Trong trường hợp giá CP biến động có xu

Trang 11

thế, sử dụng các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán thường hay cho tín hiệu không phù hợp nếu việc mua

và bán đi ngược lại xu thế của thị trường Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng các tín hiệu mua hoặc bán khi giá trị siêu mua hoặc siêu bán bị xuyên phá nhưng phải thuận theo xu thế chung thị trường mà không được đi ngược lại Cụ thể nếu có tín hiệu mua và biến động là tăng thì có thể mua, nếu có tín hiệu bán

và biến động là giảm thì có thể bán; xu thế càng mạnh mẽ thì tín hiệu càng đáng tin cậy Nếu đi ngược lại xu thế: mua khi đang biến động giảm hoặc bán khi biến động tăng thì nhiều khả năng các tín hiệu mua hoặc bán được sinh ra do sự xuyên phá các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán này không đáng tin cậy

c Đường trung bình

Đường trung bình là ngưỡng trung bình giá trị của phân tích Sự xuyên phá ngưỡng này báo hiệu sự đổi chiều phần thắng thuộc về phe bò tót hay gấu Nếu sự xuyên phá là vượt ngưỡng trung bình, thế trận đổi chiều nghiêng phần thắng về phe bò tót Ngược lại nếu sự xuyên phá là xuống dưới ngưỡng trung bình điều đó có nghĩa thế trận đổi chiều nghiêng phần thắng về phe gấu

9 Nhận biết các tín hiệu mua và bán

Để đưa ra các quyết định mua và bán hợp lý, cần có một số tín hiệu khác nhau bổ trợ lẫn nhau nhằm tăng cường độ chính xác của các tín hiệu và giảm thiểu rủi ro đối mới mỗi quyết định Các dấu hiệu sau được sử dụng để báo hiện việc mua hoặc bán:

• Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu mua rồi quay trở lại xuống dưới ngưỡng này, đồng thời xu thế giá là đi xuống hoặc biến động dập dềnh Điều đó cảnh báo thị trường sẽ chuyển sang xu thế giảm giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá Đây là tín hiệu bán ra

• Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu bán rồi quay trở lại lên trên ngưỡng này, đồng thời xu thế giá là đi lên hoặc biến động dập dềnh Điều đó cảnh báo thị trường sẽ chuyển sang xu thế tăng giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá Đây là tín hiệu mua vào

Trang 12

• Nếu xu thế giá đang tăng mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu mua có nghĩa là đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá và sẽ tiếp tục tăng Đây là tín hiệu mua vào

• Nếu xu thế giá đang giảm mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu bán có nghĩa là đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá và sẽ tiếp tục giảm, Đây là tín hiệu bán ra

• Nếu giá trị máy dao động đang ở dưới ngưỡng siêu bán nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì đó là tín hiệu mua vào Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc xu thế là tăng hoặc giảm nhẹ thì có thể mua, nếu thị trường ở trạng thai giảm mạnh thì tín hiệu này không đáng tin

• Nếu giá trị máy dao động đang ở trên ngưỡng siêu mua nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì đó là tín hiệu bán ra Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc

xu thế là giảm hoặc tăng nhẹ thì có thể bán, nếu thị trường ở trạng thái tăng mạnh thì tín hiệu này không đáng tin

• Nếu giá trị máy dao động tăng vượt qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân kỳ dương

và xu thế giá đi lên thì đó là tín hiệu mua vào

• Nếu giá trị máy dao động giảm xuống xuyên qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân

kỳ âm và xu thế giá đi xuống thì đó là tín hiệu bán ra

Xét ví dụ về sử dụng ngưỡng siêu mua và siêu bán của phân tích RSI đối với cổ phiếu Công ty Cổ phần Hàng Hải Hà Nội - MHC

Trang 13

• Thời điểm số (6) là thời điểm nên bán ra vì ngưỡng siêu bán đã bị xuyên phá trong xu thế biến động giảm giá mạnh của thị trường Việc bán ra ở thời điểm này nhằm mục đích giảm lỗ, chờ đợi sự hồi phục lại của thị trường để tiếp tục mua vào

Xét ví dụ về sử dụng ngưỡng trung bình của phân tích MACD đối với chứng chỉ quỹ VF1

Trang 14

10 Kết luận

Phân tích chứng khoán là một nghệ thuật hơn là một ngành khoa học chính xác Vì vậy cần phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đạt đến kết quả tốt nhất Thậm chí ngay trong cùng một phương pháp cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể Vì vậy cần phải trải qua rèn luyện kiến thức và thực hành để tự đào tạo bản thân đạt được sự nhạy bén và chính xác mà không một phương pháp nào có thể đạt được

Trang 15

Trung bình động và xu thế

1 Các phương pháp trung bình động

Trung bình bình động được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau Khuôn khổ bài viết này chỉ giới thiệu hai phương pháp tính trung bình động được sử dụng phổ biến

1.1 Trung bình đơn SMA

Trung bình đơn tại một phiên là lấy giá trị trung bình của phiên đó và các phiên trước

Gọi

• SMAt là giá trị trung bình động tại phiên t

• Pt là giá của CP tại phiên t

• EMAt là giá trị trung bình động hàm mũ tại phiên t

• Gọi Pt là giá CP tại phiên t

• n là số phiên tính trung bình động

Giá trị của trung bình hàm mũ tại phiên t là

EMAt = ((Pt – EMAt – 1) * M) + EMAt – 1 (Với hệ số M thường được lấy với giá trị = 2 / (1 + n))

Trang 16

Đường trung bình động giá CP của Công ty Cổ phần Hàng hải Hà Nội - MHC

2 Trung bình động và độ trễ

Cũng như phần lớn các mô hình kỹ thuật khác, trung bình động dựa vào thông tin trong quá khứ mà không tính toán đến các giá trị tương lai, vì vậy trung bình động chỉ thị xu thế tăng hoặc giảm trễ hơn sau khi sự kiện đã xảy ra Như vậy trung bình động không dự đoán trước tương lai mà chỉ là công cụ xác định xu thế hiện thời của thị trường

Việc điều chỉnh độ trễ sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác và tính nhạy đối với các biến động của thị trường Nếu độ trễ nhỏ, trung bình động rất nhạy với các biến động thị trường, phản ánh kịp thời các biến động này nhưng khả năng trung bình động phản ánh sai càng lớn Ngược lại đỗ trễ càng lớn, trung bình động càng ít nhạy và phản ánh muộn các biến động của thị trường nhưng sự phản ánh của trung bình động chính xác hơn so với độ trễ nhỏ Nếu sử dụng đỗ trễ nhỏ, nhà đầu tư có thể nhanh chóng nhận biết biến động của thị trường để kịp thời nắm bắt cơ hội nhưng có thể phải trả giá cho các dấu hiện sai lầm do khả năng sai là rất lớn Nếu sử dụng độ trễ lớn, nhà đầu tư có thể hạn chế khả năng sai xót nhưng lại chậm nắm bắt cơ hội đầu tư

3 Chọn số các phiên tính trung bình động

Trang 17

Số phiên tính trung bình động càng lớn thì các phân tích rút ra từ trung bình động càng thể hiện trong dài hạn, vì vậy lựa chọn số phiên tính trung bình động phụ thuộc vào chiến lược của các nhà đầu tư Các chuyên gia khuyên rằng số phiên tính trung bình động nên bằng ½ số phiên trong một chu kỳ “lướt sóng” mà nhà đầu tư dự định:

Số phiên tính trung bình động = Số phiên trong 1 chu kỳ lướt sóng / 2 + 1

• Nếu giá ở trên đường trung bình động, xu thế hiện tại của thị trường là đi lên, nếu giá ở dưới đường trung bình động, xu thế hiện tại là đi xuống Hãy cảnh giác với thị trường khi đang ở trạng thái dập dềnh Khoảng cách giữa giá và trung bình động càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng mạnh

Trang 18

• Nếu trung bình động ngắn hạn vượt lên trên trung bình động dài hạn hơn, xu thế của thị trường

là đi lên Nếu trung bình động ngắn hạn nằm dưới trung bình động dài hạn, xu thế của thị trường là đi xuống Nếu khoảng cách này càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng mạnh

• Nếu giá vượt qua ngưỡng Resistance trước báo hiện xu thế tăng giá, việc đường trung bình động xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế tăng của giá Nếu giá vượt xuống dưới ngưỡng Support trước báo hiệu xu thế giảm giá, việc đường trung bình động xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá

Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển công nghệ – FPT

Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA - 5 (màu tím) và trung bình động tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá Ví

dụ này minh hoạ về sử dụng trung bình động xác nhận xu thế biến động giá

• Đến thời điểm số (3), giá CP xuyên phá ngưỡng support, đến thời điểm số (4) sau đó đến lượt trung bình động SMA – 5 xuyên phá ngưỡng này, lúc này có thể khẳng định giá CP đã chuyển hướng sang biến động có xu thế với một xác suất chắc chắn hơn

Trang 19

Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh – REE

Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA - 5 (màu tím) và trung bình động tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá

• Trong giai đoạn trước tháng 11 năm 2006, biến động thị trường luôn ở trạng thái dập dềnh, việc

sử dụng phân tích xu thế trong giai đoạn này tiềm ẩn nhiều khả năng sai xót Xét về tính chính xác trong giai đoạn này SMA – 20 tỏ ra chính xác hơn, đường trung bình động không đi lên không đi xuống, SMA – 5 trong ngắn hạn vẫn có lúc lên hoặc xuống nhưng chỉ thể hiện xu thế trong giai đoạn rất ngắn

• Tại thời điểm số (1) các dấu hiện sau thể hiện xu thế tăng của giá:

• Các đường trung bình động của SMA – 5 và SMA – 20 đi lên

• Ngưỡng Resistance bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định xu thế tăng của giá

• Giá cao hơn giá trị trung bình động

• Giá trị trung bình động SMA – 5 vượt giá trị trung bình động SMA – 20

• Tại thời điểm số (2) các dấu hiện sau thể hiện xu thế giảm của giá:

• Các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 đi lên

Trang 20

• Ngưỡng Support bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và SMA –

20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá

• Giá đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động

• Giá trị trung bình động SMA – 5 đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động SMA – 20

• Tại cả 2 thời điểm số (1) và số (2): SMA – 5 thể hiện tính nhạy bén, nhanh chóng thể hiện và xác nhận xu thế tăng hoặc giảm của giá trước SMA – 20

Chỉ số mua bán tương đối

1 Tính toán RSI

RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một CP trong một thời kỳ xác định bằng cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó

Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI

Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng / n

Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiên giảm / n

Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức

RSI = 100 – 100 / (1 + RS) (1)

Trong đó RS = AIn / ADn là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động

Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP

Ngày Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng

18/05 76.000 2.000 2,70% 56.350

17/05 74.000 2.000 2,78% 36.190

16/05 72.000 -3.500 -4,64% 43.350

15/05 75.500 3.500 4,86% 30.550

Trang 21

14/05 72.000 3.000 4,35% 52.750

(Nguồn SSI)

Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên

AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100 Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên

và càng nhỏ thì phản hánh sức bán càng lớn hơn sức mua, giá cả đang xuống

RSI có hai ngưỡng siêu mua và siêu bán là 70 và 30, nếu giá trị của RSI lớn hơn 70 thị trường đang ở trạng thái siêu mua với sự áp đảo của phe mua, nếu RSI nhỏ hơn 30 thị trường đang ở ngưỡng siêu bán

và phe bán đang áp đảo

Số phiên (giá trị của n) sử dụng để tính trung bình giá các phiên tăng và giá các phiên giảm càng lớn thì RSI càng chính xác theo ý nghĩa của công thức là phản ánh tương quan sức tăng và sức giảm của giá Tác giả J Welles Wilder cho rằng nên lấy 14 phiên để tính RSI

Trang 22

3 Sử dụng RSI

Đồ thị của RSI là một máy dao động, chi tiết về sử dụng máy dao động trong phân tích chứng khoán đã được nên trong bài Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

Như mọi loại máy hiển thị dao động kác, phân tích RSI dựa vào 3 ngưỡng:

• Siêu mua: mọi giá trị RSI ≥ 70 được gọi là siêu mua

• Siêu bán: mọi giá trị RSI ≤ 30 được gọi là siêu bán

• Trung bình: Ngưỡng 50 được gọi là trung bình, RSI > 50 báo hiệu về sự thắng thế của phe mua, RSI < 50 báo hiệu sự thắng thế của phe bán

Chi tiết về các thông số của RSI và cách thức sử dụng RSI giống như mọi máy hiển thị dao động khác

đã được nêu trong Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

Trang 23

xu thế thị trường có sự chuyển mình sang giảm giá, nếu phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế thị trường có sự chuyển mình sang xu thế tăng giá

Với vai trò nhận định xu thế giả trên thị trường, đồ thị giá trị của Aroon có hai loại: Loại thứ nhất bao gồm 2 đồ thị biểu thị hai giá trị là Aroon up và Aroon down thể hiện sức mạnh tăng và giảm giá trên thị trường Loại thứ 2 biểu thị sự tương quan giữa sức tăng và sức giảm giá trên thị trường bằng cách lấy hiệu của Aroon up và Aroon down, đồ thị loại này có dạng một máy dao động

Xem trước Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

1 Cách tính Aroon

Giả sử cần tính giá trị Aroon up và Aroon down cho phiên hiện tại: gọi n là số phiên lấy dữ liệu để tính Aroon, tup là số phiên trước phiên hiện tại có giá cao nhất trong n phiên, tdown là số phiên trước phiên hiện tại có giá thấp nhất trong n phiên

Aroon up = 100 (n – tup) / n Aroon down = 100 (n – tdown) / n Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down

Ví dụ tính Aroon cho phiên hiện tại với dữ liệu lấy trong 14 phiên trước đó Trong 14 phiên này, phiên

có giá cao nhất xảy ra cách hiện tại 5 phiên, phiên có giá thấp nhất xảy ra cách phiên hiện tại 8 phiên

Aroon up = 100 (14 – 5) / 14 = 64,29 Aroon down = 100 (14 – 8) / 14 = 42,86 Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down

2 Sử dụng Aroon

Bằng cách dựa vào khoảng cách từ phiên hiện đến phiên có giá cao nhất hoặc thấp nhất Nếu giá cao nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại, Aroon up có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá cao nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon up sẽ giảm dần Nếu giá thấp nhất vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại thì Aroon down có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá thấp nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon down sẽ giảm dần

Trang 24

Nếu Aroon up có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế tăng giá đã mất nếu đang là xu thế tăng giá Nếu Aroon down có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế giảm giá đã không còn nếu đang là xu thế giảm giá Nếu Aroon up và Aroon down xấp xỉ nhau, tức là phiên có giá thấp nhất và phiên có giá cao nhất ở gần nhau, thị trường không đi theo xu hướng rõ rệt, xu thế nếu có cũng rất yếu

Để rõ ràng hơn, Aroon tương quan được sử dụng để xác định tương quan giữa Aroon up và Aroon down đại diện cho tương quan giữa xu thế tăng và xu thế giảm Aroon tương quan càng gần 0 thì biến động càng không có xu thế tăng hoặc giảm rõ ràng mà có dạng dập dềnh, Aroon tương quan lớn hơn 0

và càng lớn hơn bao hiêu thì xu thế tăng giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu, Aroon tương quan nhỏ hơn 0 và càng nhỏ hơn bao nhiêu thì xu thế giảm giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu

Xét ví dụ về Công ty Cổ phần Lương thực Thực phẩm Safoco (SAF)

• Tại vòng tròn số (1): Aroon tương quan rât lớn, xu thế giá là tăng và xu thế này rất mạnh

• Tại vòng tròn số (2): Aroon tương quan rât nhỏ, xu thế giá là giảm và xu thế này rất mạnh

• Tại vòng tròn số (3): Xu thế giá xấp xỉ 0, xu thế tăng và giảm không rõ ràng

Trang 25

Chỉ số MACD

Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn và trung bình động ngắn hạn

Chi tiết về phân tích tương quan xem: Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

Chi tiết về trung bình động xem: Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế

Xem trước

• Phân tích kỹ thuật (3): RSI - Chỉ số sức mua/bán tương đối

• Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế

• Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

1 Tính toán

Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên

Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD <

0 thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn

Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA – 9 của chính MACD Về MACD - Histogram sẽ được nêu trong một bài khác

2 Ý nghĩa

Trang 26

So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị

Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo Đường trung bình của MCAD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường

Ví dụ về MCAD giá cổ phiếu Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai - DNP

Trang 27

Khi sử dụng MACD cần chú ý các tín hiệu sau để phát lênh mua hoặc bán:

• Sự giao cắt giữa MCAD và đường trung bình động EMA của chính MACD: Nếu đường MACD

ở cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra để cắt lỗ Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính nó và đi lên trên đường này thì

đó là tín hiệu mua vào Sự giao cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khác chính xác Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì thường sự việc đã xảy

ra rồi Tuy không thể mua đáy bán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên giá hoặc giảm giá cũng là một món hời

• Sự giao cắt giữa MCAD và đường zero Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra Thông thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn với độ trễ lớn nhất là khi sử dụng MCAD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và

26 ngày Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh mua/bán

Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn

• Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh

• Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương

• Ngưỡng siêu mua/siêu bán

Khi phối hợp các tín hiệu trên với nau cần nhớ đến nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc

áp dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu

để ra quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác Quyết định chính xác nhất là không quyết định

Xét ví dụ sau về giá của chứng chỉ quỹ VF1:

Trang 28

• Trong giai đoạn cuối tháng 2 năm 2007, RSI đạt trên ngưỡng 50 và tiến dần đến ngưỡng siêu mua, phân kỳ dương xuất hiện và có sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó tại thời điểm số (1) là tín hiệu mua vào Từ lúc đó cho đến thời điểm số (2) (giao đoạn ngay trước và ngay sau tết), thị trường có dạng dập dềnh nhưng MACD luôn ở trên đường trung bình động EMA của chính nó vì vậy nhà đầu tư vẫn ôm chặt chứng chỉ quỹ của VF1 chờ thời

• Sang đầu tháng 3 giá của VF1 vẫn tăng tốt, ngưỡg siêu mua đã bị xuyên phá tại thời điểm số (2) Sang đến giữa tháng 3 tại thời điểm số (3), MACD đã giao cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này, các tín hiệu trên đồ thị RSI đã phá vỡ và đi xuống dưới ngưỡng siêu mua cùng với sự xuất hiện của phân kỳ dương khẳng định đã đến lúc cần phải rút lui khỏi thị truờng

• Vào giữa tháng 4, tại thời điểm số (4), lúc này RSI đã phá vỡ ngưỡng siêu bán và đi lên trên giá trị này, phân kỳ dương xuất hiện cho thấy sự khởi sắc của thị trường sự giao cắt giữa MACD

và EMA của chính nó báo hiệu tín hiệu mua vào Tuy nhiên sự giao cắt này không đảm bảo một

sự chắc chắn cho những sự kiện bất ngờ xảy ra sau đó đối việc phát hành của chứng chỉ quỹ VF1 đã đẩy giá của VF1 tụt dốc

Hãy chú ý đến các thời điểm RSI xuyên phá các ngưỡng siêu mua, siêu bán và sự giao cắt của MACD

Trang 29

và các đường trung bình động EMA của chính nó xảy ra sau đó trên đồ thị giá của cổ phiếu của công ty

Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột Nếu MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên Nếu MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD –

Histogram âm và biểu đồ cột quay xuống dưới

Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về đồ thị MACD – Histogram dưới dạng các cột màu xanh Khi MACD – Histogram bằng 0 là lúc có sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó

Trang 30

Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự xuất hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và trung bình động của chính nó

3 Sử dụng

Nếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính nó và sẽ thấp hơn trung bình động Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định bán

Trang 31

Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắt của MACD và đường trung bình động EMA của chính nó và cao hơn trung bình động Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua

Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổ trợ với các phép phân tích khác

Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD nhưng tính chính xác lại kém hơn Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán khác thì sẽ kém an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần bao bì Bình Dương – HBD

• Tại khoảng thời gian số 1, có rất nhiều tín hiệu xuất hiện lần lượt tại các thời điểm khác nhau:

sự giao cắt của giá và đường trung bình động SMA – 5, giá rót rất mạnh sau khi giao cắt đường này, RSI cắt ngưỡng siêu mua và đi xuống dưới, sự xuất hiện của phân kỳ âm trên MACD – Histogram và sự giao cắt của MACD với đường trung bình động của nó Tín hiệu cuối cùng về

Trang 32

sự giao cắt của MACD với đường trung bình động của nó là phát pháo lệnh chắc chắn nhất đòi hỏi nhà đầu tư phải rút lui gấp nếu không muốn bị thua lỗ thêm mặc dù lúc đó giá có tăng trong ngắn hạn một vài phiên Ví dụ này cho thấy việc sớm dự báo giảm giá giúp nhà đầu tư sớm thoát khỏi thị trường hơn là chờ đợi phát pháo lệnh cuối cùng

• Tại khoảng thời gian số (2), có nhiều tín hiệu báo hiệu về sự tăng giá mạnh: Giá giao cắt trung bình động SMA – 5 và vượt lên rất mạnh so với trung bình động, sự xuất hiện của phân kỳ dương trên MACD - Histogram, RSI vượt lên ngưỡng siêu bán Tuy nhiên phát pháo lệnh cuối cùng và chắc chắn nhất là sự giao cắt của MACD và trung bình động của nó đã không xảy ra và giá đã không thực sự tăng mạnh và nhanh chóng giảm Ví dụ này điểm hình cho tính chất sớm nắm bắt thời cơ mang lại nhiều lợi nhuận hơn nhưng khả năng chính xác kém hơn

• Tại khoảng thời gian số (3), nhiều dấu hiệu về sự tăng giá xuất hiện: phân kỳ dương xuất hiện đồng thời trên RSI và MACD – histogram, RSI vượt lên trên ngưỡng siêu bán Những tín hiệu này xảy ra trước phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó Tuy nhiên cũng cần cảnh giác với biến động dập dềnh của giá trong giai đoạn này

• Tại khoảng thời gian số (4): sự xuất hiện của phân kỳ âm, ngưỡng siêu mua trên RSI không còn

và sự giao cắt và rớt mạnh của giá so trung bình động thúc giục sự rút lui của nhà đầu tư Lúc này chưa có phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt MACD và trung bình động của chính nó, giá đã có sự tăng trở lại Giá sắp tới sẽ như thế nào? Cần phải chờ đợi những tín hiệu chắc chắn hơn hay phải rút lui cho kịp thời?

Chuyên đề khối lượng

1 Giới thiệu chung

Như đã biết, giá cả trên thị trường được quyết định bằng cuộc đấu giữa cung và cầu theo nguyên tắc thuận mua và bán Sự thuận mua vừa bán này được phản ánh không chỉ qua mức giá cân đối cung cầu

mà qua cả khối lượng khớp thành công giữa hai bên: nói cách khác bán phải có người mua Mua mà không có người bán hoặc bán không có người mua là những trạng thái cần phải chú ý trên thị trường, phản ánh mức cung cầu mất cân đối nghiêm trọng Hãy xem xét các tình huống sau đây:

• Không ai mua mà cũng chẳng ai bán: đây là trường hợp thị trường đóng băng, hai phe mua bán lừng chừng thăm dò, hàng hóa không được giao dịch hoặc giao dịch với số lượng rất ít trên thị trường

Ngày đăng: 29/07/2014, 20:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị của RSI là một máy dao động, chi tiết về sử dụng máy dao động trong phân tích chứng khoán đã  được nên trong bài Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan - CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf
th ị của RSI là một máy dao động, chi tiết về sử dụng máy dao động trong phân tích chứng khoán đã được nên trong bài Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan (Trang 22)
Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột. Nếu  MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột  quay lên trên - CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf
th ị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột. Nếu MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên (Trang 29)
Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự  xuất hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và  trung bình động của chính nó - CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf
Hình d ưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự xuất hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và trung bình động của chính nó (Trang 30)
Đồ thị BT6 cho thấy có 2 đợt sóng dạng Elliot từ tháng 01/2007 đến đầu tháng 03/2007 và giữa tháng  04/2007 đến giữa tháng 06/2007 - CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf
th ị BT6 cho thấy có 2 đợt sóng dạng Elliot từ tháng 01/2007 đến đầu tháng 03/2007 và giữa tháng 04/2007 đến giữa tháng 06/2007 (Trang 56)
•  Tại thời điểm số 2, hình mẫu chiếc cốc tay cẩm được hình thành với phần đáy rộng hơn chiếc  cốc ở thời điểm 1 và phần tay cầm rất hẹp, phần đáy của tay cầm có số lượng giao dịch lớn và  phần miệng cốc bị xuyên phá tại thời điểm số 2 với khối lượng giao - CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT_Sưu tầm pdf
i thời điểm số 2, hình mẫu chiếc cốc tay cẩm được hình thành với phần đáy rộng hơn chiếc cốc ở thời điểm 1 và phần tay cầm rất hẹp, phần đáy của tay cầm có số lượng giao dịch lớn và phần miệng cốc bị xuyên phá tại thời điểm số 2 với khối lượng giao (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w